20.8.22

Lịch sử kinh tế

 

LỊCH SỬ KINH TẾ

Economic History

è Giải Nobel: FOGEL, 1993 NORTH, 1993

Lịch sử kinh tế, trong thế kỉ XX, đã chấp nhận một cách tiếp cận ngày càng có tính định lượng. Và ở cương vị này, bộ môn đã giữ một vai trò độc đáo, trong nội bộ những khoa học nhân văn, vì đã dần dần triển khai những phương pháp thống kê tinh vi hơn, xây dựng một tập nhất quán những chuỗi thời gian, cũng như vì những kiến giải do bộ môn đề nghị để hiểu tốt hơn những hướng tiến hoá của thế giới đương đại, dựa trên những khái niệm và công cụ phân tích mượn của khoa học kinh tế khi không tự mình tạo nên những khái niệm và công cụ phân tích đặc thù. Những ràng buộc này đã biến bộ môn này thành một khoa học có vẻ là mới, nhất là khi so sánh với ba cách tiếp cận của lịch sử kinh tế như từng được vận dụng trong thế kỉ XIX cách tiếp cận của các nhà kinh tế, có tính đặt vấn đề và tính tổng thể theo cách của trường phái thể chế Đức, cách tiếp cận của các nhà thống kê, tập hợp những dãy dữ liệu lương và giá cả và cách tiếp cận của các nhà sử học, có tính mô tả nhiều hơn. Nhưng mối quan tâm lượng hoá đã có mặt trong những nghiên cứu được công bố trước đây với mục đích trình bày những biến giải thích những chu kì của thế kỉ XVIII và XIX: hoặc là việc phân chia lợi nhuận-lương theo cách nhìn của C. E. Labrousse (1933-1944) trong những phân tích của ông về các cuộc khủng hoảng Pháp, hoặc là xuất khẩu và đầu tư trong khuôn khổ của những công trình của A. D. Gaver (1953), R. C. O. Matthews (1954) và của D. C. North (1961) về những biến động kinh tế Anh-Mĩ. Khác biệt chủ yếu giữa những công trình này với những công trình được dùng làm cơ sở cho những trường phái gần đây hơn là ở việc mở rộng trường nghiên cứu tới chân trời rất dài hạn và ở việc vận dụng một cách tiếp cận kinh tế vĩ mô nhằm đo đạc, rồi giải thích, không phải là những tai nạn ở từng thời điểm của tình thế kinh tế mà là những quá trình công nghiệp hoá, và một cách tổng quát hơn, sự tăng trưởng của những nước Tây phương và của thế giới thứ ba

Print Friendly and PDF

18.8.22

Hồng Kông: giải phẫu một sự biến mất, sự ra đời một Nhà nước cảnh sát (1/2)

HỒNG KÔNG: GIẢI PHẪU MỘT SỰ BIẾN MẤT, SỰ RA ĐỜI MỘT NHÀ NƯỚC CẢNH SÁT (1/2)

Tác giả: David Bartel

Bộ mặt mới của cảnh sát ở Hồng Kông. (Nguồn: VOI)

Bài viết dưới đây đã được đăng trên tạp chí The Economist, vào hôm 1 tháng 7 vừa qua, để “kỷ niệm” 25 năm ngày Hồng Kông trở về với đất mẹ, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Được đăng một cách ẩn danh, bài viết này được dành cho các tác nhân lỗi lạc để họ lên tiếng về những diễn biến mới nhất. Từ tỷ phú Lê Trí Anh (Jimmy Lai, đang ở tù) đến nhà Hán học Perry Link (bị cấm ở Trung Quốc), cho đến tay trùm giàu có và quyền lực Thẩm Đống (Desmund Shum, sống lưu vong ở Hoa Kỳ), bài viết giúp hiểu rõ tầm quan trọng của Hồng Kông đối với nhà cầm quyền Trung Quốc, ngay từ khi chuẩn bị các cuộc đàm phán về việc bàn giao [Hồng Kông] vào năm 1984. Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quan hiếm có để được Asialyst dịch và đăng lên.

Một phần tư thế kỷ sau khi Hồng Kông được bàn giao cho Trung Quốc, kết cấu, âm thanh và ánh sáng của thành phố chỉ thay đổi chút ít. Ở các khu chợ có mái che, những con cá chép vẫn ở đó, dưới những ngọn đèn màu đỏ, mà người bán cá sử dụng để làm tăng vẻ tươi sống của chúng. Ở các trung tâm thương mại cao cấp, người mua sắm vẫn tôn sùng các vị thần của thị trường chứng khoán và điện thoại. Người công nhân vẫn đổ mồ hôi trên các công trường xây dựng, với tiếng đập của những chiếc máy búa khoan hòa cùng tiếng gầm của xe tàu điện.

Địa hình của hòn đảo tiếp tục khiến bao con tim đập nhanh hơn. Phía sau một trung tâm hội nghị nằm kẹp giữa một bên là bến cảng Victoria, và bên kia là đường phân thuỷ phủ đầy rừng rậm, dẫn đến Đỉnh núi (Peak) nổi tiếng, nơi lấp lánh ánh đèn của một số căn hộ đắt tiền nhất hành tinh. Một xe tàu điện đổ dốc vẫn còn chở theo khách du lịch trong ngày. Xa hơn phía dưới, chiếc phà Star Ferry mang tính biểu tượng tiếp tục băng qua bến cảng.

Print Friendly and PDF

16.8.22

Nội phát luận và ngoại phát luận trong phát triển khoa học (P. Thuillier, 1973)

Từ khóa: Nội phát luận – Lịch sử Khoa học; Ngoại phát luận – Lịch sử Khoa học; Khoa học – Lịch sử – Phương pháp

NỘI PHÁT LUẬN, NGOẠI PHÁT LUẬN TRONG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC (1973)

Tác giả: Pierre Thuillier[1]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Tại sao khoa học “hiện đại” lại ra đời ở châu Âu vào thế kỷ 16 và 17? Câu hỏi hấp dẫn nhưng không dễ trả lời (...).

Pierre Thuillier (1932-1998)

Tất nhiên, những giải thích do giới chuyên gia đưa ra là nhiều và thường đều khác biệt. Điều này xuất phát một phần từ những lỗ hổng trong thông tin lịch sử, nhưng không chỉ vì thế mà khác hơn nhiều. Những xung đột đôi khi dữ dội giữa các sử gia khoa học có nguyên nhân sâu xa hơn: sự bất đồng của họ về chính bản chất của “khoa học”. Nhưng đấy cũng là một lý do khiến các cuộc tranh luận này là đáng quan tâm; không chỉ đơn thuần là kỹ thuật, chúng liên quan trực tiếp tới hình ảnh mà chúng ta có về hoạt động khoa học và vị trí của nó trong đời sống xã hội. Đừng bao giờ quên rằng, thông qua những tranh cãi mang tính học thuật về nền văn minh thời Phục Hưng, chính là các ý tưởng của chúng ta về văn hóa, tri ​​thc, lao động và cuc sng đang b th thách.

Đối với một số sử gia, khoa học về cơ bản là một kiến tạo của trí tuệ. Dấu nhấn được đặt trên đặc trưng của hoạt động khoa học, trên các thủ tục lô-gic được đưa vào cuộc bởi “phương pháp” nghiên cứu, và sự phát triển dần dần “nội dung” của các khoa học. Vấn đề cốt tủy là tri thc như hiu biết chân thc. Nghiên cứu nguồn gốc và sự phát huy của khoa học (hay các khoa học) là ghi lại lịch sử của những ý tưởng và khái niệm đã cho phép các lý thuyết khác nhau nảy nở. Một số “ảnh hưởng” từ bên ngoài được tính đến (đặc biệt là ảnh hưởng của triết học); nhưng trên thực tế, khoa học được xem là một lĩnh vực tự trị, trong đó những quan hệ với thế giới của hành động là hoàn toàn phụ thuộc. Sử gia tự chuyên môn hóa một cách khá hạn hẹp, do đó đào sâu hơn cái hố vốn đã sâu ngăn cách thứ lịch sử khoa học này với các ngành sử học khác: lịch sử kỹ thuật, lịch sử nghệ thuật, lịch sử của sự phân công lao động, lịch sử chính trị, v.v.. Đây thường được gọi là quan điểm “nội phát (internalistes)”.

Print Friendly and PDF

14.8.22

Thời đại thái cực 1914 (13): “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”

THỜI ĐẠI THÁI CỰC 1914 – 1991 (13)

THE AGE OF EXTREMES

Tác giả: Eric J. Hobsbawm; Người dịch: Nguyễn Ngọc Giao

PTKT: Kể từ tháng 8.2021, chúng tôi lần lượt đăng tiếp các chương còn lại của tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991. Để có một cái nhìn chung giới thiệu tác giả và tác phẩm, mời bạn đọc lại bài Nhà sử học của hai thế kỷ.

MỤC LỤC

Lời tựa và Cảm tạ

Lời tựa bản tiếng Pháp

Hình ảnh minh họa

Chú thích các hình ảnh

Thế kỉ nhìn từ đường chim bay

Phần thứ nhất - THỜI ĐẠI TAI HỌA

chương 1 Thời đại chiến tranh toàn diện

chương 2 Cách mạng thế giới

chương 3 Dưới đáy vực thẳm kinh tế

chương 4 Sự suy sụp của chủ nghĩa liberal

chương 5 Chống kẻ thù chung

chương 6 Nghệ thuật, 1915-1945

chương 7 Sự cáo chung của các Đế chế

Eric J. Hobsbawm (1917-2012)

Phần thứ hai - THỜI ĐẠI HOÀNG KIM

chương 8 Chiến tranh Lạnh

chương 9 Thời đại Hoàng kim

chương 10 Cách mạng xã hội, 1945-1990

chương 11 Cách mạng văn hóa

chương 12 Thế giới thứ Ba

chương 13 “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”

Phần thứ ba: SỤP ĐỔ

chương 14 Những thập niên Khủng hoảng

chương 15 Thế giới thứ Ba và cách mạng

chương 16 Sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội

chương 17 Tiền phong hấp hối: nghệ thuật sau 1950

chương 18 Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành khoa học tự nhiên

chương 19 Tiến tới thiên niên kỉ mới

* * *

Phần thứ hai

THỜI ĐẠI HOÀNG KIM

Chương 13

“CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN TỒN”

“Cách mạng tháng Mười không những đã tạo ra sự kiện lịch sử là phân chia thế giới khi nó kiến lập nhà nước và xã hội hậu – tư bản chủ nghĩa đầu tiên, mà nó còn tách bạch học thuyết Marx khỏi các phong trào chính trị XHCN. […] Sau Cách mạng tháng Mười, các chiến lược và viễn tượng XHCN bắt đầu dựa trên một mô hình chính trị cụ thể hơn là trên sự phân tích chủ nghĩa tư bản”.

Göran THERBORN (1985, tr. 227)

 

“Ngày nay, các nhà kinh tế học […] hiểu rõ các phương thức hiện tồn của sự vận hành kinh tế hơn trước đây rất nhiều – phương thức hiện tồn đối lập với phương thức hình thức. Họ biết là có một “nền kinh tế thứ hai”, thậm chí một “nền kinh tế thứ ba”, và cả một mớ hỗn độn những thực tiễn bán chính thức khá phổ biến, mà nếu không có chúng, thì không tài nào một nền kinh tế có thể vận hành được.

Moshe LEWIN, trong Kerblay (1983, tr. XXII)

 

I

 

Vào đầu thập niên 1920, khi cuộc thế chiến và cuộc nội chiến đã tàn lụi, khi máu trên các tử thi và trên những vết thương đã đông đặc, thì Đế quốc Nga Chính thống giáo của triều đại Sa hoàng trước năm 1914 lại trỗi dậy, gần như nguyên vẹn – chỉ khác là nó đặt dưới chính quyền của những người Bolshevik, và nó lao vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội toàn thế giới. Trong tất cả các đế chế cha truyền con nối hay tôn giáo đã tồn tại từ xưa, Đế quốc Nga là đế quốc duy nhất còn tồn tại sau Thế chiến thứ Nhất. Cuộc Chiến tranh Thế giới 1914-1918 này đã đánh sập Đế chế Ottoman, mà quốc vương cũng là giáo chủ của mọi người Islam, và cả Đế chế Habsburg có quan hệ đặc biệt với Giáo hội Công giáo Roma. Cả hai đế chế này đã sụp đổ trong chiến bại. Nếu nước Nga còn tồn tại dưới hình thái một thực thể đa dân tộc duy nhất, trên lãnh thổ mênh mông, từ biên giới Ba Lan phía Tây tới gần Nhật Bản phía Đông, chắc chắn là nhờ có Cách mạng tháng Mười, bởi vì những lực li tâm đã làm tan rã các đế chế khác, đến cuối thập niên 1980, đã nổi lên hay tái hiện ở Liên Xô, khi hệ thống cộng sản, nhân tố gắn kết sự tồn tại của liên bang từ năm 1917, đã buông tay từ nhiệm. Tương lai chưa biết sẽ ra sao, nhưng vào đầu thập niên 1920, Nga là nhà nước thống nhất, cực kì nghèo nàn và lạc hậu – hơn cả nước Nga Sa hoàng – nhưng to lớn “hoành tráng”: trong những thập niên giữa hai cuộc Đại chiến, người cộng sản vẫn luôn khoe khoang “1/6 diện tích thế giới”, với nhiệm vụ lịch sử là xây dựng một xã hội mới, đối nghịch với chủ nghĩa tư bản.

Print Friendly and PDF

12.8.22

Metaverse sẽ giúp ích cho văn hoá như thế nào

METAVERSE[*] SẼ GIÚP ÍCH CHO VĂN HÓA NHƯ THẾ NÀO

DIỄN ĐÀN. Ba nhà sử học tranh đấu để các tổ chức văn hóa thực hiện chuyển hướng qua thực tế ảo nhằm thu hút một công chúng mới.

Các tác giả: Arthur Chevallier, Raphaël Doan Baptiste Roger-Lacan[**]

Lịch sử là một mơ tưởng. Diễn tiến, cường độ, ký ức của nó dựa trên một sự tưởng tượng. Lịch sử là một khoa học, nhưng là một khoa học lỗi thời, nói theo từ ngữ của Gabriel Martinez-Gros. Nó được gợi lên bởi một niềm đam mê từ nguyên thủy, vốn không xuất phát từ sở thích về bác học hay phương pháp, cũng không phải từ sở thích về nguồn gốc hay kho lưu trữ, mà bởi một tình cảm mạnh mẽ, trẻ con, luôn luôn không được thỏa mãn: mong muốn đi ngược thời gian và biết được các thế giới đã mất và cư dân của họ như thế nào. Đó là điều làm cho những nơi như Pompéi hay Versailles trở nên hấp dẫn; đó là những nơi mà ta có thể tưởng rằng thời gian đã dừng lại hẳn. Là những người yêu thích, nhà nghiên cứu, độc giả, những người hiếu kỳ, nhà văn, phóng viên, trí thức, tất cả chúng ta, bất kể mối quan hệ của chúng ta với lịch sử như thế nào, đều bị thu hút bởi nim đam mê quan trọng này.

Chính vì vậy mà lịch sử vẫn là một khoa học được yêu thích vượt xa tất cả các ngành khoa học nhân văn khác. Bằng chứng là vị trí của các sách về lịch sử trong các nhà sách hay sự thành công của các kênh YouTube về các vấn đề lịch sử. Sở thích này không mới. Văn học, nghệ thuật và các kỹ thuật thường chiếm lấy đối tượng này [lịch sử], góp phần hình thành cách nhìn của chúng ta về quá khứ của mình. Chính là trong khi viết lịch sử mà Tacite đã cho ra đời những trang đẹp nhất và thơ mộng nhất của văn học cổ đại.

Print Friendly and PDF

10.8.22

Kính thiên văn James Webb: một nhà khoa học giải thích những hình ảnh đáng kinh ngạc đầu tiên của Webb cho thấy điều gì – và chiếc kính sẽ thay đổi thiên văn học như thế nào

KÍNH THIÊN VĂN JAMES WEBB: MỘT NHÀ KHOA HỌC GIẢI THÍCH NHỮNG HÌNH ẢNH ĐÁNG KINH NGẠC ĐẦU TIÊN CỦA WEBB CHO THẤY ĐIỀU GÌ – VÀ CHIẾC KÍNH SẼ THAY ĐỔI THIÊN VĂN HỌC NHƯ THẾ NÀO
Mô phỏng kính viễn vọng không gian James Webb khi đi vào hoạt động. Ảnh: NASA
Sau hàng thập kỷ phát triển và nhiều thử nghiệm cũng như thất vọng trong suốt chặng đường, kính thiên văn James Webb cuối cùng đã bắt đầu truyền về những thông tin đúng với mục đích nó được thiết kế. Vào ngày 12 tháng 7, Nasa đã công bố những quan sát khoa học đầu tiên được thực hiện bởi bộ thiết bị trên tàu sứ mệnh, ghi dấu cái mà chúng tôi háo hức mong đợi sẽ là sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong thiên văn học.

Print Friendly and PDF

8.8.22

Cuộc gặp với “vua” của Metaverse

CUỘC GẶP VỚI “VUA” CỦA METAVERSE

Andrew Bosworth, giám đốc công nghệ của Meta, tên mới của tập đoàn Facebook, muốn chuyển 1 tỷ người Trái đất sang một thế giới tồn tại song song.

Guillaume Grallet

Người ta rất thích nói chuyện với ông ấy về đặc ngữ tiếng Latinh “veritas” được xăm trên cổ tay trái của ông, về niềm đam mê của ông đối với đội bóng rổ San Francisco Warriors, hoặc về việc chuyên gia về khoa học thần kinh máy tính này, một ngành học đi tìm cách thiết lập sự tương tác giữa các chức năng nhận thức của con người với hoạt động của một máy tính, người đã dành cả tuổi thanh xuân trong một trang trại, sống giữa bầy ngựa và các vườn nho Grenache và Carignan, trên các ngọn đồi của Saratoga, một thị trấn nhỏ với 50.000 cư dân thuộc vùng duyên hải California, nơi mà Olivia de Havilland, ngôi sao điện ảnh nữ đã trưởng thành trong phim Gone with the Wind [Cuốn theo chiều gió]. Người ta rất thích được nghe ông kể về cuộc gặp với Mark Zuckerberg vào năm 2004, lúc Andrew Bosworth chỉ là một trợ lý giáo sư bình thường của đại học Harvard, giảng dạy các bài học về trí tuệ nhân tạo cho nhà sáng tạo tương lai của Facebook, một sinh viên đam mê công nghệ thông tin và không mấy chuyên cần. Hoặc giả quay trở lại cuộc tranh luận sôi nổi gần đây, vốn đối nghịch ông, một người mới lên nắm giữ vị trí tối cao là giám đốc công nghệ của Meta, công ty mẹ của Facebook, Instagram và WhatsApp, với Elon Musk. Đứng trước nhà tỷ phú lập dị, người tự hỏi trên Twitter rằng làm thế nào để có thể sửa lại những dòng tweet của chính mình sau khi đã đăng, “Boz [Andrew Bosworth]” đã đáp lại: “Chúng tôi đã giải quyết vấn đề này ở Facebook cách đây lâu lắm rồi.” Và ông nói thêm rằng đó “không thực sự là một vấn đề. Elon Musk đã bốp chát đáp trả: “Facebook khiến tôi nổi da gà.”

Print Friendly and PDF

6.8.22

Hồng Kông “không phải là thuộc địa của Anh”: ngôn ngữ của chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc mới

HỒNG KÔNG “KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH”: NGÔN NGỮ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC TRUNG QUỐC MỚI

Tamara Lui[*]

Phỏng vấn Antoine Vannière, sử gia tác giả cuốn Quảng Châu Loan, một thuộc địa trá hình. Một lãnh vực cho thuê của Pháp ở vùng nam Trung Quốc/Kouang-Tchéou-Wan, colonie clandestine. Un territoire à bail français en Chine du Sud 1898-1946, Éditions les Indes savantes, 2020, 690 pages, do Tamara Lui thực hiện

Lễ trao trả Hồng Kông, ngày 1 tháng 7 năm 1997. (Nguồn: Bloomberg)

Hai tuần trước lễ kỷ niệm 25 năm Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc. Hai tuần trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình đích thân tới dự, lần đầu tiên “ra ngoài” Lục địa kể từ cuối năm 2019 và thời điểm bắt đầu đại dịch. Ba nhà xuất bản sách giáo khoa đã nộp các bản sửa đổi của họ cho các cơ quan chức năng để bắt đầu năm học vào tháng Chín. Được coi là một cuộc cải cách, giáo trình này mang tên “Quyền Công dân và Phát triển Xã hội” và dành cho học sinh trung học đã thay thế cho giáo trình “Nghiên cứu Tự do” (“Liberal Studies”) gây tranh cãi. Trong đó có viết rõ ràng rằng “Hồng Kông không phải là thuộc địa của Anh”. Trước đây, một số sách giáo khoa trung học đã xóa cụm từ “Hồng Kông là thuộc địa của Anh”, và phiên bản cô đọng tạm thời của cuộc triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Hồng Kông không còn có từ “thuộc địa”. Theo một số người, mặc dù Vương quốc Anh cai trị Hồng Kông trên cơ sở quy chế “thuộc địa”, chính phủ Trung Quốc kể từ triều đại nhà Thanh đã không công nhận các hiệp ước bất bình đẳng và chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của mình đối với thành phố này. Đối với tờ Global Times rất chính thống và theo chủ nghĩa dân tộc, những thay đổi này đối với chương trình giảng dạy sẽ cho phép “một số giáo viên không còn truyền tải cho học sinh những quan điểm chính trị sai lầm và độc hại nữa”. Nhà sử học Antoine Vannière, tác giả của một luận án về sự xâm chiếm thuộc địa của Pháp ở miền nam Trung Quốc, giải thích cho Asialyst về các sắc thái của các thuật ngữ khác nhau và đưa ra cái nhìn của ông về địa chính trị Trung Quốc thông qua Hồng Kông.

Sự khác biệt giữa “lãnh thổ cho thuê” và “thuộc địa” là gì? Vượt lên trên vấn đề về chủ quyền, phải chăng đó là vấn đề thời hạn?

Print Friendly and PDF

4.8.22

Báo Khoa học

BÁO KHOA HỌC

Hà Dương Tường

Ba tạp chí trí thức những năm trước thế chiến II

1941. Thế chiến II bước sang năm thứ ba. Ở Đông Dương từ năm trước Nhật đã nhiều lần làm áp lực trên Pháp để chặn đường tiếp tế cho quân Tưởng Giới Thạch qua ngả đường sắt từ Hải Phòng đi Vân Nam, dẫn tới việc chính phủ Vichy thay toàn quyền Catroux (thân De Gaulle) bằng đô đốc Decoux (22.7.1941) và nắm quyền cai trị Đông Dương - trên thực tế là dưới sự giám sát của Nhật, cũng như ở chính quốc chính phủ Vichy tuy trên danh nghĩa là kiểm soát một nửa nước (“vùng tự do”) thực chất chỉ là bù nhìn của Đức quốc xã.

Về phía người Việt, những đợt đàn áp của thực dân sau các cuộc nổi dậy có phần manh động năm 1930 (khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc dân đảng, Xô viết Nghệ Tĩnh của đảng Cộng sản) làm suy yếu hẳn các đảng phái Quốc gia, nhưng những người Cộng sản đã tồn tại được nhờ bám rễ vào các thành phần cơ bản của xã hội, và đủ sức tiến hành một bước chuyển biến có tính quyết định với việc thành lập Mặt trận Việt Minh vào tháng 5.1941 và trở thành lực lượng nắm được ngọn cờ độc lập dân tộc trong mắt quốc dân.

Tuy nhiên, hai chữ “cộng sản” vẫn làm ngần ngại những thành phần trí thức ở các thành thị, và nhiều người trong thành phần này đã chọn con đường báo chí để nói lên tiếng nói của mình trước thời cuộc. Để tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của chính quyền thực dân (nên nhớ, tờ Ngày Nay của nhóm Tự lực Văn đoàn đã bị rút giấy phép năm 1940, nhiều người chủ chốt như Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí... bị Pháp bắt. Xem bài Giới thiệu Phong Hóa Ngày Nay của Phạm Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền trên mặt báo này) họ chọn đi vào các lãnh vực văn hoá, giáo dục, học thuật nhưng tâm tưởng về nền độc lập dân tộc không hề phai nhạt. Chỉ riêng trong năm 1941, mặc dù những điều kiện khó khăn của cuộc sống thời chiến, thuộc địa, đã xuất hiện các tờ tạp chí nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống văn hoá VN những năm sau: tờ Tri Tân (tháng 6) và Thanh Nghị (tháng 5). Một tờ khác chỉ ra đời vào tháng 1.1942 nhưng cũng đã được thai nghén trong cùng thời gian đó: Báo Khoa học. Những người chủ trương ba tạp chí đó đều là những trí thức nổi tiếng của đất nước thời đó, đều quen biết và tôn trọng lẫn nhau, như được nêu rõ trong hồi ký của luật gia Vũ Đình Hoè, người chủ trương tờ “Thanh Nghị” cùng với nhóm bạn của ông, các ông Hoàng Thúc Tấn, Phan Anh, Lê Huy Vân, Vũ Văn Hiền.

Thật vậy, chương mở đầu Hồi ký, viết về “Xuất xứ và tổ chức của Thanh Nghị”, sau khi nói về quá trình thảo luận dẫn đến quyết định làm tờ Thanh Nghị, và tình hình chung của các nhóm sinh viên, trí thức, cho biết thêm:

“Nhóm các nhà khoa học đứng tuổi như kỹ sư giám đốc thiên văn đài Phủ Liễn Nguyễn Xiển, giáo sư toán học Hoàng Xuân Hãn, bác sĩ bệnh viện bảo hộ Nguyễn Đình Hào, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, kỹ sư điện Nguyễn Duy Thanh, kỹ sư cơ khí Nguyễn Văn Thu, v.v. giữ những trọng trách trong các ngành chuyên môn của chính quyền Bảo hộ, đang chuẩn bị ra tờ tạp chí Khoa học. Họ dự tính dùng hoàn toàn tiếng Việt trong việc dạy học và viết sách, về tất cả các môn khoa học. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã soạn xong cuốn “Danh từ khoa học” được đồng nghiệp đánh giá cao.

Nhóm các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ học thuộc trường Viễn Đông Bác cổ Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Tố, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, cùng với các nhà văn, nhà sử học Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh, v.v. đã được phép xuất bản tờ tuần báo Tri Tân chuyên về văn hoá và sử học.”[1]

Cả hai tờ Tri TânThanh Nghị đều đã là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, và đã được Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tái bản dưới hình thức CD kèm theo các bài giới thiệu và tổng mục lục[2]. Chưa phải là một nghiên cứu sâu, bài viết này sẽ giới thiệu Báo Khoa học (viết tắt: BKH) trong tinh thần mạch bài về các tạp chí phổ biến khoa học thời thuộc Pháp ở Việt Nam[3]. BKH là tạp chí thứ tư và cuối cùng trong loại tạp chí này. Sau đó là cuộc Kháng chiến 9 năm, rồi chia đôi đất nước (1954-1975), thời kỳ mà cả hai miền đều có những tạp chí của mình, cần được nghiên cứu, giới thiệu với công chúng hôm nay cũng như mai sau - để lịch sử đất nước không chỉ là tiếp nối những cuộc chiến tranh và những sự kiện triều chính. Nhưng đó là một chuyện khác...

Vài thông tin chung(*)

Báo Khoa học ra đời ngày 1.1.1942, trên nguyên tắc là mỗi tháng ra một kỳ nhưng có nhiều số kép ghi hai tháng (chẳng hạn: số cuối cùng là số 35-36, tháng 11-12.1944) nên sống được tròn ba năm mà chỉ có 30 số báo (nếu tính số kép là một): năm đầu đủ 12 số, năm thứ nhì có 10 số đơn và một số kép (số 13-14, chung cho tháng giêng, hai 1943 - nhưng không phải số Xuân như các báo khác, toà soạn cũng không cắt nghĩa mà chỉ chú thích ở trang cuối là “Tuân lệnh tiết kiệm giấy chúng tôi buộc phải tính số đặc biệt như là hai số 13 và 14...”). Năm cuối (1944) chỉ giữ được hai số đơn (tháng 7 và tháng 8), còn lại là năm số kép: giấy in cũng xấu hơn, hiển nhiên là áp lực của chiến tranh lên đời sống kinh tế - xã hội không cho phép tờ báo tiếp tục như trước.

Bìa: Trong suốt ba năm ra báo, Khoa học gần như không đổi bìa: trên tên báo viết hoa là dòng chữ cho biết năm ra báo - số báo (bên trái), ngày tháng (bên phải) và những số đặc biệt thì có thêm giá báo (giữa dòng), khác với giá bình thường ghi ở măng-sét trên đầu trang nhất sau bìa. 

Ở giữa bìa 1 là một cột chữ nho trích từ Luận Ngữ:Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Biết thì nói là biết; không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy)”, hai bên là hai chữ nho “Khoa - Học” (trừ trên số 1, hai chữ này được viết thành một thành một vòng tròn đặt ở giữa, trong khi hàng chữ Luận ngữ được trình bày bên trái) - tác giả xin cảm ơn GS Hoàng Dũng, TP HCM, đã giúp đọc mấy chữ nho này. Sau cùng, phía dưới là tên ba vị Chủ nhiệm, Sáng lập và Chủ bút (xem phần nhân sự báo). Dưới cùng là địa chỉ báo quán, ban đầu ở số 7 Hàng Gai, sang đầu năm thứ nhì (số 13-14, tháng Giêng, Hai 1943) dọn sang nhà số 12b phố Dieulefils, bốn tháng sau (số 17, tháng 5 1943) lại phải dọn sang 46 phố Hàng Cói, ở đây được hai tháng thì dọn về 214 phố Hàng Bông cho tới ngày đình bản.

Trang bên trong bìa (bìa 2) được dành cho mục lục, những số đầu tiên có thêm danh sách ban biên tập phía trên mục lục. Năm cuối (1944) thì mục lục được trình bày gọn hơn, chỉ chiếm khoảng 1/3 trang và được đặt dưới măng-xét. 

Sau cùng, hai trang cuối của bìa thường là quảng cáo (bìa 3 và 4) và cuối bìa 4 là thông tin về nhà in (nhà in Trung Bắc, Hà Nội). Trên bản nộp lưu chiểu có mộc (con dấu) và chữ ký của chủ nhiệm, và vài chữ viết tay xác nhận đã in bao nhiêu số (hình 3), theo đó người ta được biết là năm đầu tiên, mỗi số báo được in 2500 bản, năm cuối chỉ còn 2000.

(Bìa 1 và 2, số 4)

Print Friendly and PDF

2.8.22

Đằng sau “cuộc chiến kinh tế tổng lực với Nga”, tương lai của dự án hòa bình thông qua giao thương

ĐẰNG SAU CUỘC CHIẾN KINH TẾ TỔNG LỰC VỚI NGA, TƯƠNG LAI CỦA DỰ ÁN HÒA BÌNH THÔNG QUA GIAO THƯƠNG

Tác giả: Fabien Bottini

Một tấm biển ủng hộ Ukraine kêu gọi “ngừng đưa tiền cho những kẻ giết người”, trước trụ sở của tập đoàn [năng lượng] Engie. La Défense - Paris, ngày 29 tháng 4 năm 2022. Emmanuel Dunand

“Một thế giới mới đang được sản sinh ngay trước mắt chúng ta”: nếu đây là những gì được công bố sớm trong một bản tin nhanh của hãng thông tấn Nga RIA Novosti, vào ngày 26 tháng 2, tiếp sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga, thì chúng ta buộc phải tin vào lời tiên tri đó, mà dù thế nào vẫn có nhiều khả năng đang xảy ra, trùng khớp với sự kết hợp của nhiều sự kiện và phản ứng đang diễn ra.

Trong khi Liên minh châu Âu vừa giới thiệu gói trừng phạt thứ sáu chống lại Nga, đặc biệt là việc châu Âu ngừng nhập khẩu dầu Nga, trong sáu tháng tới, và loại ngân hàng Nga Sberbank khỏi hệ thống tài chính quốc tế Swift, thì trên thực tế, vấn đề về các mối liên hệ giữa thương mại và hòa bình được đặt ra một cách mạnh mẽ.

Print Friendly and PDF