LỊCH SỬ KINH TẾ
Economic History
è Giải Nobel: FOGEL, 1993 – NORTH, 1993
Lịch sử kinh tế, trong thế kỉ XX, đã chấp nhận một cách tiếp cận ngày càng có tính định lượng. Và ở cương vị này, bộ môn đã giữ một vai trò độc đáo, trong nội bộ những khoa học nhân văn, vì đã dần dần triển khai những phương pháp thống kê tinh vi hơn, xây dựng một tập nhất quán những chuỗi thời gian, cũng như vì những kiến giải do bộ môn đề nghị để hiểu tốt hơn những hướng tiến hoá của thế giới đương đại, dựa trên những khái niệm và công cụ phân tích mượn của khoa học kinh tế khi không tự mình tạo nên những khái niệm và công cụ phân tích đặc thù. Những ràng buộc này đã biến bộ môn này thành một khoa học có vẻ là mới, nhất là khi so sánh với ba cách tiếp cận của lịch sử kinh tế như từng được vận dụng trong thế kỉ XIX – cách tiếp cận của các nhà kinh tế, có tính đặt vấn đề và tính tổng thể theo cách của trường phái thể chế Đức, cách tiếp cận của các nhà thống kê, tập hợp những dãy dữ liệu lương và giá cả và cách tiếp cận của các nhà sử học, có tính mô tả nhiều hơn. Nhưng mối quan tâm lượng hoá đã có mặt trong những nghiên cứu được công bố trước đây với mục đích trình bày những biến giải thích những chu kì của thế kỉ XVIII và XIX: hoặc là việc phân chia lợi nhuận-lương theo cách nhìn của C. E. Labrousse (1933-1944) trong những phân tích của ông về các cuộc khủng hoảng Pháp, hoặc là xuất khẩu và đầu tư trong khuôn khổ của những công trình của A. D. Gaver (1953), R. C. O. Matthews (1954) và của D. C. North (1961) về những biến động kinh tế Anh-Mĩ. Khác biệt chủ yếu giữa những công trình này với những công trình được dùng làm cơ sở cho những trường phái gần đây hơn là ở việc mở rộng trường nghiên cứu tới chân trời rất dài hạn và ở việc vận dụng một cách tiếp cận kinh tế vĩ mô nhằm đo đạc, rồi giải thích, không phải là những tai nạn ở từng thời điểm của tình thế kinh tế mà là những quá trình công nghiệp hoá, và một cách tổng quát hơn, sự tăng trưởng của những nước Tây phương và của thế giới thứ ba …


.jpg)


.jpg)



