3.9.26

Ba Cấp độ Văn hóa theo Edgar Schein, và Tại sao sự thay đổi văn hóa trong tổ chức lại khó xảy ra

Tổ chức & Văn hóa

BA CẤP ĐỘ VĂN HÓA THEO EDGAR SCHEIN, VÀ TẠI SAO SỰ THAY ĐỔI VĂN HÓA TRONG TỔ CHỨC LẠI KHÓ XẢY RA

Văn hóa là một thuật ngữ khá mơ hồ và phức tạp. Vào năm 1952, hai học giả Kroeber và Kluckhohn đã tổng hợp được hơn 134 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này trong một tác phẩm nghiên cứu tổng quan toàn diện về văn hóa của mình.

Khi khảo cứu lịch sử của từ này, Kroeber và Kluckhohn nhận thấy mọi con đường đều dẫn về nước Đức, nơi từ này bắt đầu xuất hiện dưới tên gọi là “cultur”:

Chẳng hạn, Kant – cũng như phần lớn những người cùng thời với ông – vẫn viết từ này là Cultur, nhưng sử dụng nó nhiều lần, và luôn với nghĩa là sự vun đắp hoặc hoặc được nuôi dưỡng.

Phải đến cuối thế kỷ 19, từ này mới bắt đầu được định hình thành dạng thức hiện đại và được các nhà nhân học và những học giả khác về văn hóa tiếp nhận để nghiên cứu những nền văn hóa nước ngoài.

Cuốn sách Văn hóa Nguyên thủy [Primitive Culture] xuất bản năm 1870 của Sir Edward Tylor thường được xem là một bước chuyển, hướng tới định nghĩa hiện đại của từ văn hóa:

một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, niềm tin, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục, cùng mọi năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

Đến những năm 1950, đã có hơn 100 định nghĩa về từ “văn hóa”, và đây chính là thời điểm trước khi các tổ chức bắt đầu sử dụng thuật ngữ này.

Vào những năm 1980, nghiên cứu của Edgar Schein đã mở rộng phạm vi của các khái niệm này sang các tổ chức hiện đại, và cách chúng ta nói về các công ty từ đó đến nay cũng đã không còn như trước nữa.

Print Friendly and PDF

1.9.26

Về một số mục liên quan đến thống kê trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN THỐNG KÊ TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

Analyse des correspondances/Analyse des correspondances multiples [Phân tích những tương ứng/Phân tích những tương ứng bội]

Phân tích những tương ứng là một kĩ thuật của thống kê đa biến (thống kê xử lí các bảng có nhiều biến). Phân tích này là một biến thể của “phân tích nhân tố” hay của “phân tích những thành phần chính” (ACP) được các nhà tâm lí học sử dụng từ những năm 1940, nhưng tiến triển nhiều và được phổ biến, ít ra là ở Pháp trong những năm 1960 và 1970 dưới sự thúc đẩy của nhà thống kê học Jean-Paul Benzécri và những người cộng tác với ông. Các cộng tác viên này mở rộng, về mặt toán học lẫn tin học, phân tích nhân tố không những ra những bảng có biến định lượng, như chiều cao hay tuổi tác, mà còn đến cả những bảng có biến định tính, như giới tính hay thành phần xã hội-nghề nghiệp (“nam giới”, “công nhân”, v.v.).

Pierre Bourdieu sử dụng kĩ thuật này từ giữa những năm 1970, chủ yếu là biến thể mà ngày nay được gọi là “phân tích những tương ứng bội” (ACM), cho phép xử lí thông tin của một tập những cá thể thống kê (ví dụ, đó có thể là những cá thể sinh học, những tập thể …) với một số lớn những biến định tính. Tại Trung tâm xã hội học châu Âu (CSE), Salah Bouhedja nghiên cứu kĩ thuật và các chương trình tin học cho phép triển khai ACM. Bài viết đầu tiên có một ACM được công bố năm 1976 và được đăng ba năm sau, dưới một dạng được tu chỉnh, trong La Distinction. Trừ trường hợp của sơ đồ nổi tiếng về không gian xã hội, những biểu đồ trong tác phẩm này về các biến thể của thị hiếu (goût) thống trị và thị hiếu trung bình [Di: 296, 392] là kết quả của ACM. Tiếp sau đó, Bourdieu vận dụng ACM cho việc nghiên cứu giới chủ [PB 1978b; rồi La Noblesse d’État], trường hàn lâm [Homo academicus], các Trường lớn [], chính sách nhà ở [Les Structures sociales de l’économie], ngành xuất bản [PB 1999a]. Những nhà nghiên cứu lấy cảm hứng từ Bourdieu và/hay làm việc bên cạnh ông cũng vận dụng phân tích những tương ứng trong những bài viết trên tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales để xây dựng những trường (trường các tiên phong nghệ thuật, trường các nhà kinh tế, trường điện ảnh …), nghiên cứu thị trường hôn nhân, sự thừa kế những cơ sở nông nghiệp, những cách sử dụng tin học, những lá thư tố cáo, v.v.. Nếu các ACM trong La Distinction và trong La Noblesse d’État nhắm vào những cuộc điều tra bằng bản câu hỏi do CSE tiến hành, các ACM do Bourdieu công bố dựa trên những đặc tính của các giới (prosopographies).

Print Friendly and PDF

30.8.26

Hỗ trợ phát triển: Một niềm tin bị đặt thành vấn đề?

HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN: MỘT NIỀM TIN BỊ ĐẶT THÀNH VẤN ĐỀ?

Grégoire MallardDominic Eggel  Marc Gal

Trong khi hỗ trợ phát triển cho các nước thuộc Phương Nam là đặc điểm nổi bật của thời kỳ hậu thuộc địa, thì việc bước vào thế kỷ 21 đánh dấu một bước ngoặt. Đối mặt với những kết quả được trình bày là đáng thất vọng, sự hỗ trợ phát triển dường như không còn khả năng đảm bảo duy trì hòa bình và sự thịnh vượng. Liệu lĩnh vực hỗ trợ có bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng? Hay chính hệ hình phát triển cần được xem xét lại?

Hình minh họa của PTKT (do A.I tạo)

Ngày 20 tháng 1 năm 2025 sẽ mãi là một ngày đen tối đối với những tác nhân của sự hợp tác của Hoa Kỳ. Một ngày sau khi trở lại chức tổng thống, Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ tất cả các chương trình của USAID trong 90 ngày. Mười lăm ngày sau, sắc lệnh này được tiếp nối bằng thông báo đóng USAID, được ông mô tả là một “tổ chức tội phạm”.

Vượt lên trên sự kinh ngạc, các nhà phân tích đã hướng sự chú ý của giới truyền thông đến "Dự án 2025", nơi tất cả các biện pháp này được công bố và biện minh bởi ba tham vọng: giảm ảnh hưởng của chính quyền liên bang, tái tập trung chính sách đối ngoại vào lợi ích quốc gia và loại bỏ các chương trình bị coi là "thù địch về mặt tư tưởng" với các giá trị bảo thủ. Dựa trên nhận định này, và sau khi Mỹ cũng rút khỏi Mục tiêu Phát triển Bền vững (ODD) của Liên Hợp Quốc và của Hiệp định Paris, tạp chí Foreign Policy đã đăng bài viết với tiêu đề "The End of Development/Sự kết thúc của phát triển".

Print Friendly and PDF

28.8.26

Thuyết nhân loại trung tâm (thuyết con người là trung tâm), thuyết nhân hóa, thuyết đẳng cấp loài (thuyết phân biệt đối xử theo loài): hãy coi chừng những lầm lẫn!

THUYẾT NHÂN LOẠI TRUNG TÂM (THUYẾT CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM), THUYẾT NHÂN HÓA, THUYẾT ĐẲNG CẤP LOÀI (THUYẾT PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ THEO LOÀI): HÃY COI CHỪNG NHỮNG LẦM LẪN!

Tác giả: Philippe Le Doz

Giảng sư, hướng dẫn nghiên cứu, lịch sử cổ đại, Đại học Rennes 2

Có nên diễn giải các hành vi của loài vật bằng cách lấy loài người làm mốc tham chiếu, hay trái lại xây dựng giả thuyết về một sự chia tách chặt chẽ làm cho loài người chúng ta trở nên một loài đặc biệt? Saketh Upadhya/UnsplashCC BY

Thuyết loài người là trung tâm hay nhân loại trung tâm (anthropocentrisme), được hiểu là loài người được ưu tiên trong một thế giới mà con người được tự do khai thác, có xu hướng va chạm với một khái niệm ngày càng được sử dụng nhiều trong những năm gần đây: thuyết spécisme (thuyết đẳng cấp loài hay thuyết phân biệt đối xử theo loài – ND). Gần đây, triết gia François Jaquet đã nhấn mạnh nguy cơ lầm lẫn giữa hai thuật ngữ này. Quả thực phân biệt hai thuật ngữ này là đòi hỏi cấp bách. Có thể ta đưa ra giả thuyết là thuyết nhân loại trung tâm là một thiên kiến về nhận thức, nơi mà thuyết phân biệt đối xử theo loài thuộc về một dự án xã hội.

Các thuyết xem loài người là trung tâm

L’anthropocentrisme – thuyết nhân loại trung tâm/thuyết xem loài người là trung tâm – là một khái niệm mặc dù thường được dùng nhưng không dễ phân định rõ. Các định nghĩa trong các từ điển không rõ ràng, nhưng nói chung là các định nghĩa này đều đồng ý nêu ra xu hướng của loài người tự cho mình là trung tâm của vũ trụ.

Print Friendly and PDF

26.8.26

Cuộc ám sát Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (Ngày 14/4/1865)

CUỘC ÁM SÁT TỔNG THỐNG MỸ ABRAHAM LINCOLN

Ngày 14 tháng 4, 1865

Chúng ta không phải là kẻ thù, mà là bạn. (1861)

— Abraham Lincoln

 

Tổng thống Lincoln (12/2, 1809 – 15/4, 1865; hưởng thọ 56t). Ảnh ngày 9 tháng 2, 1864. Anthony Berger

Lời nói đầu

Đây là bài viết của báo Thụy Sỹ Neue Zürcher Zeitung ngày 15.08.2026 của tác giả Marc Tribelhorn về sự kiện đúng 161 năm trước, 1865, Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln bị ám sát tại nhà hát Ford Theater, Washington DC. Marc Tribelhorn là nhà báo về lịch sử của NZZ, được trao giải thưởng Báo chí Thụy Sĩ năm 2022. Tiêu đề trong bài này do chúng tôi đặt lại. Bài báo nói lên bối cảnh Abraham Lincoln bị ám sát, nói về động cơ của kẻ ám sát, phản ứng của nước Mỹ, cả Bắc lẫn Nam về tin Tổng thống bị ám sát, một bức tranh toàn diện thu nhỏ. Xin cảm ơn báo Neue Zürcher Zeitung và tác giả Marc Tribelhorn. Một số ảnh và tư liệu được chúng tôi thêm vào.

Print Friendly and PDF

24.8.26

Bạn có thể yêu một trí tuệ nhân tạo nhưng nó có đáp lại được không? Triết học có đáp án

BẠN CÓ THỂ YÊU MỘT TRÍ TUỆ NHÂN TẠO NHƯNG NÓ CÓ ĐÁP LẠI ĐƯỢC KHÔNG? TRIẾT HỌC CÓ ĐÁP ÁN

GoodStudio

Chúng ta thường nói mình yêu những món đồ như chiếc áo len ấm áp hay máy ảnh mới. Nhưng người ta thường không hiểu theo nghĩa đen khi nghe vậy. Đó là một kiểu diễn đạt ngắn gọn về mặt cảm xúc. Chúng ta dùng nó để bày tỏ sự yêu mến đối với những vật quý giá.

Cuộc sống và tình yêu vốn phức tạp. Và đôi khi, người ta quả thực công khai bày tỏ tình yêu lãng mạn dành cho những vật vô tri vô giác. Họ hình thành gắn bó cảm xúc mãnh liệt với búp bê tình dục, gối ôm hoặc hình đại diện dạng ảnh nổi (hologram) của các nhân vật hư cấu. Chẳng hạn như năm 2018, Akihiko Kondo đã “kết hôn” với Hatsune Miku, ca sĩ nhạc pop được tạo ra bằng máy tính vốn nổi tiếng nhờ đóng vai chính trong các trò chơi điện tử và đi lưu diễn cùng Lady Gaga. Kondo nói rằng anh biết Miku không có thật. Nhưng tình yêu của anh dành cho cô ấy thì có.

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra kiểu tình yêu mới với “thứ gì đó”. Ngày càng nhiều người nói rằng họ đã phải lòng chatbot AI – cả những chatbot đồng hành được cá nhân hóa do các ứng dụng phổ biến như Replika hay Character.AI tạo ra, và cả những mô hình ngôn ngữ lớn thông dụng hng ngày như ChatGPT và Claude. Yêu đương với AI đang ngày càng phổ biến.

Print Friendly and PDF

22.8.26

Nền tảng hóa và việc làm trở nên bấp bênh, mất ý nghĩa: đối thoại giữa nhà văn Franck Courtès và nhà kinh tế học Coralie Perez

NỀN TẢNG HÓA VÀ VIỆC LÀM TRỞ NÊN BẤP BÊNH, MẤT Ý NGHĨA: ĐỐI THOẠI GIỮA NHÀ VĂN FRANCK COURTÈS VÀ NHÀ KINH TẾ HỌC CORALIE PEREZ

Tác giả: Audrey Fisné-Koch

Trong quyển sách A pied d’œuvre [tạm dịch: Bắt tay vào việc], Franck Courtès thuật lại công việc hàng ngày của mình về nền tảng số. Nhà kinh tế học Coralie Perez nhận ra trong câu chuyện này cả một mảng của thế giới việc làm hiện thời. Họ cùng nhau thảo luận về vấn đề này.

“Tôi đã hưởng lương khoảng 3000 euro mỗi tháng, có năm lên đến 8000 euro/tháng. Từ nhiều tháng nay, lương tôi chỉ còn 250 euros bản quyền tác giả”, Franck Courtès giải thích như vậy. Đó là lý do khiến cựu nhiếp ảnh gia nay trở thành thành nhà văn đăng ký trên một nền tảng về “các công việc vặt”: một hệ thống đấu giá đảo ngược nơi mà người dùng chấp nhận mọi loại công việc như sửa chữa đồ đạc, dọn dẹp xà bần hay tỉa cây để đổi lại những khoản thù lao ngày càng rẻ mạt.

Luôn luôn bấp bênh hơn và ít được bảo vệ hơn, sự đảo lộn mô hình lao động truyền thống là trung tâm của quyển sách A pied d’œuvre - (Nhà xuất bản Gallimard, 2023), quyển tự truyện của ông đã được Valérie Donzelli chuyển thể điện ảnh năm 2025.

Năm 2024, quyển sách đã nhận giải thưởng tiểu thuyết doanh nghiệp và lao động. Và lý do là sách phản ánh những biến đổi xã hội rất thời sự về ý nghĩa của công việc, nền tảng hóa hay còn là sự che khuất một tầng lớp cần lao mới. Chúng tôi đã thảo luận vấn đề này với Franck Courtès và Coralie Perez, là nhà kinh tế học và là kỹ sư nghiên cứu tại Trung tâm kinh tế Sorbonne (Đại học Paris 1).

Print Friendly and PDF

20.8.26

Cách tôi dùng thống kê và tấm bằng luật để chống lại các hành vi vi phạm nhân quyền

CÁCH TÔI DÙNG THỐNG KÊ VÀ TẤM BẰNG LUẬT ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC HÀNH VI VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Khoảng 50 năm sau khi vạch trần sự phân biệt giới tính trong quyền lợi hưu trí của giới giảng viên đại học Mỹ, Mary Gray hiện đang là nhà thống kê kiêm nhà vận động vì công bằng xã hội.

Bài viết của Rachel Crowell

Mary Gray đã áp dụng các lập luận thống kê và pháp lý để đưa ra các khuyến nghị về cách chính phủ và các tổ chức có thể giải quyết vấn nạn diệt chủng và các hành vi vi phạm nhân quyền khác, cũng như nạn phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Dù đã ngoài tuổi 80, bà vẫn tiếp tục sự nghiệp luật sư, nhà thống kê và nhà toán học tại Đại học American ở Washington DC. Bà nói: “Dù tóc bạc trắng thì tôi vẫn chưa nghỉ hưu đâu”.

Một số nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào số ít vấn đề trong phạm vi hẹp. Công trình của Gray thì rộng hơn thế nhiều.

Bà đã đào tạo các điều tra viên cho Tòa án Hình sự Quốc tế tại The Hague (còn được biết đến với tên gọi là Den Haag hoặc La Hay), Hà Lan, để xác định mức độ vi phạm nhân quyền và tội diệt chủng. Ở trong nước, bà đã nỗ lực chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính, chủng tộc và tuổi tác, đồng thời tạo cơ hội trong giới học thuật Hoa Kỳ cho những người từ nhiều hoàn cảnh xuất thân khác nhau.

chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Phụ nữ trong Toán học (Association for Women in Mathematics) từ năm 1971 đến 1974, Gray đã thiết lập mạng lưới và hỗ trợ cho các đồng nghiệp nữ, đồng thời ủng hộ một nền văn hóa công bằng và bao trùm hơn trong ngành. Năm 2022, khi hiệp hội thành lập Giải thưởng Mary và Alfie Gray về Công bằng Xã hội được đặt theo tên của Gray và chồng bà, một nhà toán học đã qua đời năm 1998 tổ chức này đã mô tả Mary Gray là người “đã dành cả cuộc đời mình để theo đuổi sự xuất sắc trong toán học và công bằng xã hội”. Bên cạnh nghiên cứu và giảng dạy học thuật, Gray còn tình nguyện làm việc cho cả Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) lẫn Thống kê Không Biên giới (Statistics Without Borders), một tổ chức cung cấp các dịch vụ thống kê và khoa học dữ liệu miễn phí vì lợi ích cộng đồng để cải thiện phúc lợi con người trên toàn thế giới.

Print Friendly and PDF

18.8.26

Đối thoại với Hannah Arendt thông qua Trí tuệ nhân tạo

ĐỐI THOẠI VỚI HANNAH ARENDT THÔNG QUA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Nguyễn Xuân Xanh trình bày

Tác giả: Carlotta Wald đối thoại với bản sao AI của Hannah Arendt

Báo DIE ZEIT số 47/2025, tháng 11 năm 2025

Cảm ơn tác giả và DIE ZEIT

Chúng ta không thể tiếp tục coi những gì tốt đẹp trong quá khứ là di sản của mình, vứt bỏ những gì xấu và xem nó như một gánh nặng vô ích mà thời gian sẽ tự chôn vùi vào quên lãng. Dòng chảy ngầm của lịch sử phương Tây cuối cùng đã trồi lên bề mặt và chiếm đoạt phẩm giá của truyền thống chúng ta. Đây là thực tại mà chúng ta đang sống. Và đó là lý do tại sao mọi nỗ lực trốn tránh sự ảm đạm của hiện tại bằng cách hoài niệm về một quá khứ vẫn còn nguyên vẹn, hoặc bằng sự lãng quên được dự đoán trước về một tương lai tốt đẹp hơn, đều vô ích.

Đối tượng lý tưởng của chế độ độc tài toàn trị không phải là vì [họ đã được thuyết phục], mà là vì những người mà sự phân biệt giữa sự thật (fact) và hư cấu (fiction), và sự phân biệt giữa đúng và sai (tức là các tiêu chuẩn của tư tưởng) không còn tồn tại nữa.

—Hannah Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị

Quyền lực… không bao giờ bắt nguồn từ người nắm giữ nó. Phải có một thực tại lớn hơn, một “hệ thống thứ bậc” được chia sẻ giữa những người có quyền lực và những người dưới quyền…. Điều tương tự cũng đúng với quyền lực của pháp luật, nó không được tuân thủ vì nó hợp lệ, mà hợp lệ vì nó được tuân thủ.”

—Hannah Arendt, What is Authority?

Hannah Arendt (1906-1975) (Institute for Advanced Studies in Culture)

Lời nói đầu

Dưới đây là mẩu đối thoại giữa nhà báo Carlotta Wald với nhà triết học chính trị Hannah Arendt, người đã mất năm 1975, nhờ một công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) làm “sống lại”. Hannah Arendt, một trong những nhà lý luận chính trị lỗi lạc nhất của thế kỷ XX. Sinh ra và lớn lên ở Đức vào đầu những năm 1900, bà theo học triết học với Martin Heidegger và Karl Jaspers. Là một người Do Thái, bà đã trải qua sự đàn áp trong Thế chiến II, nhưng đã trốn thoát sang Hoa Kỳ vào năm 1941. Tại đây, bà được công nhận nhờ các tác phẩm về chủ nghĩa toàn trị. Những bài viết về phiên tòa xét xử Eichmann ở Jerusalem năm 1961, trong đó bà đã đặt ra cụm từ nổi tiếng – mặc dù ban đầu gây nhiều tranh cãi – “sự tầm thường của cái ác”. Các học giả nghiên cứu tư tưởng của bà thường coi cuốn sách “Tình trạng con người” (The Human Condition) năm 1958 là tác phẩm quan trọng nhất của bà, trong đó bà phân tích cuộc sống trong điều kiện hiện đại, than thở về điều mà bà gọi là “sự tha hóa thế giới” hiện đại, và giới thiệu khái niệm quan trọng về “tính sinh sản”: thực tế rằng chúng ta là những người mới sinh ra là cội nguồn khả năng hành động và bắt đầu một điều gì đó mới mẻ của chúng ta.

Print Friendly and PDF

16.8.26

Lịch sử, sự thật và sử học

GS Hà Văn Tấn

Ai ai đều đã bằng câu hết
nước chẳng còn có Sử Ngư

Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay).

Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nỗi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?

Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polybius, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pragmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.

Ở Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biếm” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách Đại Việt sử ký tục biên: “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”.

Print Friendly and PDF