15.2.16

Từ Durkheim đến Weber và Berger/ Luckmann: Nỗ lực dịch và giới thiệu Xã hội học ở Phía Nam

TỪ DURKHEIM ĐẾN WEBER VÀ BERGER/ LUCKMANN: NỖ LỰC DỊCH VÀ GIỚI THIỆU XÃ HỘI HỌC Ở PHÍA NAM[1]

Bùi Thế Cường[2]
Trong vòng chưa đầy 10 năm, từ 2008 đến 2015, bạn đọc quan tâm đến xã hội học được mời thưởng thức ba tác phẩm kinh điển của xã hội học thế giới dịch sang tiếng Việt. Đó là tác phẩm bất hủ của Max Weber, Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, do một nhóm dịch giả thực hiện mà Trần Hữu Quang là nhà tổ chức chính (Nxb. Tri thức 2008). Tiếp theo, công trình của Émile Durkheim, Các quy tắc của phương pháp xã hội học, do Đinh Hồng Phúc dịch (Nxb Tri thức, 2012). Gần đây nhất là cuốn sách của Peter L. Berger và Thomas Luckmann Sự kiến tạo xã hội về thực tại: Khảo luận về xã hội học nhận thức do Trần Hữu Quang chủ biên dịch thuật (Nxb. Tri thức, 2015).
Có thể chỉ là ngẫu nhiên, nhưng ba công trình được dịch ấy đại diện cho ba thời kỳ cũng là ba tiếp cận lớn trong lịch sử xã hội học. Và có thể cũng chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cả ba cuốn ấy đều do hai nhà nghiên cứu sống ở Sài Gòn, thêm nữa cùng làm việc ở Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, đóng vai trò chủ chốt, Đinh Hồng Phúc và Trần Hữu Quang.
Print Friendly and PDF

7.2.16

MỪNG TẾT BÍNH THÂN 2016

Print Friendly and PDF

5.2.16

Bàn tay vô hình mới



Bàn tay vô hình mới

Bàn tay vô hình không tồn tại – ít nhất là trong sự hóa thân hiện đại của nó. Việc quay trở lại với các nguyên bản của Adam Smith và nhìn lại thuyết tiến hóa có thể giúp đưa ra một ẩn dụ tốt hơn về cách thức các thị trường vận động trên thực tế. Hợp tác là điều cũng quan trọng như cạnh tranh.
Adam Smith đã đưa ra một nhận xét nổi tiếng cho rằng con người không có ý định thúc đẩy lợi ích chung và cũng chẳng biết thúc đẩy nó như thế nào. Tuy nhiên, khi theo đuổi các mục tiêu ích kỷ của bản thân, họ được dẫn dắt, như bởi một bàn tay vô hình, đến việc thúc đẩy một kết cục không nằm trong ý định của họ. Nhận xét của Smith tượng trưng cho một trong những vấn đề cơ bản nhất trong kinh tế học - mức độ mà các nền kinh tế có thể tự thân vận động mà không cần đến sự can thiệp của chính phủ.
Print Friendly and PDF

3.2.16

David Hume, từ bản chất con người đến bản vị vàng



David Hume (1711-1776)

David Hume, từ bản chất con người đến bản vị vàng

Gilles Dostaler
Là nhà triết học và nhà kinh tế, David Hume đặt lại vấn đề chủ nghĩa duy lý giáo điều và bảo vệ phương pháp lý luận thực nghiệm. Ủng hộ chủ trương tự do thương mại, luận điểm của ông về thương mại đã đặt nền tảng lý thuyết cho hệ thống bản vị vàng.
David Hume xem kinh tế học như là một thực tế mang tính lịch sử, tiến hóa và tương đối.
David Hume được biết đến như là một triết gia, một trong những triết gia nổi tiếng nhất của nước Anh. Nhưng vào thời điểm đó, các nhà kinh tế - lúc bấy giờ chưa có thuật ngữ này - trước hết là những nhà triết học. Chỉ đến đầu thế kỷ XX, Alfred Marshall mới thành công trong việc tách biệt chương trình giảng dạy môn triết học đạo đức với chương trình giảng dạy môn kinh tế học ở Anh. Hume, bị nghi theo thuyết bất khả tri, hai lần không thành công trong việc đăng ký làm giáo sư giảng dạy ở các trường đại học Glasgow và Edimbourg, mặc dù Adam Smith đã mô tả ông như "từ lâu là sử gia triết học lịch sử nổi tiếng nhất của thế kỷ này." Nhưng ông thành công hơn, và thậm chí làm giàu hơn, khi đảm nhiệm những chức vụ quản lý hành chánh công.
Print Friendly and PDF

1.2.16

Sự đánh cuộc nhập nhằng về hợp tác khí hậu



Sự đánh cuộc nhập nhằng về hợp tác khí hậu

Benjamin Geminel
Đón chào các nguyên thủ quốc gia ở sân bay Bourget, ngày 28.11.2015.
Việc nhất trí thông qua một thỏa thuận trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc là điều hiếm khi xảy ra đủ cho thấy hội nghị Paris đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử các quan hệ quốc tế. Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 tại Rio, dấu hiệu thực sự xác thực đầu tiên này về một nhận thức phổ quát tạo nên một sự khích lệ đối với cộng đồng khoa học cũng như đối với các phong trào xã hội, những người đã chỉ đường cho những người ra quyết định.
Liệu sự thành công về mặt ngoại giao này có vì thế là một thành công xứng tầm của thách thức khí hậu không? Liệu 196 đoàn đại biểu tham dự hội nghị về biến đổi khí hậu có thực sự sử dụng quyền lực "thay đổi thế giới" của họ, như Tổng thống Pháp François Hollande đã mời gọi, một cách nghiêm túc nhất trên thế giới, trong diễn văn kết thúc hội nghị của ông không?
Print Friendly and PDF

31.1.16

Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành khoa học tự nhiên

PHÙ THỦY VÀ ĐỒ ĐỆ TẬP VIỆC: CÁC NGÀNH KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Eric J. Hobsbawm
Nguyễn Ngọc Giao dịch


Lời người dịch: Bài này là bản dịch chương 18 (trên 19 chương) của bộ sách “Thế kỷ XX Ngắn: Thời đại Thái cực”, cuốn lịch sử thế kỷ XX nổi tiếng của nhà sử học Eric J. Hobsbawm. Nói “Thế kỷ Ngắn” vì Hobsbawm khuôn nó vào thời gian 77 năm, từ 1914 (bùng nổ Thế chiến thứ Nhất) tới 1991 (Liên Xô sụp đổ). Tương phản với “Thế kỷ Dài” là thế kỷ XIX mà ông cho bắt đầu từ 1789 (Cách mạng Pháp) và chấm dứt năm 1914.
Bộ lịch sử thế kỷ XIX của Hobsbawm được coi là tác phẩm kinh điển mẫu mực, gồm 3 tập: Thời đại cách mạng (1789-1848), Thời đại Tư bản (1848-1875) và Thời đại Đế chế (1875-1914).
Đối với một sử gia, viết lịch sử thế kỷ mình đang sống là điều gần như không thể. Đối với Hobsbawm (1917-2012) lại càng khó hơn: song song với sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy sử học, ông là người dấn thân trọn đời cho phong trào Cộng sản (gia nhập Liên đoàn Thanh niên Cộng sản ở Berlin năm 14 tuổi, gia nhập Đảng Cộng sản Vương quốc Anh năm 19 tuổi, và vẫn trung kiên với lý tưởng giải phóng nhân loại sau khi đảng này giải thể năm 1991); ông vẫn tự giễu mình là “người cộng sản không sám hối”.
Print Friendly and PDF

28.1.16

Bàn tay vô hình



Bàn tay vô hình

Invisible Hand
® Giải Nobel: BECKER, 1992 SAMUELSON, 1970 SCHULTZ, 1979 STIGLER, 1982 VICKREY, 1996
Vấn đề trung tâm của khoa học kinh tế là vấn đề phối hợp: bằng cách nào hành động của vô số con người tự chủ lại tương hợp với nhau được? Một câu trả lời là kế hoạch, và một câu trả lời khác là thị trường. Thể theo lí thuyết bàn tay vô hình, sự vận động của những lợi ích diễn ra trên một thị trường đủ để làm cho đời sống kinh tế hài hoà. Do đó thị trường là một quá trình phối hợp không cần đến sự can thiệp lẫn điều tiết: bàn tay vô hình biện minh cho tự do kinh doanh.
Print Friendly and PDF

26.1.16

Vincent de Gournay, người báo trước chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo hộ



Vincent de Gournay (1712-1759)
Vincent de Gournay, người báo trước chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo hộ
Gilles Dostaler
Là người cùng thời với Quesnay, Vincent de Gournay truyền bá ý tưởng của ông thông qua "câu lạc bộ" của ông. Tuy là người sáng lập trường phái tư tưởng tự do đầu tiên, ông vẫn chủ trương một chủ nghĩa tự do ít giáo điều hơn và ôn hòa hơn so với lý thuyết của những người trọng nông.
Những "ý kiến nhận xét (Remarques)" của ông được nhà nghiên cứu người Nhật Takumi Tsuda tìm thấy lại vào đầu những năm 1980, hình thành nên tác phẩm lý luận chính của ông.
Print Friendly and PDF

24.1.16

Phỏng vấn Milton Friedman



Milton Friedman (1912-2006)

Phỏng vấn Milton Friedman

Brian Snowdon, Howard Vane  Peter Wynarczyk
Milton Friedman sinh tại New York, năm 1912. Ông lấy bằng BA tại đại học Rutgers năm 1932, trước khi lấy MA tại đại học Chicago và PhD tại đại học Columbia vào năm 1946. Từ 1946 đến 1977 (năm ông về hưu) ông giảng dạy tại đại học Chicago và đi diễn thuyết tại nhiều đại học trên thế giới. Hiện ông là Senior Research Fellow tại Hoover Institution (đề tài nghiên cứu: chiến tranh, cách mạng và hòa bình) tại đại học Stanford, California.
Milton Friedman là nhà kinh tế còn sống nổi tiếng nhất của thế giới và có danh tiếng quốc tế không ai phủ nhận như là một nhà kinh tế cũng như một nhà luận chiến. Năm 1976, ông được giải kinh tế Nobel. Những quyển sách nổi tiếng của ông gồm có: Essays in Positive Economics (University of Chicago Press, 1953), Studies in the Quantity Theory of Money (University of Chicago Press, 1956), A Theory of the Consumption Function (Princeton University Press, 1957), Capitalism and Freedom (University of Chicago Press, 1962), A Monetary History of the United States, 1867-1960 (Princeton University Press, 1963), Free to Choose (Harcourt Brace Jovanovich, 1980) với sự cộng tác của bà vợ Rose Friedman, Monetary Trends in the United States and the United Kingdom (University of Chicago Press, 1962) với sự cộng tác của Anna Schwartz, và Monetarist Economics (Basil Blackwell, 1991).
Print Friendly and PDF

22.1.16

Sự cáo chung của lý thuyết: Dòng thác dữ liệu làm cho phương pháp khoa học trở nên lỗi thời


Sự cáo chung của lý thuyết: Dòng thác dữ liệu làm cho phương pháp khoa học trở nên lỗi thời

Chris Anderson[1]
Minh họa của Marian Bantjes
"Tất cả các mô hình đều sai, nhưng cũng có một số hữu ích."
Đó là tuyên bố của nhà thống kê George Box 30 năm trước, và ông đã đúng. Nhưng chúng ta có những lựa chọn nào? Chỉ có các mô hình, từ các phương trình về vũ trụ đến các lý thuyết về hành vi con người, dường như có thể luôn giải thích, nếu không hoàn hảo, thế giới xung quanh chúng ta. Cho đến bây giờ. Ngày nay các công ty như Google, đã phát triển trong một kỷ nguyên dồi dào dữ liệu, không chấp nhận các mô hình sai. Thật vậy, họ không hề chấp nhận các mô hình.
Print Friendly and PDF