8.12.20

Đồng nhân dân tệ đang kín đáo tự xây dựng một cương vị ngoại tệ quốc tế

 ĐỒNG TIỀN TRUNG QUỐC ĐANG KÍN ĐÁO TỰ XÂY DỰNG MỘT CƯƠNG VỊ NGOẠI TỆ QUỐC TẾ

Delphine Lahet

Ngày 3 tháng 12 năm 2020

Ngày nay có khoảng 37 ngân hàng trung ương đang nắm giữ một phần đồng Nhân dân tệ trong kho dự trữ ngoại hối của mình. EamesBot/Shutterstock

Trong báo cáo được công bố vào ngày 17 tháng 11 năm 2020 về các loại tiền tệ do các ngân hàng trung ương nắm giữ trong kho dự trữ ngoại hối của họ, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cho biết cơ cấu các khoản dự trữ này thay đổi rất ít trong hơn 60 năm qua: đồng đô la vẫn chiếm ưu thế với mức 61% vào cuối năm 2019, tiếp theo là đồng euro (21%). Tuy nhiên, trong số các xu hướng đang nổi lên, người ta ghi nhận đồng tiền Trung Quốc, đồng Nhân dân tệ (RMB), bước đầu tạo ra một bước đột phá với 2% dự trữ ngoại hối toàn cầu từ nay được tính bằng đồng RMB, so với mức 1,1% vào những năm 2014-15.

Theo một số tác giả, sự trỗi dậy mạnh mẽ này sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới. Do đó, tỷ trọng của đồng tiền Trung Quốc có thể đạt từ 3 đến 12% các khoản dự trữ vào năm 2035 nếu tỷ trọng của Trung Quốc trong GDP thế giới vượt quá 25% (vào năm 2019, tỷ trọng của Trung Quốc trong GDP thế giới là 17,4% và của Hoa Kỳ là 15,9%).

Print Friendly and PDF

Trung Quốc phải xem xét cắt giảm tài trợ các “Con đường tơ lụa mới”

 TRUNG QUỐC PHẢI XEM XÉT CẮT GIẢM TÀI TRỢ CÁC CON ĐƯỜNG TƠ LỤA MỚI”

Pierre-Antoine Donnet

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), ngày 20 tháng 11 năm 2020 (Nguồn: Indian Express)

Nguồn tài trợ của thiên triều bị chậm lại bởi bẫy nợ”. Tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức vào ngày 20 tháng 11 vừa qua dưới hình thức hội nghị trực tuyến, Tập Cận Bình đã đảm bảo theo đuổi dự án đồ sộ về các Con đường tơ lụa mới”. Tuy nhiên, Chủ tịch Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng chính sách cho các đối tác của BRI (Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường) vay vn t nay phi tuân th nhng chun mc kht khe hơn.

Trung Quốc sẽ củng cố sự điều hòa các chính sách, quy định và chuẩn mực của mình với các đối tác [của BRI] và cùng với họ sẽ tăng cường hợp tác về cơ sở hạ tầng, công nghiệp, thương mại, đổi mới công nghệ, y tế cộng đồng và giao lưu với các dân tộc,” theo lời giải thích của nhân vật số một Trung Quốc trong bài phát biểu trước các đại diện của 21 nước thành viên APEC.

Lời phát biểu đó, tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, có thể được diễn dịch trong thực tế, như một sự chuyển hướng. Sau nhiều năm tài trợ không giới hạn cho vô số dự án được ký kết trong khuôn khổ của BRI, vốn được phát động vào năm 2013, Trung Quốc đã đi đến thời khắc của sự thật: đã có rất nhiều quốc gia rơi vào tình trạng mất khả năng trả nợ, trong khi nợ nần của Trung Quốc đã đạt đến đỉnh mà từ nay được coi là đáng báo động.

Print Friendly and PDF

6.12.20

Giai tầng xã hội dựa trên thu nhập ở Việt Nam

 GIAI TẦNG XÃ HỘI DỰA TRÊN THU NHẬP Ở VIỆT NAM, 1998-2018

Bùi Thế Cường[*]

Trương Sĩ Ánh[**]

Bùi Thế Cường
Trương Sĩ Ánh
Tóm tắt: Dựa trên số liệu khảo sát mức sống dân cư Tổng cục Thống kê thực hiện trong hai thập niên qua, bài viết phân tích cơ cấu giai tầng xã hội dựa trên thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 1998-2018. Hệ số chênh lệch thu nhập giữa các giai tầng xã hội ngày càng tăng trong giai đoạn này. Mức chênh lệch đặc biệt rõ ở tầng lớp trung lưu trên và giai tầng trên. Mức chênh lệch thay đổi chậm trong thập niên 2000, nhưng nhanh hơn trong thập niên 2010. Có tiến hóa đáng kể về hình dạng phân tầng hai thập niên qua. Năm 1998 cơ cấu giai tầng còn ở dạng tháp, nhưng 2018 trở nên dạng thoi. Cơ cấu giai tầng ở nông thôn tiến hóa chậm hơn khoảng mười năm, nhưng trong thập niên 2010 đã chuyển biến mang tính bước ngoặt.

Từ khóa: cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, giai tầng xã hội, giai cấp xã hội, Việt Nam, khảo sát mức sống dân cư.

Print Friendly and PDF

4.12.20

Phán đoán giá trị trong lịch sử khoa học (G. Bachelard, 1951)

Từ khóa: Khoa học - Lịch sử; Phán đoán giá trị; Bachelard, Gaston - Trích đoạn

NGHĨA VỤ ĐÁNH GIÁ, ĐẶC TRƯNG CỦA LỊCH SỬ KHOA HỌC (1951)

Tác giả: Gaston Bachelard*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Hãy trở lại vấn đề cụ thể của chúng ta là làm nổi bật lên tính tích cực hầu như tuyệt đối của tiến bộ khoa học.

Tính tích cực tuyệt đối của tiến bộ khoa học này sẽ hiển hiện như điều không thể nào phủ nhận được, nếu chúng ta xem xét lịch sử của một khoa học gương mẫu: lịch sử toán học. Ở đây, rõ ràng là chúng ta không thể mô tả một sự suy đồi nào, bởi vì một giảm sút trong tính chặt chẽ của những chân lý [toán học] sẽ là một lầm lỗi tức thì. Nếu lịch sử toán học thuật lại những lỗi lầm có thể xảy ra sau khi chân lý toán học đã được phát hiện, thì đây sẽ là lịch sử của những học sinh dốt trong khoa toán học, chứ không phải là lịch sử của các nhà toán học thực thụ nữa. Một lịch sử như thế sẽ rời bỏ dòng chảy của lịch sử tích cực. [...] Như vậy, hãy xem như điều đã được xác minh là, nhìn toàn bộ, lịch sử khoa học được đặt trước một sự tăng trưởng tuyệt đối. Hoặc nó thuật lại sự tăng trưởng đó, hoặc nó không có gì để nói cả. Tình huống đặc biệt này sẽ áp đặt lên sử gia khoa học nhiều bó buộc đặc biệt. [...]

Trong thực tế, đối lập hoàn toàn với các quy định khuyến nghị sử gia không được đánh giá[1], ngược lại, ở đây ta phải đòi hỏi sử gia khoa học đưa ra những phán đoán giá trị. [...] Chí ít, lịch sử các khoa học là một mớ những đánh giá ngầm về giá trị của những tư tưởng và khám phá khoa học. Sử gia khoa học nào giải thích rõ ràng giá trị của mọi tư duy mới, ông ta sẽ giúp chúng ta thực sự hiểu lịch sử các khoa học. Nói tóm lại, về cơ bản, lịch sử các khoa học là một lịch sử được đánh giá, đánh giá trong chi tiết những khung và nền của nó, với một ý thức được tinh chỉnh không ngừng về các giá trị chân lý. Lịch sử các khoa học không thể đơn giản là một lịch sử được ghi lại. Đương nhiên, những biên bản trong các Viện Hàn Lâm đã chứa đầy tài liệu để viết lịch sử các khoa học. Nhưng những biên bản này không thực sự tạo thành một lịch sử khoa học. Nên lịch sử các khoa học phải đến, để vạch ra những tuyến đường của sự tiến bộ. [...]

Print Friendly and PDF

3.12.20

Xây dựng lại trong một thế giới hậu Covid-19: từ đây chúng ta đi đâu?

XÂY DỰNG LẠI TRONG MỘT THẾ GIỚI HẬU COVID-19: TỪ ĐÂY CHÚNG TA ĐI ĐÂU?

Tác giả Tammy Gan


Bốn thập kỷ trước, nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ Milton Friedman cho biết: “Chỉ có một cuộc khủng hoảng, trên thực tế hoặc được nhận thức, mới tạo ra thay đổi thực sự. Khi cuộc khủng hoảng đó xảy ra, các hành động được thực hiện phụ thuộc vào những ý tưởng đang có sẵn ở xung quanh.”

Những cuộc khủng hoảng định hình lịch sử. Đó là lý do tại sao một số người tin rằng đại dịch toàn cầu là cơ hội duy nhất trong một thế hệ của chúng ta để tái tạo xã hội và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Chúng ta cần kịp thời nắm bắt thời điểm này để hành động. Bởi vì nếu chúng ta không làm như vậy, những người không muốn có một thế giới tốt đẹp hơn, mà chúng ta đang hướng tới, sẽ nắm quyền từ chúng ta — trên thực tế, họ đang làm như vậy. Nhưng đừng hoảng sợ ngay lúc này. Có một tin tốt: những ý tưởng có thể thay đổi thế giới để nó tốt đẹp hơn đang có sẵn quanh đây. Những người muốn thay đổi thế giới tốt đẹp hơn cũng đang ở đây. Bây giờ, chúng ta chỉ cần liên kết mọi thứ với nhau.

Print Friendly and PDF

30.11.20

Tranh luận: Thách thức “sản xuất cái chính trị” cho các khoa học nhân văn và xã hội trong thời điểm khủng hoảng y tế

TRANH LUẬN: THÁCH THỨC “SẢN XUẤT CÁI CHÍNH TRỊ” CHO KHOA HỌC NHÂN VĂN VÀ XÃ HỘI TRONG THỜI ĐIỂM KHỦNG HOẢNG Y TẾ

Pierre Guibentif[1] Maryse Bresson[2]

Kiểm tra các biện pháp an toàn ở Paris. Thomas Coex/AFP

Gần đây, một câu hỏi ám ảnh nghiên cứu trong khoa học nhân văn và xã hội (KHNVXH): KHNVXH phục vụ cho cái gì? Điều này đặc biệt đã dẫn đến cuốn sách Covid-19, cái nhìn của các khoa học xã hội. Cuốn sách này khai trin câu trả lời sau: KHNVXH “tạo ra sự định hướng.

Trong thời kỳ khủng hoảng y tế, câu trả lời này đáng được quan tâm, kể cả việc tránh xa nó. Dĩ nhiên, điều quan trọng trước hết là phải tái xác định vị trí của đại dịch và các ứng phó đối với nó trong bối cảnh xã hội của chúng, đặt chúng trong mối quan hệ với các bất bình đẳng xã hội, với những thay đổi gần đây của các Nhà nước, hoặc cả với các tương quan lực lượng địa chính trị. Một cái nhìn tổng thể về thực tế xã hội bị ảnh hưởng bởi đại dịch chỉ có thể mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể xã hội.

Tiếp theo, điều quan trọng là phải xây dựng một ý tưởng rõ ràng về vị trí của hoạt động khoa học trong bối cảnh này. Hoạt động khoa học, và đặc biệt là khoa học y tế, là một nhân tố quan trọng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị. Tuy nhiên, nó hoạt động cùng với các chính phủ, hoặc cả với những tác nhân kinh tế. Hiểu rõ hơn về các trò chơi tổ chức trong đó hoạt động khoa học diễn ra chỉ có thể mang lại lợi ích cho nghiên cứu, vượt quá lĩnh vực của KHNVXH.

Print Friendly and PDF

28.11.20

Thay đổi dòng lịch sử như thế nào

THAY ĐỔI DÒNG LỊCH SỬ NHƯ THẾ NÀO

(ít nhất là phần đã xảy ra rồi)

David Graeber*David Wengrow**

Lời giới thiệu của Le grand Continent cho bản dịch tiếng Pháp:

Năm 2011, việc công bố tác phẩm Debt: The First 5000 Years (Nợ nần: 5000 năm đầu tiên) đã làm cho David Graeber trở thành một trong những nhà nhân học nổi tiếng nhất và được bình luận nhiều nhất cả trong và ngoài giới đại học. Đáng chú ý là trong tác phẩm này, nhà nhân học Mỹ đã đề ra một luận điểm nổi bật và mới mẻ: ông cho rằng trao đổi hiện vật chưa bao giờ là phương tiện trao đổi chính trong các xã hội gọi là sơ khai. Năm 2015, trong tác phẩm The Utopia of Rules: On Technology, Stupidity, and the Secret Joys of Bureaucracy (Điều không tưởng của các qui tắc: Về Công nghệ, sự ngu xuẩn và những niềm vui thầm kín của chế độ quan liêu hành chính), ông đã chú tâm chứng minh rằng, ngược lại với những định kiến trong thời đại chúng ta, sự phát triển và sự cần thiết của chế độ quan liêu hành chính là đậm nét hơn trong các nền kinh tế thị trường so với các xã hội gọi là truyền thống hoặc xã hội chủ nghĩa. Cuối năm ngoái, ông cùng đứng tên với Marshall Sahlins trong tác phẩm On Kings (Về những ông vua): trong lời mở đầu, có bản dịch tiếng Pháp trên Le Grand Continent, hai tác giả kêu gọi hãy giải phóng khỏi câu hỏi nặng nề và đã lỗi thời về “những nguồn gốc của Nhà Nước” để tập trung nghiên cứu trên phương diện lịch sử và nhân học những hình thức khác nhau của vương quyền.

David Wengrow (1972-)

David Graeber (1961-2020)

Trong một bài báo vào tháng ba năm 2018, lần này viết chung với giáo sư khảo cổ học so sánh David Wengrow, tác giả của tác phẩm What Makes Civilization? (Điều gì tạo ra nền văn minh?) có mục đích cung cấp một tổng quan hoàn chỉnh không bị chia cắt về “sự khai sinh của nền văn minh”, Graeber đề nghị xem xét lại thực tại xã hội-chính trị của bất bình đẳng bằng cách rời bỏ vấn đề này, kể cả huyền thoại về những nguồn gốc của nó. Lập lại khẳng định đã được trình bày trong phần mở đầu của On Kings theo đó “không có xã hội bình đẳng của loài người”, bằng cách sử dụng phương pháp phê phán và liên ngành, các tác giả chứng minh rằng không có một bằng chứng khảo cổ hay nhân học nào cho phép khẳng định các xã hội săn bắt - hái lượm là bình đẳng hơn các xã hội của chúng ta. Các tác giả đã tích lũy những ví dụ chứng minh rằng các xã hội qui mô nhỏ của loài người thời tiền sử mang tính phân chia cấp bậc và quân sự hóa hơn hẳn những gợi ý của những tác phẩm bán chạy nhất về vấn đề bất bình đẳng, các sách và công trình phổ biến kiến thức do khoa học xã hội truyền thống” tạo ra. Ngoài ra, hoàn toàn không xem các nhóm săn bắt - hái lượm là những thực thể bất di bất dịch qua thời gian, các tác giả chứng minh rằng mức độ bất bình đẳng của các xã hội loài người luôn thay đổi từ trước đến nay, có khi với một nhịp độ theo mùa.

Tập hợp vững chắc các chứng cứ này cho phép các tác giả phá bỏ một câu chuyện đặc biệt tai hại theo cách nhìn của họ: đó là câu chuyện gắn kết một cách thiết thân của một mặt là tiến bộ và sự phức tạp hóa của các xã hội loài người với mặt khác là sự xuất hiện của bất bình đẳng. Hơn cả việc nêu rõ một câu chuyện như vậy liên quan đến sự tồn tại dai dẳng của một cách nhìn chịu ảnh hưởng của Kinh Thánh về số phận loài người và của một trường phái Rousseau bị lệch lạc, bài báo này đặt ra một vấn đề căn bản: ngày nay các nhà tư tưởng và các nhà thực hành các khoa học xã hội phục vụ cho mục đích gì? Trái ngược với các đồng nghiệp đang chú tâm tính toán các hệ số Gini của thời đại đồ đá mới, góp phần vào việc biến bất bình đẳng thành một điều tự nhiên và phi chính trị, thành một công cụ của riêng chủ thuyết kỹ trị, Graeber và Wengrow mong muốn đưa trở lại cho các khoa học xã hội một quyền năng giải phóng.

Print Friendly and PDF

26.11.20

Cách mạng khoa học trong thời đại khai sáng (Phần 2)

CÁCH MẠNG KHOA HỌC TRONG THỜI ĐẠI KHAI SÁNG (PHẦN 2)

 Tác giả: Tôn Thất Thông

Trong bài trước (xem ở đây), chúng ta đã ngược dòng lịch sử để trở về năm 1543, khi Nicolaus Copernicus xuất bản tác phẩm nổi danh làm đảo lộn những giá trị khoa học được tôn thờ cả 2000 năm trước. Sự biến đổi hệ hình đó trong ngành thiên văn học không những mang lại ánh sáng mới cho khoa học tự nhiên, mà còn làm nổi bật tầm quan trọng của sự giải phóng tư tưởng để thoát ra khỏi tù túng chật hẹp của ý thức hệ. Phương pháp của Copernicus - dùng sự quan sát, đo đạc, thử nghiệm để tìm ra mối quan hệ tổng thể - đã chấp cánh cho khoa học để tạo nên những cuộc cách mạng tiếp theo mà chúng ta sẽ khảo sát trong những bài tiếp theo đây.

Những bước đi quyết định

Trong thế kỷ 16, có lẽ ngoại trừ Copernicus và một ít học giả gần gũi của ông, còn lại hầu hết mọi người đều xem con người và quả đất là trung tâm của vũ trụ, điều mà nền khoa học Hy Lạp cổ đại đã khẳng định và được thần học Kitô xem là nền tảng lý luận. Trong vũ trụ đó, con người là thước đo của một thế giới do Thượng Đế sáng tạo ra[1]. Copernicus phủ nhận luận cứ ấy và vẽ ra một mô hình vũ trụ hoàn toàn mới, trong đó quả đất chỉ là một hành tinh bình thường không khác gì những hành tinh khác, và con người là sinh vật biết suy nghĩ, biết sử dụng phương pháp khoa học để tìm ra bản chất thực sự của thái dương hệ. Thượng Đế không có vai trò gì trong quá trình tiến hóa của vũ trụ và con người.

Print Friendly and PDF

24.11.20

RCEP, hội nhập thương mại ở châu Á thách thức tham vọng của Hoa Kỳ + Biden, trước thách thức của TQ, quốc gia từ nay đứng đầu khu vực thương mại lớn nhất thế giới

RCEP: HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI Ở CHÂU Á THÁCH THỨC THAM VỌNG CỦA HOA KỲ

Sébastien Jean

Giám đốc, CEPII

Houssein Guimbard

Nhà kinh tế học, điều phối viên cơ sở dữ liệu, CEPII

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Chung Sơn ký Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), dưới sự chứng kiến ​​ca Th tướng Lý Khc Cường, ti hi ngh thượng đỉnh ASEAN vào ngày 15/11/2020. nh: Nhac Nguyen/AFP

Trong khi các quan hệ thương mại quốc tế vẫn còn căng thẳng, thì hiệp định RCEP (viết tắt của Regional Comprehensive Economic Partnership [Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực]”), được ký vào ngày 15/11 vừa qua tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam), tỏ ra lạc điệu.

Về bề nổi, RCEP sẽ kết nối gần như toàn bộ khu vực Đông Á và sẽ là thỏa thuận thương mại lớn nhất, bao phủ khoảng 30% dân số và GDP thế giới. Trên thực tế, đại đa số các nước ký kết thực hiện hơn một nửa lượng giao dịch ngoại thương (thường là hơn 60%) với các đối tác RCEP của họ (xem bảng bên dưới).

Print Friendly and PDF

23.11.20

Thuế có thể giải cứu thế giới


THUẾ CÓ THỂ GIẢI CỨU THẾ GIỚI

Hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý về cách đối phó với biến đổi khí hậu. Liệu các nhà chính trị có thể áp dụng nó vào thực tế?

Michael Maiello & Natasha Gural

Kelsey Dake minh họa

Có lẽ đó là phương án gần đây nhất mà những chuyên gia kinh tế cùng đi đến đồng thuận. Vào tháng Giêng [năm 2018], 43 trong số các nhà kinh tế nổi tiếng nhất thế giới đã ký một tuyên bố được công bố trên Tạp chí Phố Wall (the Wall Street Journal) kêu gọi một sắc thuế carbon ở Hoa Kỳ. Danh sách này bao gồm 27 nhà kinh tế được giải Nobel, 4 cựu chủ tịch của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và gần như mọi cựu chủ tịch của Hội đồng Cố vấn Kinh tế kể từ những năm 1970, thuộc Đảng Cộng hòa lẫn thuộc Đảng Dân chủ.

Các nhà kinh tế lưu ý rằng, “Bằng cách sửa chữa một thất bại thị trường nổi tiếng, thuế carbon sẽ gửi tín hiệu mạnh mẽ về giá cả, việc này sẽ kiểm soát và tận dụng bàn tay vô hình của thị trường để lèo lái các chủ thể kinh tế hướng tới một tương lai (thải ra) ít carbon hơn.” Tất cả doanh thu từ thuế phải được thanh toán thành các khoản hoàn trả một lần bằng nhau trực tiếp cho người dân Hoa Kỳ, họ cho hay.

Không phải tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý rằng thuế nên có tính trung lập đối với thu nhập theo cách này, nhưng giới này đã thống nhất trong những năm gần đây xung quanh ý tưởng về thuế carbon. Theo một cuộc thăm dò gần đây của các chuyên gia kinh tế, hầu hết đều thích một loại thuế như vậy so với chính sách thay thế nổi bật nhất để đối phó với lượng khí thải carbon, chính sách cho phép mua bán giấy phép phát thải (cap and trade).

Print Friendly and PDF