17.11.15

Suy nghĩ đằng sau kinh tế học bình quyền



Elinor Ostrom (1933-2012)

Suy nghĩ đằng sau kinh tế học bình quyền

Kinh tế học, một chuyên ngành của những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, những người dẫn chương trình truyền hình, và tuần san này nhằm đưa ra một cách nhìn khách quan về thế giới. Nhưng một số người lo lắng rằng nó sẽ không đầy đủ. Những người ủng hộ kinh tế học bình quyền cho rằng kinh tế học quá thiên về thế giới của đàn ông, cả về phương pháp nghiên cứu lẫn trọng tâm nghiên cứu. Nguyên nhân không chỉ do phụ nữ ít góp mặt trong khoa học: năm 2014 chỉ có 12% số giáo sư kinh tế học của Mỹ là phụ nữ, và tính cho đến nay chỉ có duy nhất một phụ nữ là khôi nguyên giải Tưởng Niệm Nobel dành cho các Khoa Học về Kinh Tế (Elinor Ostrom, người trong ảnh). Nguyên nhân quan trọng hơn có lẽ là họ cũng lo ngại rằng do đặt vấn đề sai lầm, mà kinh tế học đã gắn chặt với việc nghiên cứu bất bình đẳng giới hơn là giúp giải quyết vấn đề đó. Các kinh tế gia bình quyền muốn thay đổi thực tế này như thế nào?
Print Friendly and PDF

15.11.15

15.11.2014 - 15.11.2015


PTKT: Ngày này năm rồi, PTKT lần đầu tiên đến với bạn. Qua 365 ngày, chúng tôi dần dần lát những viên gạch của một kho tư liệu trực tuyến về kinh tế học mà danh sách cập nhật 226 bài có thể tham khảo đây. Tri ân sự quan tâm của bạn đọc, PTKT ra tuyển tập đầu tiên các bài dịch với chủ để Học và dạy “khoa học buồn thảm” thời hậu khủng hoảng và vui mừng giới thiệu trước nội dung tuyển tập này.

Lời giới thiệu tuyển tập

Một năm trước đây, “trang Phân tích kinh tế ra đời với mong muốn chia sẻ và trao đổi, trong tinh thần tự do học thuật, những thông tin cần thiết giúp người dạy cùng người học ưa thích kinh tế tự đào tạo, cập nhật, củng cố, hệ thống hóa và bổ sung kiến thức để tự tin hội nhập thế giới”.
Với nhịp độ xuất bản một bài mỗi hai ngày, chúng tôi dần hình thành một kho tư liệu mở, chủ yếu là những bản dịch về những chủ đề: Dạy và học kinh tế học thời hậu khủng hoảng, Lịch sử, triết học và xã hội học về các khoa học, Khoa học luận và phương pháp luận kinh tế, Thống kê kinh tế, Kinh tế học và các khoa học khác, v.v..
Để đánh dấu 12 tháng ra mắt, Phân tích kinh tế tập hợp trong tuyển tập Học và dạy “khoa học buồn thảm” thời hậu khủng hoảng này 14 bài phản ánh những chuyển động đang diễn ra trong ngành.
Print Friendly and PDF

13.11.15

Một kinh tế học thích nghi với sự kiện



Barry Eichengreen (1952-)

Một kinh tế học thích nghi với sự kiện

CAMBRIDGE – Giới kinh tế học được cho là nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008–2009. Suy cho cùng, các nhà thực hành kinh tế học đã thất bại trong việc lường trước tai họa, và nhiều người xem ra không thể nói được bất cứ điều gì hữu ích khi đến lúc phải đưa ra một phản ứng. Nhưng, cùng với nền kinh tế toàn cầu, có lý do để hy vọng rằng ngành học này đang dần hồi phục.
Cuộc khủng hoảng khiến cho các mô hình kinh tế chủ đạo bị mang tai tiếng đơn giản vì chúng không thừa nhận khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng đó. Và việc đào tạo ưu tiên cho kỹ thuật thay vì cho trực giác cũng như cho tính gọn gàng lý thuyết thay vì cho tính thích đáng với thế giới thực đã không chuẩn bị cho các nhà kinh tế có khả năng đưa ra kiểu tư vấn cần thiết về chính sách thực tế mà những trường hợp ngoại lệ đòi hỏi.
Một số người cho rằng giải pháp là trở về các mô hình kinh tế đơn giản trong quá khứ, đã từng đưa ra những đơn thuốc chính sách rõ ràng đủ để ngăn chặn những cuộc khủng hoảng tương tự. Ngược lại, một số người khác thì cho rằng tính hiệu quả của các chính sách ngày nay đòi hỏi phải có những mô hình ngày càng phức tạp, có khả năng nắm bắt đầy đủ hơn sự năng động hỗn độn của nền kinh tế thế kỷ XXI.
Print Friendly and PDF

11.11.15

Điểm bất động



Điểm bất động

(các định lí và ứng dụng)
Fixed point theorems and applications
® Giải Nobel: ARROW, 1972 DEBREU, 1983 NASH, 1994
Xét hàm một biến g(x) liên tục, ánh xạ những điểm của I = [0 1] đến I. Như chỉ rõ trên biểu đồ 1, tất yếu tồn tại một điểm x* thuộc I sao cho x* = g(x*). Một điểm như thế được gọi là điểm bất động của ánh xạ liên tục (ta nhận xét là có thể tồn tại nhiều điểm bất động nếu như, trong biểu đồ 1, g giao với đường chéo hơn một lần). Ta nhận xét là nếu một trong hai giả thiết (g là liên tục và g ánh xạ những điểm của I đến I) không được thoả thì có thể điểm bất động không tồn tại. Những tình thế này được minh hoạ trên biểu đồ 2 cho một hàm liên tục ánh xạ những điểm của I đến một tập khác hơn I và trong hình 3 cho một hàm ánh xạ những điểm của I đến I, nhưng hàm g là không liên tục. Tuy nhiên, tình thế được biểu trưng trong biểu đồ 4 cho thấy là có thể tồn tại một điểm bất động nếu một trong những giả thiết (trong trường hợp này là giả thiết tính liên tục của g) không được thoả mãn.
Print Friendly and PDF

9.11.15

Edmund Phelps, tại ngã tư các trường phái kinh tế học vĩ mô



Edmund Phelps (1933-)

Edmund Phelps, tại ngã tư các trường phái kinh tế học vĩ mô

Là nhà kinh tế học không thể xếp hạng, Edmund Phelps chủ yếu nghiên cứu về sự không hoàn hảo của thị trường lao động. Cách tiếp cận đa nguyên của ông phá vỡ các rào cản ngăn cách kinh tế học vĩ mô với kinh tế học vi mô.
Edmund Phelps (1933-), người được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel, năm 2006.
Edmund Phelps là một nhà kinh tế học khó xếp hạng. Bằng chứng là các bài báo đã được viết về ông nhân dịp ông được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel. Trong một cuốn sách của ông (1990), ông nhận diện bảy trường phái tư tưởng trong kinh tế học vĩ mô, khó gắn ông một cách dứt khoát với trường phái này hay trường phái khác; vả lại trong tác phẩm này, ông đã viết rằng "đa nguyên là con đường tốt nhất". Đối với một số người, ông là người theo thuyết tân tự do và tông đồ của thuyết tự do kinh doanh, còn đối với một số người khác, Phelps đúng hơn là một người theo thuyết can thiệp và thuyết tân Keynes. Người ta gắn ông với kinh tế học vĩ mô cổ điển mới, trong khi ông lại phê phán gay gắt giả thuyết những dự kiến duy lí. Thành thạo các kỹ thuật toán học đang thịnh hành trong kinh tế học, ông cũng viết về đạo đức, vị tha, phúc lợi, công bằng và văn hóa.
Print Friendly and PDF

7.11.15

Dự báo kinh tế trong thời đại của Dữ liệu lớn



Dự báo kinh tế trong thời đại của Dữ liệu lớn

WASHINGTON, DC – Cuối tháng 7, lộ ra trên báo chí rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã vô tình công bố những dự báo kinh tế cho 5 năm tới trên trang web của họ. Các dự báo, trong đó làm rõ rằng Fed không dự kiến một cuộc suy thoái trước năm 2020, tiết lộ những vấn đề đáng lo ngại không chỉ về mặt an toàn dữ liệu, mà còn trong các phương pháp được các nhà kinh tế sử dụng.
Mặc dù về mặt lịch sử, các thời kỳ bành trướng kinh tế kéo dài trung bình khoảng 4,8 năm, thì những dự báo của Fed giống như mơ tưởng – và có thể nguy hiểm. Sự phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009 có nhiều khả năng cực kỳ yếu kém; nhưng sẽ là điều khôn ngoan nếu chúng ta chuẩn bị cho một cuộc suy thoái khác trong những năm tới.
Print Friendly and PDF

5.11.15

HECKMAN James, sinh năm 1944



James Heckman (1944-)

HECKMAN James, sinh năm 1944

James Heckman sinh ngày 19 tháng tư 1944 tại Chicago. Sau khi tốt nghiệp cử nhân toán (với lời khen của ban giám khảo) Collorado College năm 1965, ông đỗ tiến sĩ kinh tế học đại học Princeton năm 1971 với một luận án có tựa là Ba tiểu luận về cung lao động của các hộ gia đình và cầu sản phẩm thị trường. Sau khi nghiên cứu tại National Bureau of Economics Research từ 1972 đến 1975, ông trở thành phó giáo sư từ 1973 đến 1977 tại Yale University, giáo sư tại đây kể từ 1977 rồi lần lượt là giáo sư đại học Chicago năm 1985, đại học Gütenborg ở Thụy Điển năm 1980. Hiện nay ông là giáo sư kinh tế học tại Chicago University. Năm 1983, ông được huy chương John Bates Clark của American Economic Association thưởng cho những nhà nghiên cứu trẻ dưới bốn mươi tuổi. Hoạt động khoa học với cường độ cao, ông là đồng chủ biên Journal of Political Economy từ 1981 đến 1987, rồi lần lượt chủ biên các tạp chí sau: Evaluation Review từ 1991 đến 1995, Journal of Econometrics từ 1977 đến 1983, Journal of Labor Economics từ 1982 đến 2000, Review of Economic Studies từ 1982 đến 1985, Econometric Review từ 1987 đến 2000, Journal of Economic Perspectives từ 1989 đến 1996, Journal of Economics and Statistics từ 1994 đến 2000. Thành viên của Hội kinh trắc học, American Academy of Arts and Sciences và cuối cùng của National Academy of Sciences, năm 2000 ông được giải khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel.
Print Friendly and PDF

MIRRLEES James A., sinh năm 1936



James Alexander Mirrlees (1936-)

MIRRLEES James A., sinh năm 1936

James Alexander Mirrlees sinh tại Minnigaf (Scotland) năm 1936. Vì có vấn đề thị lực, ông bỏ thể thao để đọc sách và được giải Douglas Ewart năm 11 tuổi. Năm 14 tuổi, ông khám phá toán học và muốn trở thành giáo sư bộ môn này. Được sự chú ý và hỗ trợ của viên thanh tra giáo dục của Scotland ông xin một học bổng của trường đại học Cambridge nhưng không được vì đại học này nằm ngoài Scotland. Cuối cùng ông vào học trực tiếp năm thứ hai khoa toán đại học Edimbourg và đồng thời theo học năm thứ nhất triết. Sự đào tạo kép này tự nhiên dẫn ông đến kinh tế học. Sau khi được giải Napier về toán năm 21 tuổi, ông rời Scotland để đến Trinity College ở Cambridge, tại đây ông gặp Piero Sraffa. Ông viết luận án dưới sự hướng dẫn của Richard Stone và tốt nghiệp tiến sĩ khoa học kinh tế năm 1963. Làm tư vấn cho Massachussetts Institute of Technology trên một đề án về Ấn Độ từ 1962 đến 1963, ông là giảng viên phụ đạo tại đại học Cambridge từ 1963 đến 1968, rồi giáo sư kinh tế tại đại học Oxford, ở ghế của Edgeworth cho đến 1995, năm ông trở thành giáo sư kinh tế chính trị học của đại học Cambridge. Trong suốt sự nghiệp của ông, ông nhiều lần làm cố vấn phát triển cho Pakistan, giáo sư thỉnh giảng ở MIT cũng như ở đại học Yale, nhà nghiên cứu của đại học Cambridge tại Trinity College và Nullfield Cụllege của đại học Oxford. Ông lãnh đạo tạp chí đầy uy tín Econometrica trước khi được Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển biểu dương năm 1996.
Print Friendly and PDF

3.11.15

Cái thế giới quá đỗi đơn giản của Jean Tirole

Gilles Rotillon
Sự thống trị của các nhà chính thống khiến cuộc tranh luận công cộng trở thành nghèo nàn.
Cái thế giới quá đỗi đơn giản của Jean Tirole
Jean Tirole, hiệu trưởng Trường kinh tế Toulouse (TSE), là một nhà kinh tế được các đồng nghiệp công nhận, như được minh chứng bởi “giải Nobel” gần đây, năm 2014 vừa được trao cho ông. Hơn nữa, những nghiên cứu của ông về sự điều tiết các độc quyền và độc quyền vài người, những khuyết tật của thị trường và tài chính cũng khiến ông được các nhà công nghiệp và lãnh đạo chính trị thừa nhận, hai giới được ông góp ý và cung cấp đánh giá của chuyên gia. Chẳng hạn, ông đã đề xuất đơn giản hóa việc sa thải, “hợp đồng lao động duy nhất”[1] hay giá thế giới duy nhất của các-bon. Năm 2008, sau khi cuộc khủng hoảng subprime nổ ra, trước một ủy ban của Quốc hội ông tuyên bố như sau về việc điều tiết ngân hàng: “Không nên đổ em bé cùng với nước tắm nó: chắc chắn là thông thể đặt lại vấn đề chứng khoán hóa hay sự tồn tại của những sản phẩm phái sinh, vì những đổi mới này có những hiệu ứng tích cực. Trái lại, phải có những kĩ thuật cần thiết để những sự lạm dụng không thể tái diễn nữa.[2]” Hàng triệu người mất việc làm, lương hưu hay nhà ở vì cuộc khủng hoảng tài chính có thể bàn luận về ý kiến này; nhưng ít ra, cho đến đây ông vẫn còn trong vai trò của nhà kinh tế quan tâm đến thị trường lao động và tài chính.
Print Friendly and PDF

1.11.15

Cơ cấu và đặc điểm nhân khẩu giới trung lưu ở Tp.HCM

TẦNG LỚP TRUNG LƯU Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

CƠ CẤU VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU[1]

Bùi Thế Cường, Phạm Thị Dung 
và Tô Đức Tú[2]
Bài viết trình bày cơ cấu tầng lớp trung lưu ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số đặc điểm nhân khẩu của tầng lớp này, dựa trên số liệu khảo sát năm 2010. Trước hết, bài viết giới thiệu một khung phân loại nhóm nghề nghiệp làm cơ sở xác định tầng lớp trung lưu trong cơ cấu xã hội theo nghề nghiệp và một khung cơ cấu trong bản thân tầng lớp trung lưu. Tiếp theo, bài viết trình bày cơ cấu tầng lớp trung lưu ở Thành phố Hồ Chí Minh theo nhóm và bậc, theo khu vực, giới và tuổi. Bài viết gợi ý rằng Thành phố cần rà soát lại chính sách giai tầng xã hội, chú trọng đến việc phát triển hơn nữa vị thế và tiềm lực của trung lưu để tầng lớp này có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong phát triển xã hội. 

MIDDLE CLASSES IN HO CHI MINH CITY: STRUCTURE AND DEMOGRAPHIC CHARACTERISTICS. In the paper, the structure of the middle classes in Ho Chi Minh City and some of its demographic features are outlined based on the data set of a survey conducted in 2010. Firstly, a framework of occupational strata is proposed to identify the occupational structure of the surveyed sample and another framework for internal structure of the middle classes is described. Based on these two frameworks, the middle classes in the City are figured by their groupings, rural-urban areas, sex and age. To conclusion, it is suggested that the middle classes policy of Ho Chi Minh City should be reviewed and improved. 
Print Friendly and PDF