19.8.15

Công an tư tưởng kinh tế ở đại học

Jean Tirole (1953-)
PTKT: Từ hôm nay, chúng tôi lần lượt đăng nhiều bài trong hồ sơ “Ban “Thể chế, kinh tế, lãnh thổ và xã hội” và Jean Tirole”. Vượt lên trên tính đặc thù trong tổ chức tập quyền của đại học Pháp, vụ việc này liên quan đến vấn đề tính đa nguyên trong kinh tế học trên thế giới mà PTKT đã đề cập trong nhiều bài khác (xem các bài có liên quan ở cuối trang).
Sự thống trị của các nhà chính thống khiến cuộc tranh luận công cộng trở thành nghèo nàn.

Công an tư tưởng kinh tế ở đại học

Cội rễ của việc tự giam hãm mình trong ý thức hệ của các nhà lãnh đạo châu Âu nằm trong cuộc chiến, không chỉ diễn ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng, vì sự bá quyền tri thức. Hơn bao giờ hết, học thuyết kinh tế tân cổ điển thống trị ở đại học, bất chấp những bế tắc và thất bại của các chính sách lấy cảm hứng từ học thuyết này. Những người cổ xúy học thuyết trên, trong số đó Jean Tirole giữ vai trò đầu tàu, ngăn cản mọi quyết tâm đa nguyên.
Print Friendly and PDF

17.8.15

Tại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế



Tại sao kinh tế học cần đến lịch sử kinh tế

Cái đẹp của internet là cho phép bạn thỉnh thoảng lướt qua các bài viết như bài viết này mà bạn có thể bỏ lỡ (H/T Greg Mankiw). Như các bạn mong đợi, tôi đồng ý với Temin rằng lịch sử kinh tế đóng một vai trò cơ bản trong giáo dục kinh tế, và MIT là một ví dụ điển hình. Để lặp lại một điểm mà tôi đã viết trước đây trên blog, nhiều siêu sao từng tốt nghiệp từ trường này có một sự nhạy cảm lịch sử đã làm cho họ trở thành những nhà kinh tế giỏi hơn. Obstfeld và Rogoff nổi tiếng với công trình đột phá của họ về kinh tế học vĩ mô mở, nhưng cả hai đều đã viết nhiều cuốn sách quan trọng về lịch sử kinh tế (Obstfeld cùng với Taylor, và Rogoff cùng với Reinhart), và tôi không nghĩ đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng phong cách của Obstfeld-Rogoff trong kinh tế học vĩ mô mở có xu hướng dựa nhiều hơn vào thế giới thực so với một số tương đương trong kinh tế học đóng. Paul Krugman thường xuyên cho thấy một sự quan tâm và kiến ​​thức về lịch sử, mà ông ứng dụng một cách hiệu quả; thậm chí đừng để tôi bắt đầu nói về Ron Findlay, v.v.
Print Friendly and PDF

15.8.15

Thông tin và hiểu biết

Thông tin và hiểu biết

Information and knowledge
® Giải Nobel: ARROW, 1972 HARSANYI, 1994 LUCAS, 1995 SIMON, 1978
Các nhà kinh tế thường đồng ý để xem giả thiết về tính duy lí cá thể như là điểm mấu chốt của lí thuyết kinh tế vi mô trong nghĩa là giả thiết này rõ ràng nằm ở trung tâm của lí thuyết ra quyết định cũng như của lí thuyết trò chơi, những bộ môn thuần tuý, nằm ở đầu nguồn của hầu hết những đóng góp hiện đại cho lí thuyết những hành vi kinh tế, một lí thuyết làm chỗ dựa cho kinh tế học công nghiệp, cũng như cho kinh tế học vĩ mô mới, cho kinh tế học tài chính lí thuyết cũng như cho phân tích các tổ chức.
Việc thể hiện tính duy lí của một tác nhân dựa trên hai thuộc tính tâm lí, tức là những sở thích và tin tưởng của tác nhân này. Những sở thích trước tiên được nắm bắt bằng cách phát hiện: chúng được Borda khám phá năm 1781 độc lập với các tin tưởng hay được Bernoulli khám phá năm 1738 đồng thời với các tin tưởng. Phải đợi đến von Neumann và Morgenstern (1944) để trang bị cho hai thuộc tính này một cơ sở tiên đề (với những tin tưởng nhất định), trong lúc các tin tưởng đã được de Finetti tiên đề hoá năm 1937. Cuối cùng, Savage (1954) tổng hợp thành một hệ thống tiên đề cho phép đặt cơ sở đồng thời cho cả hai chiều kích.
Print Friendly and PDF

13.8.15

Kinh tế học được dùng vào việc gì?


Alan Kirman (1939-)

Kinh tế học được dùng vào việc gì?

Cuộc khủng hoảng kinh tế đã đưa những bất cập của kinh tế học vĩ mô thành một sự kiện khắc nghiệt. Chuyên mục này cho rằng quan niệm hẹp về kinh tế học vĩ mô như là một hệ thống cân bằng là có vấn đề. Các nhà kinh tế nên từ bỏ các lý thuyết cố hữu và hiểu kinh tế học vĩ mô như là một môn học tự tổ chức. Tôi đề xuất một số gợi ý chi tiết về những ý tưởng thay thế, phản ánh tốt hơn bằng chứng thực nghiệm, để các nhà kinh tế có thể giảng dạy cho sinh viên sau này.
Câu hỏi đơn giản được nêu lên trong một hội thảo gần đây do Diane Coyle tổ chức tại Ngân hàng [trung ương -ND] Anh là công tác giảng dạy kinh tế học đã - hoặc nên - được sửa đổi đến mức nào dưới ánh sáng của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay? Câu trả lời đơn giản là ngành kinh tế học không chắc sẽ thay đổi. Tại sao các nhà kinh tế sẵn sàng từ bỏ phần lớn vốn con người của họ, khó khăn lắm mới tồn tại được trong hơn hai thế kỷ qua? Đối với các nhà kinh tế học vĩ mô nói riêng, họ được gợi ý rằng việc điều chỉnh các mô hình hiện hữu phải xem xét đến những “ma sát” hoặc “sự không hoàn hảo” là đủ để giải thích sự diễn tiến hiện tại của nền kinh tế thế giới. Ý tưởng là một khi sinh viên hiểu được những vấn đề cơ bản, thì có thể giới thiệu cho họ các điều chỉnh trên.
Print Friendly and PDF

11.8.15

Thế lưỡng nan của người tù

Thế lưỡng nan của người tù

Prisoners dilemma
® Giải Nobel: NASH, 1994
Trò chơi đối xứng với hai đấu thủ và tổng không, được biết dưới tên thế lưỡng nan của người tù do A. W. Tucker đề xuất. Lúc đầu được biết đến như một phương thức biểu trưng một xung đột tượng trưng giữa răn đe và tin tưởng, trò chơi này cuối cùng được dùng để làm rõ tính không tương thích có thể của cân bằng theo nghĩa của Nash với tính tối ưu Pareto. Xét hai người tù, AB, từng phạm tội chung. Điều tra viên phụ trách vụ án không đủ yếu tố khách quan để truy tố họ tức thì khiến người này thiết kế một thủ tục đủ sức thuyết phục để hai người tù thú tội. Trước tiên, hai nghi can bị giam riêng nhằm tránh mọi liên lạc và như thế tránh mọi sự thông đồng giữa hai người. Tiếp đó, điều tra viên quyết định lần lượt thẩm vấn họ, trình bày chi tiết của mỗi hậu quả đặc thù (tính bằng năm tù giam) của hai chiến lược có thể (tự thú và tố cáo người kia hay không tự thú) trong mỗi trạng thái có thể do chiến lược của người tù kia xác định (người tù này tố cáo hay không). Tóm tắt thủ tục này tương ứng với ma trận sau (những con số in đậm in nghiêng là bản án, theo thứ tự của A và của B):
Print Friendly and PDF

9.8.15

Một cuộc đàm luận với Amartya Sen

Amartya Sen (1933-)

Một cuộc đàm luận với Amartya Sen

Lý do ban đầu khiến tôi thực hiện các cuộc đàm luận với các kinh tế gia là nhằm đối chiếu cách hiểu của bản thân về công việc của họ (Klamer, 1983). Tuy nhiên, các cuộc đàm luận hóa ra đã tác động đến cách hiểu đó của tôi. Có vẻ như kinh tế học không những hữu ích và thách thức, mà còn khá thú vị. Đáng lẽ ra tôi phải dự đoán trước được điều này. Rốt cuộc, còn lý do nào khác khiến các kinh tế gia thường làm gián đoạn việc đọc những bài viết của nhau và tụ tập trong phòng làm việc, quán cà phê và phòng hội thảo để thảo luận về những điều họ đang trăn trở, ngoại trừ lý do họ có được lợi ích từ những cuộc thảo luận không chính thức này? Các cuộc đàm luận dường như hé lộ các chiều kích của diễn ngôn mà phần nào thiếu vắng trong kinh văn. Do vậy, tôi đã tìm ra một lý do hay hơn khiến tôi thực hiện các cuộc đàm luận với các kinh tế gia; ấy là, tìm hiểu ngụ ý của văn bản đằng sau nguyên bản viết.
Vào tháng 12/1985, tôi đã quyết định tận dụng cơ hội lưu lại Oxford và đàm luận cùng Amartya Sen, người thực hiện xuất sắc nhiều vai trò khác nhau như một triết gia trong số các kinh tế gia, một người tiên phong trong lý thuyết lựa chọn xã hội, một nhà phê bình đối với các giả định cơ bản trong lý thuyết phúc lợi và lựa chọn tân cổ điển, một kinh tế gia đã có nhiều đóng góp đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về nạn đói và tình trạng nghèo khổ, một chuyên gia thống kê phát minh ra các phương pháp lượng hóa tình trạng nghèo khổ. Ông đã đảm nhiệm vai trò Chủ Tịch Hội Kinh Trắc và hiện là Chủ Tịch Hiệp Hội Quốc Tế Về Kinh Tế Học.
Print Friendly and PDF

7.8.15

Michio Morishima, Khổng Tử, Marx và thuyết tăng trưởng



Michio Morishima (1923-2004)
Michio Morishima, Khổng Tử, Marx và thuyết tăng trưởng
Là nhà kinh tế toán học, Michio Morishima đã đóng góp cho lý thuyết tăng trưởng bằng một phân tích trạng thái động. Nghiên cứu tổng hợp độc đáo của ông dung hòa tư tưởng của Marx và của Walras, được xem cho đến lúc đó là mang tính đối kháng.
Michio Morishima phê phán lý thuyết kinh tế hiện đại đã tự thu mình thành một bộ xương toán học.
Michio Morishima đã có những đóng góp lớn cho ngành kinh tế toán học, nhưng ông không chỉ giới hạn mối quan tâm của mình vào lĩnh vực duy nhất này. Vả chăng, ông phê phán lý thuyết kinh tế hiện đại đã tự thu mình thành một bộ xương toán học. Ông quan tâm đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác, như xã hội học, sử học, triết học, lịch sử văn hóa và lịch sử các tôn giáo. Tất cả những chiều kích đó của kiến ​​thức con người dường như đều cần thiết để hiểu được bản chất và sự phát triển của các nền kinh tế, "Vì vậy, để hiểu được lý thuyết kinh tế, thì việc quen thuộc với khung toán học của lý thuyết là chưa đủ, mà còn cần phải có một sự hiểu biết sâu sắc về các nền tảng xã hội, lịch sử và thể chế của lý thuyết đó" (The Economics of Industrial Society, 1984, trang 9).
Print Friendly and PDF

5.8.15

Giới thiệu cuộc tranh luận "Kinh tế học được dùng vào việc gì?"


Giới thiệu cuộc tranh luận "Kinh tế học được dùng vào việc gì?"

Năm năm sau sự sụp đổ của công ti tài chính toàn cầu Lehman, kinh tế học đang bị chỉ trích cả từ bên ngoài lẫn bên trong giới kinh tế về tính không xác đáng, ngạo mạn và nhiều điều khác nữa. Chuyên mục này giới thiệu một cuộc tranh luận mới của Vox tập trung vào hai câu hỏi: Kinh tế học được sử dụng vào mục đích gì, và giảng dạy kinh tế học như thế nào cho thế hệ kế tiếp?
Nếu kinh tế học nổi lên từ cuộc khủng hoảng toàn cầu không thay đổi, thì nó sẽ mất mọi sự tín nhiệm. Đó chắc chắn không phải là quan điểm của tất cả các nhà kinh tế, nhưng có nhiều người nghĩ như vậy. Có rất nhiều ví dụ phê phán về chủ đề của chúng ta từ bên trong lẫn bên ngoài. Một số phê phán mang tính cường điệu thiếu thông tin, nhưng một số khác – chẳng hạn như bài viết gần đây “Economics in Denial (Khi kinh tế học bị phủ nhận)” của Howard Davies (2012), Chủ tịch sáng lập Cơ quan Dịch vụ Tài chính (cơ quan điều tiết mọi nhà cung cấp dịch vụ tài chánh của Vương quốc Anh – ND) – phải được xem xét nghiêm túc.
Print Friendly and PDF

3.8.15

Maurice H. Dobb, một người marxist được giới học thuật đánh giá cao



Maurice Dobb (1900-1976)

Maurice H. Dobb, một người marxist được giới học thuật đánh giá cao

Là sử gia về tư tưởng kinh tế, đảng viên Đảng Cộng sản Anh từ năm 1922 cho đến khi qua đời, Maurice Dobb là nhà kinh tế marxist duy nhất được chấp nhận và kính trọng trong giới học thuật Anh.
Maurice Dobb là "một trong những nhà kinh tế chính trị lỗi lạc nhất của thế kỷ", theo Amartya Sen.
Maurice Dobb, vào thế kỷ XX, có một vị trí đặc biệt trong giới kinh tế học ở Anh. Là người marxist, đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1922 cho đến khi qua đời, ông chắc chắn là nhà kinh tế marxist duy nhất được chấp nhận và kính trọng trong giới học thuật Anh, cho dù vua George V bày tỏ sự quan ngại về sự hiện diện của một người Bolshevik tại một trường đại học có khả năng đón nhận các thành viên của hoàng gia. Việc tích cực tham gia hoạt động cách mạng khiến ông bị một số người nghi ngờ là làm công tác tuyển dụng cho các cơ quan mật vụ Xô viết, ông duy trì các mối quan hệ thân mật nhất với những đồng nghiệp thuộc mọi xu hướng, có thể là những người theo phái tự do vô điều kiện, phái Keynes hoặc đảng viên đảng lao động. Keynes, trong số những nhà kinh tế khác, quý mến ông và thậm chí thỉnh thoảng bảo vệ ông.
Print Friendly and PDF

1.8.15

Xã hội học có phải là một khoa học không?

Xã hội học có phải là một khoa học không?

Xã hội học hoàn toàn là một khoa học, nhưng là một khoa học khó. Trái ngược với các khoa học được xem là cứng (thuần túy), xã hội học thật sự tiêu biểu cho khoa học bị nghi ngờ không phải là một khoa học. Có một lý do cho sự việc này: xã hội học làm cho người ta sợ. Chính vì nó vạch trần những điều bị che dấu, thậm chí bị dồn nén.
La Recherche: Chúng ta hãy bắt đầu với những câu hỏi hiển nhiên nhất: khoa học xã hội, và đặc biệt xã hội học, có thật sự là những khoa học không? Tại sao ông lại cảm thấy cần phải khẳng định tính khoa học?
Pierre Bourdieu: Tôi nghĩ xã hội học có đầy đủ những đặc tính của một khoa học. Nhưng ở mức độ nào? Câu trả lời có thể có tùy thuộc rất nhiều vào các nhà xã hội học. Tôi chỉ xin nói rằng có nhiều người tự cho mình hay nghĩ rằng mình là nhà xã hội học, nhưng riêng tôi rất khó công nhận điều này, và đây cũng là trường hợp ở tất cả các khoa học, ở những mức độ khác nhau. Dù sao thì xã hội học cũng đã thoát khỏi thời tiền sử từ lâu rồi, thời của những chủ thuyết triết lý xã hội mà những người ngoại đạo thường hay đồng nhất hóa với nó. Toàn thể các nhà nghiên cứu xứng đáng được gọi là nhà xã hội học đều nhất trí về một vốn chung đã được xây dựng bao gồm những khái niệm, những phương pháp, những thủ tục kiểm tra. Tuy nhiên, vì nhiều lý do xã hội học rõ ràng, và đặc biệt vì xã hội học thường đảm nhiệm vai trò của một môn để trú ẩn, nó là một môn học rất bị phân tán theo nghĩa thống kê của từ này và trên nhiều phương diện khác nhau. Chính điều này giải thích vì sao ta có cảm tưởng xã hội học là một môn học bị chia rẽ, gần với triết học hơn các khoa học khác. Nhưng vấn đề không nằm ở đó: nếu người ta tỉ mẩn như thể về tính khoa học của xã hội học là vì nó quấy rầy.
Print Friendly and PDF