11.7.21

Một luồng gió mới của chuyển đổi giáo dục

 

MỘT LUỒNG GIÓ MỚI CỦA CHUYỂN ĐỔI GIÁO DỤC

Nguyễn Xuân Xanh giới thiệu


MỘT LUỒNG GIÓ MỚI CỦA CHUYỂN ĐỔI GIÁO DỤC và quyển sách TRƯỜNG HỌC SÁNG TẠO CREATIVE SCHOOLS (The Grassroots Revolution That’s Transforming Education), tác giả SIR KEN ROBINSON 

,,

Điều quan trọng là không ngừng hỏi. Sự tò mò có lý do tồn tại của riêng nó. Người ta không thể không kinh ngạc khi chiêm ngưỡng những bí ẩn của cái vĩnh cửu, của sự sống, của cấu trúc kỳ diệu của thực tại. Chỉ cần một người cố gắng hiểu một chút bí ẩn này mỗi ngày là đủ. Đừng bao giờ đánh mất sự tò mò thánh thiện.

***

Thật giống như một phép lạ, rằng hệ thống giảng dạy hiện đại vẫn chưa hoàn toàn giết chết óc tò mò thiêng liêng của nghiên cứu.

Albert Einstein

Học là quá trình tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới. Con người là một chủ thể cực kỳ tò mò và ham học hỏi. Từ khi được sinh ra, trẻ đã ham muốn được học. Nhưng với rất nhiều đứa trẻ, cái khao khát đó bắt đầu lu mờ dần khi chúng đi học ở trường. Chìa khóa để chuyển hóa nền giáo dục chính là việc giữ được sự tò mò, ham học trong mỗi đứa trẻ.

Sir Ken Robinson

Lời nói đầu. Tôi đến với Essay này khi đầu tháng 5 được anh Andy Trần Mạnh Cường, Tổng biên tập của Cty sách KHẢI MINH mời cho ý kiến về quyển sách Trường học sáng tạo của Sir Ken Robinson mà Khải Minh Book sắp lên khuôn. Một sự ngạc nhiên thú vị đối với tôi. Tôi chưa biết quyển này, nhưng vài năm trước đã đọc quyển The Element – How finding your passion changes everything (2009), New York Times Bestseller, của tác giả và rất tâm đắc. Rồi tôi hiểu rằng Trường học sáng tạo là sự phát triển tiếp nối quy mô những hạt giống ông đã gieo trong The Element như một “tác phẩm để đời” của ông. Trung tâm của vấn đề là làm sao giáo dục giúp con người tìm được “bản gốc” của chính mình trong thời đại ngày càng quá phức tạp. Ông nhận thấy rằng sự sáng tạo đã bị nền giáo dục chính thống kềm hãm và đánh mất rất nhiều.

Câu chuyện đó không hoàn toàn mới. Một thế kỷ trước đã từng có người đặt vấn đề đó. Rồi Thung lũng Silicon cũng từng đưa ra những tín hiệu như thế, mạnh mẽ hơn, với nhiều chứng cứ dễ thấy hơn, rằng sáng tạo có thể bị hoang phí ở những con người trẻ. Điều thú vị là nền giáo dục nhân bản đang được đòi hỏi kia lại có mối liên hệ hữu cơ với quan niệm giáo dục “cổ điển” của Albert Einstein mà tôi đã trình bày gần đây.

Print Friendly and PDF

10.7.21

Địa chính trị của bóng đá đương đại

ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA BÓNG ĐÁ ĐƯƠNG ĐẠI

Ví dụ về bóng đá minh họa nhữg hứa hẹn lẫn nguy cơ của toàn cầu hóa.

TÁC GIẢ: Branko Milanovic

DỊCH GIẢ: Ulysse Lojkine

Ngày 15 tháng 7 năm 2018

Các quy tắc của bóng đá thế giới cho phép các nước nghèo hưởng lợi một phần từ tình trạng “chảy máu đôi chân [cầu thủ nội ra nước ngoài thi đấu cho các câu lạc bộ nước ngoài – ND]”, trong chừng mực các đội tuyển quốc gia được quyền triệu tập những cầu thủ [đang thi đấu ở nước ngoài] của họ tham gia các giải đấu quốc tế, các nước này hưởng lợi từ những kỹ năng mà các cầu thủ của mình có được khi được các câu lạc bộ nước ngoài, ở một trình độ và chất lượng cao hơn tuyển dụng.[1]

Đây là một ví dụ về tính hiệu quả, nhưng cũng là sự bất bình đẳng gây ra bởi toàn cầu hóa, những thứ có thể được các định chế toàn cầu khai thác để giúp cải thiện những kết quả mà các nước nghèo đó được hưởng lợi.

Print Friendly and PDF

8.7.21

Chủ nghĩa Nhà nước II

 

CHỦ NGHĨA NHÀ NƯỚC II

Michael Rappaport

Trong bài viết trước, Chủ nghĩa Nhà nước I, tôi đã định nghĩa chủ nghĩa nhà nước |statism| là sự ôm đồm quá mức và có hại đối với quyền lực của nhà nước. Giờ đây, để thấy được mức độ thịnh hành của chủ nghĩa nhà nước, tôi muốn chỉ ra chủ nghĩa nhà nước đã dần dần tiêm nhiễm cái xấu lên các mô hình chuẩn của kinh tế học như thế nào — một trong những chuyên ngành được xem là ủng hộ thị trường nhất trong giới học thuật.

Luận điểm của tôi về kinh tế học rất đơn giản. Một trong số các câu hỏi căn bản của kinh tế học là liệu các vấn đề có phải nên do thị trường hay do chính phủ giải quyết không. Khi so sánh hai thể chế này, hiển nhiên là ta nên tiến hành một cách công bằng và sau đó quyết định liệu thể chế nào hoạt động tốt hơn. Tuy nhiên, đó không phải cách kinh tế học tân cổ điển xử lý vấn đề. Thay vào đó, khi phát hiện một khía cạnh trong hành vi con người có thể tác động lên quá trình ra quyết định, trường phái này luôn áp dụng lý thuyết theo một cách thiên lệch thường thấy để chính phủ được lợi thế hơn thị trường.

Hãy bắt đầu với thế giới của hai thể chế hoàn hảo – một chính phủ dân chủ thiện ý mưu cầu công lợi với tri thức một thị trường có đặc trưng là sự cạnh tranh hoàn hảo. Cả hai thể chế đều hoạt động tốt nhưng tất nhiên chẳng ai cho rằng đó là một bản mô tả về thế giới thực.

Print Friendly and PDF

7.7.21

Công ty GameStop: Chiến thắng hão huyền của Phố Main trước Phố Wall

CÔNG TY GAMESTOP: CHIẾN THẮNG HÃO HUYỀN CỦA PHỐ MAIN TRƯỚC PHỐ WALL

Ngày 17 tháng 2 năm 2021

Tác giả: Nicolas Mottis, giáo sư về Quản trị sự đổi mới và Tinh thần doanh nhân tại trường Đại học Bách khoa (IP Paris)

Nicolas Mottis

Tháng 1, giá cổ phiếu GameStop (công ty mẹ của nhà phân phối trò chơi điện tử Micromania) là đối tượng đầu cơ quy mô lớn từ các nhà cổ đông cá nhân. Giá cổ phiếu đã được nhân lên gấp 24 lần, trong vài ngày từ 20 US$ lên 482 US$ một cổ phiếu vào ngày 28 tháng 1 vào thời điểm giữa phiên giao dịch. Định giá cổ phiếu này đã đạt đến mức 20 tỷ euro, sau đó rớt xuống còn khoảng 3,5 tỷ. Nhiều quỹ đầu cơ, vốn đặt cược vào giá giảm, đã phải bảo vệ vị thế của họ và đã chịu lỗ rất nhiều tỷ US$ (Melvin Capital, Citron Research). Động thái chưa từng có tiền lệ này bắt nguồn từ mạng xã hội Reddit và diễn đàn Wallstreetbets của nó, nơi hàng triệu người đã gặp nhau để bàn luận về công ty GameStop.

Các quỹ đầu cơ đã thua lỗ rất lớn, nhưng liệu có thể thực sự nói đến chiến thắng của các nhà cổ đông cá nhân hay không?

Không hề! Đã có rất nhiều nhà giao dịch cổ phiếu nhỏ lẻ xuất hiện vào hồi kết của phong trào đầu cơ và đã bị thua lỗ đáng kể. Vả lại, chúng ta có thể thấy điều đó qua tin nhắn của họ trên các mạng xã hội. Họ không ngần ngại niêm yết hiệu suất kém cỏi của mình một cách hùng hồn, đôi khi số tiền thua lỗ lên đến hàng chục nghìn US$. Đó là chiều kích chính trị của công ty GameStop.

Giải thích hiện tượng này như thế nào?

Print Friendly and PDF

6.7.21

Để dứt điểm với thuyết âm mưu

ĐỂ DỨT ĐIỂM VỚI THUYẾT ÂM MƯU

Umberto Eco[*]

Vì năm 2020 cũng đã chứng kiến sự lây lan của một virus khác, nên cần khẩn cấp khởi động một suy nghĩ dài hơi về thuyết âm mưu. Đây là một bài có tính chất kinh điển của Umberto Eco: từ Karl Popper đến Dan Brown, ông đặt nền tảng cho một sự hiểu biết về hiện tượng thuyết âm mưu, đồng thời kể cho chúng ta một câu chuyện một cách tài tình.

Có những âm mưu và luôn luôn đã có, điều đó là hiển nhiên đối với tôi: từ vụ ám sát Jules César đến âm mưu ám sát không thành vua James I của nước Anh (conspiration des Poutres) hay âm mưu của Georges Cadoudal về bộ máy hung bạo[1], cho đến những âm mưu tài chính ngày nay được dàn dựng nhằm mục đích làm tăng giá trị cổ phiếu của một vài công ty. Nhưng đặc điểm chính của những âm mưu thực sự là chúng bị phát hiện ngay lập tức, dù là chúng thành công, như trong trường hợp Jules César, hay thất bại như âm mưu của Orsini chống lại Napoléon III. Những mưu mẹo trong hoàng cung không đến nỗi bí mật như ta nghĩ. Điều mà chúng ta quan tâm hơn là hiện tượng hội chứng thuyết âm mưu được kèm theo sự hiện hữu hoang đường của các âm mưu đôi khi là ảo ảnh tràn ngập trên internet. Những âm mưu này vẫn còn bí ẩn và không thể thăm dò được, vì chúng có chung nét đặc sắc của bí mật mà Simmel đã mô tả rất rõ. Bí mật này lại càng mạnh mẽ và hấp dẫn vì nó rỗng không. Nhưng một bí mật kiểu này tạo thành một sự đe dọa: nó không thể được tiết lộ hay tranh cãi, và chính vì lý do này mà nó trở thành một công cụ của quyền lực.

Print Friendly and PDF

5.7.21

Đá luân lưu: thủ môn, chiến lược gia không ai để ý đến, cầu thủ mà các nhà kinh tế học cần hết sức lưu ý

ĐÁ LUÂN LƯU: THỦ MÔN, CHIẾN LƯỢC GIA KHÔNG AI ĐỂ Ý ĐẾN, CẦU THỦ MÀ CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC CẦN HẾT SỨC LƯU Ý

Ngày 1 tháng 7 năm 2021

Angela Sutan Antoine Malézieux

Thủ môn Thụy Sĩ Yann Sommer bùng nổ niềm vui sau khi đánh bại Kylian Mbappé [ở loạt đá luân lưu]. Justin Stterfield / Pool / AFP
“(Kylian) Mbappé cảm thấy có lỗi nhưng anh ấy không cần phải như vậy,” huấn luyện viên đội tuyển Pháp Didier Deschamps đã cho biết trong cuộc họp báo sau thất bại của The Blues [đội tuyển Pháp] trên chấm phạt đền vào đêm thứ Hai trước Thụy Sĩ trong khuôn khổ vòng 1/8 Giải bóng đá Euro ở Bucharest, Romania. Một vài nhận xét bắt nguồn từ kinh tế học hành vi có xu hướng chứng minh nhận định trên đúng.
Didier Deschamps (1968-)
Kylian Mbappé (1998-)

Vì lý do hiển nhiên có vẻ như không phải là tiền đạo sút hỏng quả phạt đền mà chính thủ môn người Thụy Sĩ, Yann Sommer mới là người đã cản phá thành công quả phạt đền này. Thay vì lên án cầu thủ người Pháp, có vẻ sẽ thích đáng hơn khi nhìn vào thành tích của đối thủ người Thụy Sĩ. Quả thực, anh ấy đã có thể đoán được điều gì đó về hướng sút...

Khi bình luận về các loạt đá luân lưu, chúng ta thường có thói quen xem số liệu thống kê thành công của các cầu thủ [đá luân lưu]. Nhưng lại ít chú ý đến thành tích của các thủ môn, một điều sai lầm. Mbappe đã có hơn 80% cơ hội sút phạt đền thành công. Trong số 16 lần sút phạt đền trong sự nghiệp của mình, anh đã thành công 13 lần (một trong hai lần ở đội tuyển Pháp).

Với tỷ lệ 80% này, anh ấy gần như nằm trong mức thành công trung bình của giới cầu thủ chuyên nghiệp. Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các cầu thủ sút phạt đền có 79% cơ hội nhìn thấy bóng vào lưới, theo các số liệu thống kê.

Trong trường hợp nào, ít hơn, một cầu thủ có khả năng đá hỏng quả phạt đền? Các nghiên cứu về hoạt động của não bộ đã chỉ ra rằng, về phía cầu thủ sút phạt đền, tốt hơn là không nên tính toán quá mức về hậu quả cú sút của cầu thủ: cầu thủ càng căng thẳng, thì càng có ít cơ hội thành công. Tuy nhiên, các nghiên cứu này không xem xét đến những gì đang diễn ra trong đầu của thủ môn.

Print Friendly and PDF

4.7.21

Buchanan-Tullock: The Calculus of Consent

Buchanan James M., Tullock Gordon

THE CALCULUS OF CONSENT. LOGICAL FOUNDATIONS OF CONSTITUTIONAL DEMOCRACY

(Ann Arbor, The University of Michigan Press, 1962)

Gordon Tullock (1922-2014)

The Calculus of Consent, xuất bản năm 1962, là một cuốn sách bản lề kết thúc một giai đoạn tiên phong và mở ra một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn ở tiếp giáp của kinh tế học và khoa học chính trị. Thật vậy, vào năm 1962, khoa học kinh tế đã không mấy chú ý đến public choice và kinh tế chính trị học hợp hiến, ngoại trừ vài nhà kinh tế lớn từng để lại dấu ấn trên nghiên cứu chính trị-kinh tế trong nửa sau của thế kỉ XIX. Chẳng hạn Joseph Schumpeter lần đầu tiên đề xuất một định nghĩa sáng tạo của nền dân chủ. Trong sơ đồ của ông, các chính trị gia rõ ràng nắm được quyền lực ra quyết định bằng một cuộc cạnh tranh mà đối tượng là lá phiếu của người dân (Schumpeter, 1943). Vả lại, theo hướng của Condorcet và Borda, việc nghiên cứu quy tắc ra quyết định đã nhanh chóng phát triển: năm 1958, Black tiến hành một phân tích chặt chẽ về quy tắc đa số và những quyết định của các uỷ ban để làm rõ ưu đãi của cử tri trung vị (Duncan Black, 1958). Trào lưu này được những đóng góp của Kenneth Arrow (1951) và môn đồ của ông là Anthony Downs (1957) làm cho phong phú. Arrow, người sẽ được giải Nobel năm 1972, chứng minh và hoàn chỉnh “đnh lí bất khả tổng quát” theo đó dân chủ không có khả năng phát triển trên cơ sở một quy tắc tổng gộp những sở thích cá nhân tôn trọng những điều kiện đơn giản của tính chặt chẽ logic và chính trị. Downs công bố cuốn sách đầu tiên có hệ thống về một lí thuyết kinh tế của nền dân chủ, một hệ thống trong đó cử tri ra những quyết định bầu cử trên cương vị là những tác nhân duy lí. Trên cái nền này, The Calculus of Consent sẽ khai trương một trào lưu mới không ngừng được các nhà kinh tế phát triển trong những năm 1960 và 1970. Ngoài tầm quan trọng của riêng nó, trào lưu này còn ảnh hưởng đến trào lưu public choice và được dùng làm điểm tham chiếu cơ bản cho tạp chí cùng tên do chính Gordon Tullock lãnh đạo.

James Buchanan (1919-2013)

Buchanan 43 tuổi khi cuốn sách được xuất bản. Sinh năm 1919 tại Murfreesboro, bang Tennessee, ông học tại đại học Chicago rồi giảng dạy tại đại học Virginia từ năm 1956 đến năm 1968: chính ở đây ông đã tạo dựng những suy nghĩ mà sau này sẽ được biến cách dưới nhiều khía cạnh. Hơn nữa ông cũng sẽ lãnh đạo trung tâm Thomas Jefferson Center tại đại học này. Tiếp đó, mang theo một tính độc đáo có hệ thống, ông tham gia nghiên cứu tại nhiều đại học, trong số đó có University of California, trước khi quay trở lại Virginia, nhưng lần này tại viện Virginia Political Institute. Tullock, lúc bấy giờ 40 tuổi, chứng tỏ có một undisplined originality (tính độc đáo vô kỉ luật) như nhận định của đồng nghiệp ông. Sinh năm 1922 ở Rockford, bang Illinois, ông bắt đầu sự nghiệp với tư cách nhân viên ngoại giao ở Trung Quốc, điều sẽ để lại dấu ấn hiển nhiên trong các công trình sau này của ông. Từ năm 1962 đến năm 1967, ông cùng làm việc với Buchanan ở đại học Virginia, giai đoạn này họ sẽ hoàn chỉnh nhiều luận điểm được họ phát triển và sau đó công bố dưới tên hai người hoặc đứng tên riêng. Sau này, cả hai tiếp tục sự nghiệp của mình trong ba đại học của bang Virginia và hai đồng tác giả vẫn trung thành với dự án được xác định trong cuốn The Calculus of Consent. Trong tác phẩm này, họ phát triển nhiều chủ đề phân tích, trong một cuộc đối thoại thường trực, chứa đựng nhiều thành quả phong phú và trực giác. Năm 1986, James M. Buchanan nhận giải khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel vì “sự phát triển những cơ sở hiến pháp và khế ước cho lí thuyết ra quyết định chính trị và kinh tế”. Kể từ đó, ông đã phát triển nhiều đóng góp làm phong phú cho lí thuyết những hiệu ứng ngoại lai, lí thuyết câu lạc bộ và những sản phẩm công, lí thuyết hiến pháp. Nhiều tác phẩm của ông ngày nay được thừa nhận trên toàn thế giới: The Limits of Liberty: Between Anarchy and Leviathan (1975); Democracy in Deficit: The Political Legacy of Lord Keynes, cùng với Richard E. Wagner (1977); The Power to Tax: Analytical Foundations of a Fiscal Constitution, cùng với Joeffrey Brennan (1980). Sự nghiệp hàn lâm rất tích cực của Gordon Tullock được điểm xuyết bằng nhiều giải thưởng, như Adam Smith Award năm 1993. Là nhà sáng lập Public Choice Society, ông tham gia ban lãnh đạo của nhiều hiệp hội, và trong nhiều công trình ông nêu bật những ứng dụng có thể của trường phái Public Choice, như The Politics of Bureaucracy (1965), The Logic of Law (1971), The Economics of War and Revolution (1974), Autocracy (1987), Rent Seeking (1993).

Print Friendly and PDF

3.7.21

Tư Tưởng Toán Học (J. Piaget, 1950)

Từ khóa: Toán học – Đối tượng và Phương pháp; Piaget, Jean – Trích đoạn

TƯ TƯỞNG TOÁN HỌC (1950)

Tác giả: Jean Piaget*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Jean Piaget (1896-1980)

Khả năng xây dựng một khoa toán học có năng lực, vừa suy diễn chặt chẽ, vừa thích nghi chính xác vào kinh nghiệm, đã là vấn đề trung tâm của triết lý khoa học từ lâu. Nhưng ngày nay bận tâm này chắc chắn còn trở nên khiêu khích hơn nữa từ quan điểm của nhận thức luận phát sinh[1].

Thực vậy, một mặt các ngành toán học đều thích nghi một cách chi tiết nhất vào hiện thực vật lý. Cho dù các cấu trúc cũng như những quan hệ mà các nhà vật lý học khám phá ra trong thế giới vật chất là đa tạp và khác nhau đến đâu, họ chưa bao giờ tìm thấy một cấu trúc hoặc quan hệ nào mà lại không thể được diễn đạt chính xác bằng ngôn ngữ toán học, như thể là có một sự hài hòa nào đó đã được thiết lập từ trước, giữa mọi khía cạnh của vũ trụ vật lý với những khung trừu tượng của các môn hình học và giải tích. Còn hơn thế nữa: sự ăn khớp này không chỉ xuất hiện vào thời điểm một định luật vật lý vừa được khám phá ra, hay ngay sau đó, mà có vẻ như các sơ đồ toán học đã dự đoán, từ nhiều năm trước, những nội dung kinh nghiệm sẽ đến lồng vào chúng. Tất nhiên, các hình thức hình học và giải tích này có thể đã được thực hiện ngoài mọi quan tâm đến hiện thực. Thế nhưng, một khi chúng được kết hợp chặt chẽ bằng lô-gic diễn dịch, chúng ta không những chỉ chắc chắn rằng các thí nghiệm sẽ không bao giờ cho thấy chúng là sai, mà điểm nghịch lý là, dù sớm hay muộn, các thí nghiệm còn sẽ thỏa mãn chúng ít nhất một phần, hay sẽ thích ứng chính xác vào chúng. Ví dụ đẹp nhất về việc lồng hiện thực vào các khung đã được chuẩn bị bằng diễn dịch toán học này chắc chắn là trường hợp của hình học Riemann[2]. Đây là một kết cấu tự do và táo bạo, được theo đuổi bên rìa của hình học cổ điển, thậm chí còn mâu thuẫn cả với định đề [thứ năm] nổi tiếng của Eukleidês[3] nữa, mà dù không được chứng minh, chúng ta vẫn xem như đã bị bắt buộc phải chấp nhận bởi sự quan sát trực tiếp. Đây là một điển hình về sự sáng tạo tự do của lý trí toán học không bận tâm với hiện thực. Rốt cuộc, sau hơn nửa thế kỷ thách thức đối với hiện thực vật lý này, bây giờ chính vật lý học lại xem hình học của Riemann là thích hợp hơn hình học của Eukleidês để giải thích các hiện tượng trọng lực (gravifiques): thuyết tương đối chỉ sử dụng đơn thuần cái khung đã được chuẩn bị này chứ không thêm gì hết, nhưng sáng tạo thiên tài của Riemann đã được thí nghiệm xác lập. Một ví dụ khác trong cùng thời kỳ đổi mới của vật lý học: năm 1900, Ricci và Lévi-Civita[4], do muốn rút dạng thức phương trình vi phân ra một cách độc lập với các hệ tọa độ, đã thiết lập “phép tính vi phân tuyệt đối (calcul différentiel absolu)”; thế rồi, cái sơ đồ vốn là công trình xa xỉ thuần túy của hai nhà toán học khát khao nghiêm ngặt này, vài năm sau bỗng trở thành công cụ thiết yếu để A. Einstein sử dụng, bởi vì nếu không có phép tính tenxơ (calcul tensoriel), thì thuyết tương đối sẽ bị tước mất kỹ thuật đặc thù của nó. Các “số ảo” (nombres imaginaires, chỉ riêng tên gọi cũng đủ để biểu thị “ý đồ của người lập quy tắc” về chúng!) là một ví dụ kinh điển khác về loại dự đoán tương tự: tuy phát sinh đơn giản từ sự khái quát hóa các phép toán số học, chúng vẫn đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn trong hình học, cơ học, lý thuyết về các biến phức (variables complexes), và do đó, trong toàn bộ môn giải tích, với vô số ứng dụng của nó. Cuối cùng, có thể dễ dàng tích lũy thêm các ví dụ trong lĩnh vực vật lý vi mô hiện tại, bởi vì nó sử dụng các sơ đồ toán học có sẵn đa dạng nhất, từ phép tính ma trận (calcul des matrices, nơi chúng ta tìm thấy vai trò của loại số ảo) cho đến các “không gian trừu tượng (espaces abstraits)”, mà sự tiếp xúc với hiện thực kinh nghiệm có lẽ là một trong những nghịch lý lạ lùng nhất của nghiên cứu khoa học đương đại.

Print Friendly and PDF

2.7.21

Biểu tượng của nhà sáng tạo ở Hoa Kỳ vẫn là người đàn ông da trắng - và đó là trở ngại cho việc hòa nhập về giới và chủng tộc

BIỂU TƯỢNG CỦA NHÀ SÁNG TẠO Ở HOA KỲ VẪN LÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG DA TRẮNG - VÀ ĐÓ LÀ TRỞ NGẠI CHO VIỆC HÒA NHẬP VỀ GIỚI VÀ CHỦNG TỘC

Tác giả: Anjali Vats

Khi Tổng thống Barack Obama ký Đạo luật Cấp phát bằng sáng chế của Hoa Kỳ vào năm 2011, xung quanh ông là một nhóm người thuộc nhiều lứa tuổi, giới và chủng tộc. Bài phát biểu của ông về luật đã làm thay đổi các yêu cầu kỹ thuật đối với việc đăng ký bằng sáng chế, nêu bật sự đa dạng trên bằng cách nhấn mạnh rằng ngày nay bất kỳ ai cũng có thể trở thành nhà sáng chế ở Hoa Kỳ.

Bất chấp sự lạc quan của Obama về việc nữ giới và người da màu sáng chế và đăng ký bằng sáng chế cho các công nghệ mới và sáng tạo của quốc gia, cả hai nhóm này vẫn tụt hậu đáng kể so với các đồng nghiệp nam giới da trắng trong việc được công nhận là nhà sáng chếsở hữu bằng sáng chế, ở Hoa Kỳ và trên toàn cầu. Nữ giới và người da màu có cùng năng lực trí tuệ giống như những đồng nghiệp nam giới da trắng. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm liên tục cho thấy rằng luật bằng sáng chế đã cấp bằng sáng chế một cách áp đảo cho nam giới da trắng vì lao động và kỹ năng của họ.

Điều này một phần là do nữ giớingười da màu tham gia các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) với số lượng thấp hơn nhiều so với nam giới da trắng. Năm 2017, nữ giới chiếm hơn một nửa lực lượng lao động, nhưng chỉ chiếm 29% các công việc STEM. Nhưng ngay cả những người nữ và người da màu đi vào lĩnh vực STEM có sáng chế và được cấp bằng sáng chế cũng ít hơn nhiều lần so với những người đồng nghiệp nam da trắng của họ.

Câu hỏi là tại sao.

Print Friendly and PDF

1.7.21

Kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc: khi Tập Cận Bình viết lại lịch sử

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC: KHI TẬP CẬN BÌNH VIẾT LẠI LỊCH SỬ

Alex Payette

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn đánh bóng lại hình ảnh thời Mao-ít từ năm 1949 đến năm 1976. (Nguồn: Foreign Affairs)

Cách mạng Văn hóa? Một “kinh nghiệm quý báu”. Thời kỳ Mao-ít từ năm 1949 đến năm 1976? 27 năm thành tựu to lớn, với những thành quả ấn tượng”. Đó là những yếu tố mới trong ngôn từ của Tập Cận Bình và những người thân cận ông để viết lại lịch sử Đảng. Đối với sự kiện kỷ niệm một trăm năm ngày thành lập ĐCSTQ, cần trở về cội nguồn, dù phải quay lưng lại với cách nhìn của Đặng Tiểu Bình. Và làm như thể Trung Quốc sống biệt lập với thế giới.        

Vương Hỗ Ninh (1955-)

Tháng 6 luôn là một thời kỳ nhạy cảm đối với Đảng[1]. Chưa đầy ba tuần nữa sẽ là lễ kỷ niệm một trăm năm ngày thành lập Đảng, người ta cảm thấy được áp lực. Bằng chứng là lời kêu gọi của Tập Cận Bình vào ngày 1 tháng 6, đưa ra hình ảnh một nước Trung Quốc thân thiện và đáng kính. Điều đó nói lên rất nhiều điều về bầu không khí chung: Đảng phải thay đổi diễn ngôn để thể hiện một bộ mặt đẹp đẽ vào tháng Bảy. Liệu đây có phải là tuyên bố về một sự chuyển hướng thực sự sau hơn 4 năm thực thi chính sách ngoại giao hung hăng? Có cơ sở để nghi ngờ điều đó. Hơn nữa, một khi bộ máy Đảng-Nhà nước đã phát động thì khó có thể ngăn được. Từ quan điểm Mao-ít thuần túy, sự thay đổi giọng điệu này giống như một kiểu chiến tranh du kích tu từ học: thay đổi mạnh diễn ngôn để khiến thế giới bên ngoài phản ứng và làm cho nó bất ổn. Mặt khác, xin lưu ý rằng Tập đã trực tiếp gửi đi thông điệp cho cả thế giới bên ngoài lẫn các cán bộ Đảng trong một cuộc họp của Bộ Chính trị: điều đó giống như một nỗ lực nhằm tránh ảnh hưởng của Vương Hỗ Ninh [Wang Huning], nhà tư tưởng của Đảng, trong nội bộ bộ máy tuyên giáo.

Print Friendly and PDF