3.2.21

Xã hội học Internet

XÃ HỘI HỌC INTERNET

Nicolas Baya-Laffite[*]

Về cuốn Sociologie d’Internet/Xã hội học Internet của Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral, Sylvain Parasie, Paris, Armand Colin, 2016, 224

KHẲNG ĐỊNH MỘT MÔN PHỤ

Nếu một ngày nào đó, trong một cuộc thảo luận học thuật, chúng ta bị dẫn vào cuộc tranh luận về quy chế của nghiên cứu về tầm ảnh hưởng xã hội và chính trị của Internet, thì nay chúng ta có thể nói: thực sự có một lĩnh vực phụ của ngành xã hội học, xã hội học Internet, thông qua một loạt các cuộc khảo sát đã cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho một số câu hỏi cơ bản do Internet đặt ra: Internet có tác dụng gì đối với năng lực hành động của các cá nhân? Internet thúc đẩy các mối quan hệ đối xứng hơn, hoặc bình đẳng hơn giữa các cá nhân ở mức độ nào? Có thể nói rằng Internet tạo ra cái nhìn rõ ràng hơn của xã hội về chính mình không? Điều này được chứng minh qua tác phẩm Sociologie d'Internet (Xã hội học Internet), của ba nhà xã hội học trẻ, Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral và Sylvain Parasie, cho thấy chính xác những gì tạo nên bản chất của lĩnh vực xã hội học phụ này, bằng cách khảo sát ba câu hỏi xã hội học trên thông qua sự tổng hợp các công trình được thực hiện kể từ 20 năm nay ở Pháp và các nơi khác, đặc biệt là ở Hoa Kỳ.

Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral và Sylvain Parasie

Được thiết kế như một sách giáo khoa dành cho giảng viên-nhà nghiên cứu và sinh viên xã hội học, cũng như của khoa học thông tin và truyền thông và khoa học xã hội nói chung, cuốn sách này vẽ ra một xã hội học đặc biệt về Internet: một xã hội học mà các tác giả khẳng định có thể giải thích các đặc điểm của các hành động xã hội trực tuyến thông qua cuộc khảo sát, đối mặt với và được một số thành tựu xã hội học liên quan đến logic của hành động ngoại tuyến tiếp liệu. Với tham vọng này, các tác giả tiến hành một phân tích tinh tế nhằm phân định và ghi nhận lĩnh vực phụ này trong ngành xã hội học, một sự phân tích mang lại cho tác phẩm lợi ích lớn vượt quá tiện ích thực tế không thể phủ nhận của nó như một sách giáo khoa mang tính quy chiếu trong vấn đề này.

Print Friendly and PDF

1.2.21

Nataliya Kosmyna, hành trình đi tìm trí tuệ nhân tạo đạo đức

 NATALIYA KOSMYNA, HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐẠO ĐỨC

Nhà nghiên cứu nữ trẻ tuổi, với tài năng phi thường, dành hết thời gian nghiên cứu cho giao diện não-máy. Nhận thức được các nguy cơ lạm dụng trong việc sử dụng các công trình của mình, cô đã tích hợp vào đó kỹ thuật bảo vệ các dữ liệu cá nhân và tác động đến cuộc sống thường nhật.

Laure Belot

Nataliya Kosmyna, ở Paris, vào năm 2018. Ảnh: Stéphane Grangier/Corbis

Hãy thử tưởng tượng một cặp kính, có vẻ ngoài cổ điển, nhưng một khi được đeo vào, có khả năng giải mã, trong thời gian thực, hoạt động não bộ của người lái xe và cảnh báo họ, bằng một rung động, nếu họ ngủ gật khi lái xe.

Nguyên mẫu này, chiếm mọi vị trí trong một kịch bản viễn tưởng, đang thực sự tồn tại. Nó được gọi là AttentivU và nhà nghiên cứu nữ 30 tuổi về trí tuệ nhân tạo (AI) Nataliya Kosmyna, đang được săn tìm. Kể từ khi công bố công trình khoa học đầu tiên của mình về chủ đề này vào tháng 10 năm 2018, nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã được khoảng 20 công ty, từ Google đến Facebook, từ Microsoft đến NTT Data, từ Ford đến Honda, chào mời để “trình bày dự án và bàn bạc về những hợp tác có thể”. Các lời mời gọi này vẫn tiếp tục diễn ra “ngay cả trong thời kỳ phong tỏa vì dịch, thông qua các màn hình”, theo lời của cô.

Print Friendly and PDF

30.1.21

Philippe Descola: “Chúng ta phải suy nghĩ lại về mối quan hệ giữa những con người và những gì không phải là con người”

PHILIPPE DESCOLA: “CHÚNG TA PHẢI SUY NGHĨ LẠI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHỮNG CON NGƯỜI VÀ NHỮNG GÌ KHÔNG PHẢI LÀ CON NGƯỜI”

Francis Lecompte


Patrick ALLARD/REA

Đối với nhà nhân học Philippe Descola, người nhận huy chương vàng Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (Pháp)/CNRS năm 2012, đại dịch Covid-19 có thể là cơ hội để đặt vấn đề về mối liên hệ giữa con người phương Tây với thiên nhiên và để tưởng tượng ra những hình thái xã hội mới.

Ông được biết đến với cách tiếp cận mới về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Làm thế nào để hiểu cuộc khủng hoảng hiện tại dưới ánh sáng của các nghiên cứu của ông?

Philippe Descola[1]: Những quan sát của tôi trên thực địa với các xã hội người thổ dân Mỹ (amérindiens) ở vùng Amazon đã khiến tôi nhận thấy rằng những quần thể này không phân biệt giữa tự nhiên và xã hội, những gì không phải là con người được (họ) coi như là những con người. Sau đó, tôi dành một phần công việc của mình trong lĩnh vực nhân học so sánh để khảo sát các dạng quan hệ mà các tập thể con người có với những gì không phải là con người, điều này khiến tôi tự hỏi về tính phổ quát giả định trong quan niệm về thiên nhiên của chúng ta. Tuy nhiên, lãnh vực phi nhân bản được coi nằm bên ngoài con người, cái mà người phương Tây chúng ta gọi là Thiên nhiên, thực ra là một quan niệm gần đây, ra đời ở châu Âu cách đây nhiều nhất là bốn thế kỷ. Ý tưởng rằng con người ở bên ngoài thế giới - cái mà tôi gọi là chủ nghĩa duy thiên nhiên, tức là sự phân biệt giữa xã hội và tự nhiên - đã dẫn đến việc biến thiên nhiên thành một lĩnh vực điều tra, mà chúng ta tìm cách kiểm soát và coi đó như là một nguồn lực bên ngoài bản thân chúng ta.

Print Friendly and PDF

28.1.21

Lý thuyết kinh tế đã chết. Đây là những gì sẽ thay thế nó

LÝ THUYẾT KINH TẾ ĐÃ CHẾT. ĐÂY LÀ NHỮNG GÌ SẼ THAY THẾ NÓ.

Kinh tế học Mới có thể bước vào thời kỳ hậu Darwin ngay bây giờ.

Tác giả: David Sloan Wilson

Noah Smith

Mọi người dường như đồng ý rằng nghề kinh tế đã từng có kinh nghiệm cận kề cái chết vào năm 2008 và cần phải được hoặc đã được tái sinh trong một hóa thân khác. Những đánh giá lạc quan nhất cho rằng một cuộc cách mạng đã được tiến hành dựa trên hai việc triển khai: 1) Tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu thực nghiệm; và 2) một quan niệm khác về lý thuyết.

Một bài tiểu luận đáng suy nghĩ của blogger kinh tế Noah Smith có tiêu đề “The Death of Theory” (“Cái chết của lý thuyết”) đề cập đến việc triển khai thứ nhất. Theo các con số của ông, tỷ lệ các bài báo lý thuyết trong thư tịch kinh tế đạt đỉnh cao từ năm 1973 đến 1993 và đã giảm dần kể từ đó. Ông mô tả phong trào kinh tế học hành vi giống như một thiên thạch đâm vào “những con khủng long kinh tế”, theo ông có nghĩa là hệ ý tân cổ điển. Ông kết luận bằng cách suy đoán rằng nhân loại đang đạt đến “sự kết thúc của Làn sóng Lý thuyết lớn” cho tất cả các chủ đề. Bất cứ điều gì có thể đạt được bằng lý thuyết lớn đều đã được hiện thực hóa, vì vậy chúng ta chỉ cần đi sâu vào dữ liệu.

Dani Rodrik (1957-)


Các nhà bình luận khác tranh luận về tầm quan trọng liên tục của lý thuyết, nhưng là một loại lý thuyết khác. Nó chỉ là hệ thống phương trình toán học khép kín lấy cảm hứng từ vật lý Newton đã chết. Thay vào đó là một bộ công cụ gồm các phương pháp mô hình hóa giải quyết các chủ đề cụ thể và phải luôn được kiểm tra dựa trên dữ liệu thực nghiệm để vẫn có được cơ sở trong thực tế. Những nhà vô địch của quan điểm này bao gồm Dani Rodrik, người có cuốn Economics Rules: The Rights and Wrongs of the Dismal Science[1] (Các quy tắc trong kinh tế học. Những cái đúng và sai của môn khoa học buồn thảm) được N. Emrah Aydinonat và Angus Deaton, người nhận giải Nobel kinh tế mới nhất (xem bài bình luận sâu sắc này của Justin Wolfers) điểm sách toàn diện.
Print Friendly and PDF

26.1.21

Về tổng lượng phát thải khí Carbon trên quy mô lớn do xi măng tạo ra và một số bước tiến trong việc sản xuất bê tông

VỀ TỔNG LƯỢNG PHÁT THẢI KHÍ CARBON TRÊN QUY MÔ LỚN DO XI MĂNG TẠO RA VÀ MỘT SỐ BƯỚC TIẾN TRONG VIỆC SẢN XUẤT BÊ TÔNG

Sản xuất xi măng là một trong những ngành công nghiệp gây ô nhiễm khí carbon nhất thế giới. Liệu với quy trình sản xuất xanh hơn với môi trường có thể giúp ích gì không?


Hình ảnh: sihuo0860371/Getty Images

MARCELLO ROSSI

13.11.2019

Vào buổi sáng tháng 7 nóng như thiêu đốt tại một cơ sở thử nghiệm bên ngoài thành phố Paris [Pháp], một nhóm nhỏ gồm các nhà khoa học, kỹ sư và kiến ​​trúc sư đội mũ cứng và đeo kính bảo hộ đang theo dõi qua lớp kính bảo vệ một cỗ máy nhào nặn một hỗn hợp màu xám, lõng bõng thành những mẻ có kích thước bằng những khối gạch. Ở đằng xa, dọc theo dây chuyền, một người điều khiển xe nâng cẩn thận xếp các khối vào một buồng đóng rắn xi măng giống như đang sắp đặt những ổ bánh mì trong một tiệm bánh.

Những gì họ đang chứng kiến ​​là một chu trình chạy thử nghiệm của một quy trình sản xuất bê tông mới do hãng Solidia Technologies phát triển, quy trình được công ty có trụ sở tại bang New Jersey [Hoa Kỳ] hy vọng sẽ định hình lại đáng kể cách thức loại vật liệu xây dựng này được sản xuất. Bằng cách điều chỉnh hợp chất hóa học của một trong những thành phần thiết yếu của bê tông — xi măng — và thay đổi quy trình đóng rắn, công ty cho biết họ có thể làm cho bê tông rẻ hơn so với quy trình truyền thống, đồng thời cắt giảm đáng kể lượng phát thải khí carbon liên quan đến quá trình sản xuất xi măng.

Print Friendly and PDF

25.1.21

Tư bản

TƯ BẢN

Capital

➞ Giải Nobel: ALLAIS, 1988 - ARROW, 1972 - BECKER, 1992 - DEBREU, 1983 - HICKS, 1972 - MARKOWITZ, 1990 - MERTON, 1997 - SAMUELSON, 1970 - SCHOLES, 1997 - SCHULTZ, 1979 - SHARPE, 1990 - SOLOW, 1987 - TOBIN, 1981

Chắc chắn rằng tư bản là một trong những khái niệm khó nhất của kinh tế học và cũng là khái niệm gây nhiều bất đồng nhất. Thật vậy có điều gì chung giữa quan niệm của Marx về tư bản, một quan niệm nằm ở trung tâm của sự phê phán chủ nghĩa tư bản của ông và những lí thuyết đánh giá những tài sản rủi ro hay lí thuyết vốn con người? Những khó khăn và bất đồng là do tính nhiều hình thức của tư bản trong những nền kinh tế thị trường, do vai trò của tư bản trong việc hiểu động thái của những nền kinh tế và tính đa dạng của những cách tiếp cận về tư bản.

Lằn ranh phân biệt quan trọng nhất về tư bản nằm ở chỗ có thể nhìn tư bản theo một quan điểm thực tế hay theo một quan điểm tài chính. Trong trường hợp đầu, tư bản là một thuật ngữ chủng loại bao gồm toàn thể những phương tiện không phải là những nguyên vật liệu không sản xuất lẫn những dịch vụ lao động được triển khai cho việc sản xuất những sản phẩm và dịch vụ, và có thể được xem như những kho. Được hiểu như trên, tư bản là một khái niệm có khả năng được mở rộng gần như không giới hạn, tất cả hay gần như tất cả đều có khả năng là cần thiết cho việc sản xuất. Trong trường hợp thứ hai, tư bản có một nghĩa chính xác hơn: nó được định nghĩa như toàn thể những phương tiện tài chính chi phối việc thiết lập những quá trình sản xuất, ở cấp độ một công ti, một ngành hay cả toàn bộ nền kinh tế. Như thế tư bản được đo như một đại lượng tiền tệ.

Một lằn ranh phân biệt thứ hai, được biết đến nhiều trong kinh tế, nằm ở tầm nhìn kinh tế vĩ mô về tư bản hay ngược lại ở tầm nhìn kinh tế vi mô về vốn. Cuối cùng một số trào lưu gắn bó với một phân tích tĩnh về tư bản trong lúc một số trào lưu khác ưu tiên cho một viễn cảnh có tính thời gian. Việc có nhiều cách tiếp cận, tính đa dạng của những vấn đề gắn với hay tuỳ thuộc vào tư bản giải thích sự sống chung của nhiều trào lưu lí thuyết về tư bản.

Print Friendly and PDF

23.1.21

Các nhà kinh tế học giữa phân biệt chủng tộc và tính duy lý

CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC GIỮA PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC VÀ TÍNH DUY LÝ

Làm thế nào để chứng minh sự phân biệt chủng tộc gây ra sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động? Giữa lý thuyết cạnh tranh và vô số nguyên nhân, rất khó để chứng minh điều này mặc dù đã quan sát thấy sự bất bình đẳng.
George Floyd (1973-2020)
Gary Becker (1930-2014)
Kể từ khi nổ ra các cuộc biểu tình gắn với cái chết của George Floyd, nhiều người Mỹ đã tự hỏi về cách ứng xử của họ và cách thức mà họ cũng có thể góp phần vào các hành vi phân biệt đối xử. Các nhà kinh tế học cũng không là ngoại lệ. Là một nhà kinh tế học lao động, tôi đã giảng dạy về sự phân biệt đối xử và những lý do khiến người Mỹ da đen bị trả lương thấp hơn và thường thất nghiệp nhiều hơn. Sự phân biệt đối xử thống kê theo đề xuất của Gary Becker, người đoạt giải Nobel, là một trong những lý giải được các nhà kinh tế học yêu thích. Nói một cách đơn giản, ông cho rằng khi một doanh nghiệp thiếu thông tin về người lao động thì họ có thể sử dụng, một cách duy lý, nguồn gốc sắc tộc để cố gắng khoanh vùng năng suất của họ. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể cho rằng người da đen ít học hơn người da trắng, bởi vì ở Hoa Kỳ họ ít học hơn. Tuy thế, nếu có ai đó cho rằng không có hành vi phân biệt chủng tộc mà chỉ là sự phân biệt đối xử thống kê duy lý, thì gần như không thể chứng minh điều ngược lại. Vì thế, lý thuyết phân biệt đối xử thống kê này có thể được sử dụng để biện minh cho tình trạng trì trệ chính trị hiện tại.
Print Friendly and PDF

22.1.21

Những kẻ điên và những nhà hiền triết - Suy nghĩ về sự kết thúc của nhiệm kỳ của Tổng thống Trump

 NHỮNG KẺ ĐIÊN VÀ NHỮNG NHÀ HIỀN TRIẾT - SUY NGHĨ VỀ SỰ KẾT THÚC CỦA NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG TRUMP

Jacques Rancière (1940-)

Sau vụ tấn công Đồi Capitol, ta có thể ngạc nhiên khi thấy những người ủng hộ Trump kiên quyết phủ nhận sự thật đến mức rơi vào bạo lực cuồng tín. Một số coi họ là những kẻ cả tin bị những tin tức giả lừa gạt. Nhưng làm sao ta vẫn có thể tin được câu chuyện hoang đường này khi ta đang sống trong một thế giới mà thông tin và những bình luận “giải mã” thông tin tràn ngập? Thực tế, nếu ta từ chối điều hiển nhiên, đó không phải vì ta ngu ngốc mà là để chứng tỏ rằng ta thông minh. Dấu hiệu của một sự lệch lạc được ghi trong chính cấu trúc lý trí của chúng ta.

Thật dễ dàng để chế nhạo những sự lầm lạc của Donald Trump và phẫn nộ trước sự bạo lực của những người cuồng tín ủng hộ ông. Nhưng sự bùng nổ của tính phi lý thuần túy nhất ngay ở trung tâm của quá trình bầu cử của đất nước được xây dựng tốt nhất để quản lý sự luân phiên trong chế độ đại nghị cũng đặt ra câu hỏi về thế giới mà chúng ta chia sẻ với nó: một thế giới mà chúng ta nghĩ là thế giới của tư duy thuần lý và của nền dân chủ thanh bình. Và câu hỏi đầu tiên tất nhiên là: làm thế nào có thể cố chấp không chấp nhận những sự kiện đã được chứng thực tốt nhất và làm thế nào mà sự cố chấp này lại có thể được chia sẻ hoặc ủng hộ rộng rãi đến như vậy?

Print Friendly and PDF

21.1.21

Cử tri bầu Donald Trump và sự suy giảm của nền công nghiệp chế tạo Hoa Kỳ

 CỬ TRI BẦU DONALD TRUMP VÀ SỰ SUY GIẢM CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP CHẾ TẠO HOA KỲ

Tác giả: WILLIAM B. BONVILLIAN, Giáo Sư MIT

Người dịch: Lê Nguyễn

Tóm lược: Bài viết này ra đời cách đây đã hơn bốn năm, nhưng nội dung của nó vẫn còn nguyên giá trị. Là một học giả về công nghiệp sản xuất chế tạo Mỹ, tác giả cho chúng ta thấy một số vấn đề của xã hội Hoa Kỳ qua phân tích về sự suy giảm của lĩnh vực này cũng như liên hệ của nó đến sự xuất hiện của Donald Trump. Lĩnh vực công nghiệp sản xuất chế tạo Hoa Kỳ đã không được đánh giá đúng mức bởi các lý thuyết kinh tế thiếu trải nghiệm thực tế. Lĩnh vực này khi tương tác với thị trường thương mại toàn cầu nhất là với thị trường Trung Quốc, đã phải chịu đựng sức ép rất lớn bởi chính sách tân trọng thương (neo-mercantilism) và thương mại kiểu lợi ích quốc gia (nationalism) chỉ nhằm đạt được lợi ích riêng chứ không vì sự thịnh vượng chung toàn cầu theo nghĩa thương mại để cùng có lợi. Hoa Kỳ có thể sẽ rút ra được kinh nghiệm và điều chỉnh cho lĩnh vực này vì nó có thể tạo cộng hưởng với các yếu tố khác như kỳ thị chủng tộc, gây ra hậu quả chính trị rất lớn. Mặc dù nhiệm kỳ Trump sắp chấm dứt, nhưng những nguyên do đưa đến hiện tượng Trump vẫn còn hiện hữu, và nếu chính phủ Hoa Kỳ không giải quyết rốt ráo, nó có thể sẽ trở lại sau này. Kinh nghiệm này không chỉ có giá trị cho Hoa Kỳ, mà cho mọi quốc gia công nghiệp.

William B. Bonvillian

* * *

Việc Hoa Kỳ bỏ qua lĩnh vực sản xuất chế tạo đã gây tổn thất đến sáng kiến đổi mới và đời sống của các tầng lớp công nhân lao động. Các hậu quả, nhất là về mặt chính trị, có thể rất lớn.

Print Friendly and PDF

20.1.21

Một chủ nghĩa Trump không có Donald Trump?

 MỘT CHỦ NGHĨA TRUMP KHÔNG CÓ DONALD TRUMP

Jerome Karabel[*]

Felipe Jesus Consalvos. - “Hypnotic America” (Nước Mỹ bị thôi miên), 1920-1960. Courtesy the Gallery of Everything, London

Sau nhiều ngày hồi hộp chờ đợi, ông Joseph (“Joe”) Biden cuối cùng đã thắng ông Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Nhưng chiến thắng gập ghềnh này không đáng giá bằng sự loại bỏ vĩnh viễn mà phe Dân chủ đã khát khao mong muốn. Thực vậy, cuộc bầu cử đã tỏ ra khá thảm hại đối với họ. Mặc dù đã quyên góp được món tiền kếch sù để tài trợ cho chiến dịch bầu cử (1,5 tỷ đô la chỉ trong ba tháng, từ tháng bảy đến tháng chín[1]), phe Dân chủ đã không chiếm lại được Thượng Viện, họ đã mất một số ghế ở Hạ Viện và không đạt được đa số trong các cơ quan lập pháp Nhà nước là những cơ quan nắm quyền hành rất lớn trong hệ thống liên bang của Mỹ.

Print Friendly and PDF