18.7.24

Điện ảnh Hàn Quốc: “Remember our Sister” của Jo Hayoung hay bi kịch của các “Camp Towns”

PHỎNG VẤN

ĐIỆN ẢNH HÀN QUỐC: “REMEMBER OUR SISTER” CỦA JO HAYOUNG HAY BI KỊCH CỦA CÁC “CAMP TOWNS”

Tác giả: Gwenaël Germain

Trích từ phim “Remember our Sister" của Jo Hayoung. Hàn Quốc, 1980, bé gái Hong làm việc trong một ngôi làng phục vụ cho thú vui của các lính Mỹ. (Credits: Jo Hayoung)

Một bi kịch không được biết đến. Ngay từ những năm 1950 tại Hàn Quốc, có những ngôi làng đã tập trung các nhà chứa và những nơi “thư giãn” khác dành cho binh lính Mỹ. Tên của những ngôi làng này: Camp Towns. Những ngôi làng này do chính phủ Hàn Quốc trực tiếp tổ chức và cấm mại dâm ở ngoài các làng này. Ở đây đã có hàng chục ngàn phụ nữ trẻ bị buộc làm mại dâm. Trước tiên là phụ nữ Hàn Quốc, rồi sau đó là những phụ nữ từ khắp châu Á, họ đã trải qua một cực hình mà mọi người đều chấp nhận mãi cho đến những năm 2000. Hy sinh của họ được cho rằng để bảo vệ thường dân tránh khỏi những tội về tình dục mà binh lính Mỹ có thể phạm phải. Từ câu chuyện bi thảm này, nữ đạo diễn Jo Hayoung, 25 tuổi, đã thực hiện một bộ phim có độ dài trung bình gây xúc động đến xót xa, Remember our Sister. Vở nhạc kịch này được quay phù hợp với trẻ em đã đạt giải phim ngắn hay nhất năm 2022 tại Liên hoan phim Hàn Quc ti Paris (FFCP). Năm nay phim này được chiếu lại tại một buổi đặc biệt mang tên “Fly Asiana”. Gặp gỡ với một nhà làm phim trẻ với niềm tin mãnh liệt và tài năng nổi bật.

Phỏng vấn

Sinh năm 1998 tại Seoul, Jo Hayoung lớn lên ở Daejeon, say mê đọc những trang truyện Những người khốn khổ của Victor Hugo. Tốt nghiệp Viện Nghệ thuật và truyền thông Dong-A và vẫn là sinh viên ngành điện ảnh Đại học Nghệ thuật quốc gia Hàn Quốc, (KNUA), cô đặc biệt quan tâm đến những nơi đầy ắp ký ức, lịch sử đời người và cảm xúc. Năm 2018, cô cho ra đời một phim tài liệu ngắn đầu tiên, Sister’s Room nói về việc chị gái của cô dọn đến một khu ở mới trong khi chính cô lo lắng và phải đối mặt với những bạo lực tình dục đối với phụ nữ ở nơi công cộng. Phim xuất sắc về mặt kỹ thuật, với sự tinh tế và những thắc mắc về không gian dành cho phụ nữ, Sister’s room gần giống với phiên bản hiện đại của Hàn Quốc của quyển sách về nữ quyền do Virginia Woolf viết vào năm 1929, A Room of One’s Own (Căn phòng riêng). Năm 2022, Jo Hayoung tiếp tục khám phá những nơi đầy ắp lịch sử khi thực hiện phim Remember our Sister, một vở nhạc kịch dài 29 phút, hé lộ, qua mắt của một bé gái, đời sống tồi tệ hàng ngày tại các Camp Towns, những nhà chứa do chính phủ Hàn Quốc thiết lập để phục vụ quân đội Mỹ. Được trình chiếu tại nhiều liên hoan phim ở Hàn Quốc, năm 2022 phim đã đạt giải Fly Asiana về phim ngắn hay nhất tại Liên hoan phim Hàn Quốc ở Paris (FFCP) tạo điều kiện cho đạo diễn của phim được mời đến buổi chiếu phim vào năm 2023 và chiếu nhiều phim khác của cô cho công chúng Paris trong một buổi chiếu phim dành cho cô. Ngoài hai phim này, buổi này được bổ sung với phim Kids Land (2023) của nữ đạo diễn Kim Wonwoo, một dự án mà Jo Hayoung là phụ tá đạo diễn và có sự tham gia của cô gái trẻ Yoon Boyoun, diễn viên đóng vai bé gái là nhân viên phục vụ tên Hong trong phim Remember our Sister.


Nữ đạo diễn Hàn Quốc Jo Hayoung, được giải thưởng phim ngắn hay nhất tại Liên hoan phim Hàn Quốc ở Paris năm 2022 (Nguồn: Jo Hayoung)

Năm trước, chị đã cảm thấy thế nào khi được biết là chị đã đạt giải thưởng phim ngắn hay nhất tại Liên hoan phim Hàn Quốc ở Paris FFCP?

Jo Hayoung: Tôi hoàn toàn không tưởng tượng được việc nhận giải thưởng này và tôi rất ngạc nhiên. Vào lúc tôi biết tin này tôi đang cùng một người bạn gái và cả hai chúng tôi đã reo lên. Chúng tôi đã vô cùng sung sướng. Sau đó tôi tự nhủ rằng công chúng Paris đã yêu thích phim của tôi và điều này làm cho tôi rất hạnh phúc. Điều này đã là động lực cho tôi có thể thực hiện các dự án tiếp theo của tôi.

Print Friendly and PDF

16.7.24

Thuyết hậu thực dân: một ngõ cụt về mặt khái niệm cần phải tra cứu?

THUYẾT HẬU THỰC DÂN: MỘT NGÕ CỤT VỀ MẶT KHÁI NIỆM CẦN PHẢI ĐƯỢC TRA CỨU?

Etienne Huyghe

Nghiên cứu sinh tiến sĩ về Quan hệ quốc tế tại Đại học Paris 1 Panthéon Sorbonne

Một bức tranh gốm có thể nhìn thấy tại số 10 đường Petits-Carreaux, Paris, một trong những bằng chứng cuối cùng của Paris từ thời bành trướng thuộc địa của Pháp, được xếp hạng Di tích lịch sử từ năm 1984, chụp ảnh ngày 17/6/2020, còn mang dấu vết của sự phá hoại. Anne-Christine Poujoulat/AFP

Thuyết hậu thực dân, xuất hiện vào cuối những năm 1970, hiện nay là một trường phái tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn trong giới học thuật Pháp và quốc tế.

Các nghiên cứu được thực hiện trong trường của thuyết hậu thực dân tập trung sự phân tích vào những tác động trong quá khứ và hiện tại của sự thống trị văn hóa và tâm lí đối với các xã hội và các dân tộc thuộc địa trước đây. Các công trình tự nhận thuộc trường phái này, hoặc sử dụng các khái niệm bắt nguồn từ nó, đã tăng lên trong những năm gần đây, trong khi các tiền đề lý thuyết nền tảng của chúng không phải lúc nào cũng bị tra vấn.

Tuy nhiên, hệ hình hậu thực dân vượt xa không gian đại học đơn thuần và hiện nay xuất hiện trong cuộc tranh luận chính trị, định hướng, một cách ít nhiều có ý thức, tiến trình lấy các quyết định công cộng trong không gian quốc gia và quốc tế. Mặc dù một số trong các công trình này đã có thể đưa ra một cái nhìn mới mẻ và phong phú về những biểu tượng kéo dài của chủ nghĩa thực dân, nhưng ngày nay cần phải có một cái nhìn phê phán. Bởi vì khi bản chất hóa các nhóm xã hội được nghiên cứu, khi ít chú ý đến quỹ đạo lịch sử trước đây và độc đáo của các quốc gia được nghiên cứu, và khi bỏ qua những chuyển đổi cơ bản đang xảy ra trong hệ thống quốc tế đương đại, hệ hình hậu thực dân giờ đây có nguy cơ biến thành một lối mòn thực sự về mặt khái niệm, gây hại cho sự hiểu biết về các động năng xã hội hiện tại, ở Pháp và nước ngoài. Sáu mươi năm sau khi các nước châu Phi trở thành độc lập, một lộ trình lý thuyết và thực tiễn mới phải được đề xuất.

Print Friendly and PDF

14.7.24

Cao Huy Thuần và Thích Trí Quang

CAO HUY THUẦN và THÍCH TRÍ QUANG

Nguyễn Thùy An

Giáo sư Cao Huy Thuần
(1964-2024)

Thiền sư Thích Trí Quang
(1923-2019)

Khác với các tác giả của những bài viết tưởng niệm Giáo sư Cao Huy Thuần trên không gian này, tôi chỉ là hậu bối, mà lại còn là hậu bối chỉ được tiếp xúc trực tiếp với ông trong hơn hai năm ngắn ngủi. Duyên “hạnh ngộ” của tôi với Giáo sư Thuần nẩy mầm từ một phần quan trọng trong nghiên cứu luận văn tiến sĩ về chủ đề “Thành phần thứ ba và Học thuyết Nixon,” mà tôi bắt đầu viết từ cuối năm 2021. Đó là hai chương về phong trào tranh đấu cho Hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất nói chung, và của Thiền sư Thích Trí Quang nói riêng. Thiền sư Trí Quang, như nhiều người đã biết, là người thầy mà Giáo sư Thuần vừa kính trọng, vừa xem như tri kỷ. Vì chỉ muốn bàn về những gì nằm trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi xin dành bài viết này để tưởng nhớ mối thâm tình Giáo sư Thuần dành cho Thầy Trí Quang, tức cũng là dành cho Huế, cho Phật giáo, cho con người Việt Nam.

Dù đã đọc qua các tác phẩm và tiểu luận của Giáo sư Thuần từ trước đó, phải chờ đến khi nhận được lời khuyên và sự động viên của Bác Trần Hải Hạc, tôi mới dám ngỏ lời xin trò chuyện cùng ông. Như Giáo sư Thuần tự nhận với tôi, ông “ít nói” và đã nhiều lần “từ chối phỏng vấn hay viết lại chuyện cũ.” Trong hồi âm đến thư dài giới thiệu của tôi vào mùa xuân năm 2022, ông đã không quên cho tôi biết cuộc trò chuyện mà ông đã đồng ý, thực tế, là ngoại lệ: “Cô đánh đúng chỗ yếu của tôi. Cho nên tôi khó lòng không tỏ thiện cảm và quý mến của tôi khi đọc thư cô. Nhưng xin cô nhớ câu viết đầu thư của tôi: tôi rất ít nói và chuyện ấy lại rất khó nói. Tôi sợ cô sẽ thất vọng.” Tôi mừng khôn xiết!

Print Friendly and PDF

13.7.24

Einstein và Heisenberg: Những người đặt nền tảng cho nền Vật lý hiện đại (K. Kleinknecht)

EINSTEIN HEISENBERG

Những người đặt nền tảng cho nền Vật lý hiện đại

Begründer der modernen Physik

Tác giả: Konrad Kleinknecht

Người dịch: Nguyễn Lê Tiến

Chủ trương, hiệu đính và dẫn nhập: Nguyễn Xuân Xanh

Chúng ta không là gì cả. Nhưng những gì chúng ta đi tìm là tất cả.

— Friedrich Hölderlin, nhà thơ Đức thế kỷ XIX

Thay cho những chân lý cơ bản là những xác suất cơ bản tôi muốn đặt ra – những điều dẫn dắt nhất thời được giả định để theo đó con người sống và tư duy.

Friedrich Nietzsche (1882)

Lời nói đầu

Các anh chị và các bạn thân mến,

Quyển sách Einstein và Heisenberg dưới đây vừa chính thức được Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh phát hành. Anh Nguyễn Lê Tiến và tôi rất vui mừng quyển sách này cuối cùng đã có mặt ở Việt Nam để đưa cuộc cách mạng vật lý đầu thế kỷ XX, một “thiên anh hùng ca” trong hành trình khoa học của nhân loại, đến tay bạn đọc. Nó giống như câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp của nhóm anh hùng được gọi Argonauts, dưới sự lãnh đạo của Jason, đi trên chiếc thuyền Argo với cái đích tìm Lông cừu vàng, được treo trong khu rừng của Colchian Ares, và được bảo vệ đêm ngày bởi một con rồng không bao giờ ngủ. Họ phải vượt qua muôn vàng hiểm nguy. Tuy các nhà vật lý cuối cùng chưa tìm thấy Lông cừu vàng, hay ở đây là Bản đồ của Chúa, nhưng cuộc phiêu lưu như thần thoại đã đưa họ đến một lục địa cực kỳ màu mỡ, một “phần đất hứa của Thượng đế”. Qua khoa học mới, họ đã hiểu Thượng đế nhiều hơn, đến gần Thượng đế nhiều hơn, ở những vùng đất xa xôi nhất và những vùng đất nhỏ bé nhất trong thế giới vật chất. Tri thức của họ tuy vẫn còn bị thách thức vì chưa trọn vẹn, nhưng nhiều thử nghiệm ý tưởng đã tiếp tục diễn ra liên tục, dù vẫn chưa thấy một triển vọng thuyết phục về một con đường khả thi để đi tiếp. Tuy thế, lục địa mới hôm nay là nền tảng quan trọng nhất mà con người có được và là bàn đạp cho cuộc tìm kiếm con đường tương lai.

Đây là Nhóm các Argonaut vật lý thế kỷ XX đi tìm Bản đồ của Chúa mà người đóng vai trò lãnh đạo tinh thần là Einstein. Hội nghị Solvay lần thứ năm diễn ra tại Brussells năm 1927 ngay sau khi những khám phá cơ học lượng tử được công bố và gây nhiều tranh luận. Mười bảy (17) trong số 29 khách tham dự Hội nghị đã nhận được Giải Nobel hoặc sau đó (như Pauli 1945, Max Born 1954). Tên nhân vật từ hàng phía sau đến hàng phía trước, và từ trái sang phải:

– Auguste Piccard, Émile Henriot, Paul Ehrenfest, Édouard Herzen, Théophile de Donder, Erwin Schrödinger, Jules-Émile Verschaffelt, Wolfgang Pauli, Werner Heisenberg, Ralph Howard Fowler, Léon Brillouin,

– Peter Debye, Martin Knudsen, William Lawrence Bragg, Hendrik Anthony Kramers, Paul Dirac, Arthur Compton, Louis de Broglie, Max Born, Niels Bohr,

– Irving Langmuir, Max Planck, Marie Skłodowska Curie, Hendrik Lorentz, Albert Einstein, Paul Langevin, Charles Eugène Guye, Charles Thomson Rees Wilson, Owen Willans Richardson.

Tôi xin phép hơi “dài dòng” một chút, nếu có thể nói, bởi vì câu chuyện bản thân nó là một trường ca mà thế giới hơn một trăm năm qua đã tốn không ít bút mực để viết về nó và về những con người đã tạo nên nó, và vẫn còn tiếp tục.

Print Friendly and PDF

12.7.24

Các nhà khoa học nhẹ nhõm vì phe cực hữu thất bại trong cuộc bầu cử ở Pháp

CÁC NHÀ KHOA HỌC NHẸ NHÕM VÌ PHE CỰC HỮU THẤT BẠI TRONG CUỘC BẦU CỬ Ở PHÁP — NHƯNG HỌ VẪN PHẢI ĐỐI MẶT VỚI SỰ BẤT TRẮC

Do không có đảng nào giành được đa số phiếu nên tác động của cuộc bỏ phiếu đối với việc nghiên cứu vẫn chưa rõ ràng.

Barbara Casassus

Một cuộc mít tinh vào đêm bầu cử ở Nantes, Pháp. Ảnh: Loic Venance/AFP qua Getty

Các nhà khoa học ở Pháp nhẹ nhõm khi đảng cánh hữu National Rally (RN) thua cuộc trong cuộc bầu cử quốc hội ngày hôm qua. Nhưng việc không có người chiến thắng hoàn toàn bộc lộ sự bất trắc cho các nhà khoa học, và nhiều người không nghĩ rằng chính phủ mới sẽ tạo ra sự khác biệt tích cực cho nghiên cứu và giáo dục đại học.

Đảng National Rally được kỳ vọng sẽ giành được đa số phiếu sau khi giành chiến thắng trong vòng bỏ phiếu đầu tiên vào ngày 30 tháng 6, và các nhà khoa học đã lo ngại rằng điều này có thể dẫn đến việc cắt giảm ngân sách nghiên cứu, hạn chế nhập cư và đưa chủ nghĩa hoài nghi về biến đổi khí hậu vào hạ viện Pháp, tức Quốc hội nước này. Nhưng bất ngờ thay, đảng này đã giành vị trí thứ ba trong cuộc bỏ phiếu vòng hai ngày hôm qua, xếp sau đảng cánh tả Mặt trận Bình dân Mới (NPF) và trung dung Ensemble — một liên minh bao gồm đảng Phục hưng của Tổng thống Emmanuel Macron. Không ai trong hai đảng dẫn đầu giành được lượng phiếu đa số tuyệt đối và giờ đây họ phải đàm phán để thành lập chính phủ.

Print Friendly and PDF

10.7.24

Trí tuệ nhân tạo cần được dạy trên các tập dữ liệu đa dạng về văn hóa để tránh thiên vị

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CẦN ĐƯỢC DẠY TRÊN CÁC TẬP DỮ LIỆU ĐA DẠNG VỀ VĂN HÓA ĐỂ TRÁNH THIÊN VỊ

Tác giả: Vered Shwartz

Nhu cầu giải quyết sự đa dạng trong các bộ dữ liệu được sử dụng để đào tạo trí tuệ nhân tạo ngày càng tăng. (Shutterstock)

Các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) là các chương trình trí tuệ nhân tạo học sâu, như ChatGPT của OpenAI. Khả năng của các LLM đã phát triển thành một phạm vi khá rộng, từ viết các bài luận trôi chảy, đến viết mã lập trình cho đến viết sáng tạo. Hàng triệu người trên toàn thế giới sử dụng các LLM và sẽ không ngoa khi nói rằng những công nghệ này đang chuyển đổi công việc, giáo dục và xã hội.

Các LLM được dạy bằng cách đọc một lượng lớn văn bản và học cách nhận ra và bắt chước các hình mẫu trong dữ liệu. Điều này cho phép chúng tạo ra văn bản mạch lạc và giống con người về hầu như mọi chủ đề.

Vì internet vẫn chủ yếu là tiếng Anh — 59 phần trăm tất cả các trang web đều bằng tiếng Anh tính đến tháng 1 năm 2023 — nên các LLM chủ yếu được dạy bằng văn bản tiếng Anh. Thêm vào đó, phần lớn văn bản tiếng Anh trực tuyến đến từ người dùng tại Hoa Kỳ, nơi có 300 triệu người nói tiếng Anh.

Học về thế giới từ các văn bản tiếng Anh được viết bởi người dùng web ở Hoa Kỳ, các LLM nói tiếng Anh Mỹ chuẩn và có lăng kính hẹp về phương Tây, Bắc Mỹ hoặc thậm chí lấy Hoa Kỳ làm trung tâm.

Print Friendly and PDF

8.7.24

Fentanyl: vai trò của Trung Quốc trong việc xuất khẩu một chất ma túy làm chết ngưới hàng loạt tại Mỹ

FENTANYL: VAI TRÒ CỦA BẮC KINH TRONG VIỆC XUẤT KHẨU MỘT CHẤT MA TUÝ LÀM CHẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT TẠI MỸ

Tác giả: Pierre-Antoine Donnet

Những túi đựng fentanyl trên bàn của hải quan Mỹ tại sân bay quốc tế O’Hare, San Francisco, tháng 11 năm 2017. (Nguồn: VOA)

Chính quyền Trung Quốc quyết liệt phủ nhận, nhưng tất cả các cuộc điều tra của Mỹ hầu như đều đi theo cùng một hướng. Đảng Cộng sản Trung Quốc tài trợ việc sản xuất các thành phần hoạt tính của fentanyl và xuất khẩu sang Mexico. Ở đó, các hoạt chất này được sử dụng để chế tạo chất ma túy tổng hợp giết chết hàng chục ngàn người mỗi năm tại Mỹ.

Ngày 15 tháng 11 vừa qua (2023), chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã hứa với người đồng cấp Mỹ Joe Biden sẽ giám sát ngăn chặn việc xuất khẩu các hóa chất gọi là “tiền chất” (precursor) trong thuật ngữ ngành dược khi ông Tập gặp ông Biden tại California, sau nhiều diễn văn công khai của Mỹ đối với Bắc Kinh. “Chúng tôi đã có nhiều biện pháp để giảm xuống một cách đáng kể làn sóng các tiền chất và các thuốc viên từ Trung Quốc nhập vào phương Tây, tổng thống Mỹ đã nói như vậy trước giới báo chí tập trung tại San Francisco. Việc này sẽ cứu sống nhiều mạng người và tôi đánh giá cao cam kết của chủ tịch Tập về vấn đề này.”

Nhưng bây giờ chính quyền Mỹ đang có một nhận xét cay đắng. Đã không có điều gì cụ thể được thực hiện và lời hứa này đã không được tôn trọng. Ngược lại là khác, vì chất ma túy tổng hợp này được đưa vào với số lượng ngày càng lớn và giết ngày càng nhiều người trên đất Mỹ. Vả lại, Bắc Kinh dường như đã thay đổi giọng điệu về vấn đề này, như lời của đại sứ Trung Quốc Tạ Phong (Xi Feng) tại Washington nêu rõ. Theo ông Tạ Phong, người đã gặp cách đây không lâu giám đốc văn phòng kiểm soát ma túy của Nhà Trắng Rahul Gupta, cuộc khủng hoảng này “không phải là vấn đề của Trung Quốc và Trung Quốc không phải là nguyên nhân”.

Print Friendly and PDF

6.7.24

Các tấm biển 'Không chấp nhận tiền mặt' là tin xấu đối với hàng triệu người Mỹ không có tài khoản ngân hàng

CÁC TẤM BIỂN 'KHÔNG CHẤP NHẬN TIỀN MẶT' LÀ TIN XẤU ĐỐI VỚI HÀNG TRIỆU NGƯỜI MỸ KHÔNG CÓ TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG

Chẳng mấy thân thiệnẢnh: Jackyenjoyphotography/Getty

Có bao nhiêu người không có tài khoản ngân hàng? Và việc sống như thế đang trở nên khó khăn đến nhường nào?

Những câu hỏi này ngày càng trở nên quan trọng khi có càng nhiều doanh nghiệp từ chối nhận tiền mặt ở các thành phố trên khắp Hoa Kỳ. Những người không có tài khoản ngân hàng sẽ bị cấm cửa khỏi các cửa tiệm và nhà hàng từ chối nhận tiền mặt.

Khi này, rất nhiều người vẫn “không có tài khoản ngân hàng”: dữ liệu mới nhất cho thấy khoảng 6 triệu người ở Mỹ, tức là cỡ dân số của bang Wisconsin. Và thế giới ngoài kia cũng có hơn một tỷ người không có tài khoản ngân hàng.

Tôi là giáo sư trường kinh doanh, người chuyên nghiên cứu quá trình chuyển đổi của xã hội từ tiền mặt sang thanh toán điện tử. Gần đây tôi đến thăm Seattle và không khỏi ngạc nhiên trước những tín hiệu trái ngược mà tôi thấy ở nhiều mặt tiền cửa hàng. Nhiều tiệm treo một tấm biển tự hào tuyên bố rằng họ thân thiện và bao trùm (tất cả mọi người) như thế nàobên cạnh một tấm biển khác ghi "Không nhận tiền mặt". Thứ cho những người không có tài khoản ngân hàng biết rằng họ không được chào đón.

Cách Seattle không xa, Công viên Quốc gia Mount Rainier đã ngừng nhận tiền mặt vào tháng 5 năm 2023.

Sao không có tài khoản ngân hàng?

Tại sao ai đó muốn tránh sử dụng ngân hàng? Hai năm một lần, Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang khảo sát các hộ gia đình về mối liên hệ của họ với hệ thống ngân hàng và hỏi những người không có tài khoản ngân hàng tại sao họ không mở một cái. Mọi người có thể chọn nhiều câu trả lời. Vào năm 2021, lý do hàng đầu — với hơn 40% số người được hỏi chọn lý do này — là họ không có đủ tiền để đáp ứng số dư tối thiểu.

Điều này phù hợp với dữ liệu cho thấy các hộ nghèo ít khả năng có tài khoản ngân hàng hơn. FDIC nhận thấy khoảng ¼ số người có thu nhập dưới 15.000 USD/năm không sử dụng dịch vụ ngân hàng. Trong số những người kiếm được hơn 75.000 USD một năm, hầu hết mọi người được khảo sát đều có một vài loại tài khoản ngân hàng.

Câu trả lời phổ biến thứ hai và thứ ba cho thấy một số người hoài nghi về ngân hàng. Khoảng một phần ba số người tham gia khảo sát đồng ý rằng “Việc tránh xa ngân hàng mang lại nhiều quyền riêng tư hơn”, trong khi một phần ba khác cho biết họ chỉ đơn giản là “không tin tưởng vào ngân hàng”.

Print Friendly and PDF

5.7.24

Bretton Woods: cũ nát nhưng vẫn là một thành tựu quốc tế to lớn sau 80 năm

BRETTON WOODS: CŨ NÁT NHƯNG VẪN LÀ MỘT THÀNH TỰU QUỐC TẾ TO LỚN SAU 80 NĂM

Hội nghị Bretton Woods đang mở họp, tháng 7 năm 1944. Everett Collection Inc/Alamy

Tháng 7 năm 1944, khi chiến tranh vẫn đang hoành hành ở châu Âu và Thái Bình Dương, 730 đại biểu từ 44 quốc gia đã tụ họp tại Mount Washington, một khách sạn lớn được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 ở New Hampshire. Họ đang ở rìa một thị trấn nhỏ tên là Carroll, được bao bọc bởi một khu rừng quốc gia cách biên giới Canada không xa. Nhưng cái tên sẽ trở nên nổi tiếng về sau thuộc về khu vực họ đang ở: Bretton Woods.

Hội nghị đã được Hoa Kỳ tạo điều kiện thuận lợi để thống nhất các quy tắc mới cho hệ thống tiền tệ quốc tế sau chiến tranh. Được mô tả là cuộc họp quốc tế quan trọng nhất kể từ hội nghị hòa bình Paris năm 1919, hội nghị sẽ "nhìn xa hơn cảnh tàn sát của chiến tranh để thiết lập một trật tự thế giới mới dựa trên thương mại và hợp tác". Thời điểm mà nước chủ nhà triệt để thay thế họ để trở thành cường quốc thống trị thế giới là một sự sỉ nhục đối với người Anh.

Khoảng 80 năm sau, hệ thống quốc tế trông rất khác so với những gì đã được thỏa thuận trong quá trình kéo dài ba tuần đó, phần lớn đã thất bại hoặc biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên, sự thống trị của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục, với các nguyên lý cơ bản làm nền tảng cho thỏa thuận vẫn được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, như chúng ta sắp thấy, giờ đây chúng ta đang gặp phải mối đe dọa chưa từng có.

Hai nhân vật chính tại Bretton Woods là nhà kinh tế học người Anh và là trưởng đoàn đàm phán, John Maynard Keynes, và nhà kinh tế học quốc tế trưởng tại Bộ Tài chính Hoa Kỳ, Harry Dexter White. Keynes là cựu chiến binh của hội nghị Paris, vốn đã kết thúc với hiệp ước Versailles.

Ông đã từ chức vì thất vọng với các cuộc đàm phán và xuất bản một hồi ký sống động và tàn khốc, The Economic Consequences of the Peace (Tạm dịch: Những hậu quả kinh tế của hòa bình) vào năm 1919 để giải thích lý do tại sao "các điều khoản kinh tế của hiệp ước (Versailles)hết sức sai lầm và nguy hiểm."

Print Friendly and PDF

4.7.24

Robot sẽ làm gì với sơ yếu lý lịch của bạn? Vấn đề thiên vị khi sử dụng AI trong tuyển dụng

ROBOT SẼ  LÀM GÌ VỚI SƠ YẾU LÝ LỊCH CỦA BẠN? VẤN ĐỀ THIÊN VỊ KHI SỬ DỤNG AI TRONG TUYỂN DỤNG

Các tác giả: Melika Soleimani, Ali Intezaari, David J PauleenJim Arrowsmith

Cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu, lan rộng đến hầu hết mọi khía cạnh của đời sống nghề nghiệp và cá nhân của con người – bao gồm cả tuyển dụng.

Trong khi các nghệ sĩ lo sợ bị vi phạm bản quyền hoặc chỉ đơn giản là bị thay thế, các doanh nghiệp và ban quản lý ngày càng nhận thức được khả năng nâng cao hiệu quả trong nhiều lĩnh vực đa dạng như quản lý chuỗi cung ứng, dịch vụ khách hàng, phát triển sản phẩm và quản lý nguồn nhân lực (HR).

Sắp tới, mọi lĩnh vực kinh doanh và vận hành sẽ chịu áp lực phải áp dụng AI dưới hình thức này hay hình thức khác. Nhưng chính bản chất của AI – và dữ liệu đằng sau các quy trình và các đầu ra của nó – có nghĩa là sự thiên vị của con người đang được cài vào công nghệ.

Nghiên cứu của chúng tôi xem xét việc sử dụng AI trong tuyển dụng và thuê nhân viên – một lĩnh vực đã áp dụng AI rộng rãi để tự động sàng lọc sơ yếu lý lịch và đánh giá các cuộc phỏng vấn video của ứng viên.

AI trong tuyển dụng hứa hẹn tính khách quan và hiệu quả cao hơn trong quá trình tuyển dụng bằng cách loại bỏ sự thiên vị của con người và tăng cường tính công bằng và nhất quán trong việc ra quyết định.

Print Friendly and PDF

2.7.24

MILL John Stuart, 1806-1873

MILL John Stuart, 1806-1873

John Stuart Mill (1806-1873)

Cuộc đời của Mill trước tiên mang dấu ấn của cha ông, triết gia J. Mill, người áp đặt cho ông một chế độ giáo dục đặc biệt hà khắc, hoàn toàn hướng về học tập, nhằm tạo ra một nhà tư tưởng hàng đầu: kết quả thì đạt được nhưng với cái giá là những yếu kém tâm lí được chính Mill viết lại trong tiểu sử tự thuật ([1873], 1993) mô tả hành trình trí tuệ biến ông thành một trong những nhà tư tưởng quan trọng và độc đáo nhất của thế kỉ XIX. Tìm được việc làm trong Công ty Đông Ấn Anh, một công việc cho ông được rộng rãi thời gian nhàn rỗi dành cho viết lách giúp ông có nhiều đóng góp quan trọng trong những lĩnh vực khác nhau được ông đụng vào: lí thuyết nhận thức, lí thuyết đời sống xã hội, chính trị kinh tế học và triết học đạo đức và chính trị.

Trước tiên Mill đóng góp vào sự phát triển một “triết học tinh thần” có tính tự nhiên, kinh nghiệm chủ nghĩa và liên hợp chủ nghĩa, trong sự nối dài của truyền thống kinh nghiệm chủ nghĩa Anh, đặc biệt là truyền thống của Hume. Trong tác phẩm Système de logique ([1843], 1988) ông quan tâm, theo quan điểm quyết định luận, đến những cơ chế của tư duy và của sự hình thành các niềm tin. Không đi vào chi tiết các phân tích, cần nhấn mạnh nguyên lí tổng quát: không được xây dựng những tiêu chí của sự hiển nhiên một cách tiên nghiệm. Những quy luật của tính duy lí được khám phá ngay trong quá trình tư duy, đối với ai có những suy tư như vậy không có nền tảng nào khác hơn là việc khám phá hiệu lực của các quy luật (Skorupsky, 1989). Như vậy có một tính quy phạm nội tại của tư duy mà chính trong quá trình suy nghĩ cho phép hình thức hóa hiệu lực của chính nó. Không dừng lại ở sự phân biệt giữa sự kiện và chuẩn mực, suy nghĩ của Mill hướng đến việc thừa nhận điều mà ta có thể gọi là sự kiện chuẩn tắc: sự kiện tư duy dẫn đến việc khám phá chuẩn mực của tư duy, trong sự tiến triển và thực hành tư duy. Như vậy tính phong phú của phân tích của Mill cho phép phân tích sự hình thành của những tin tưởng sai lầm, những ngụy biện. Thật vậy, nếu quá trình tư duy cung cấp chuẩn mực của chính nó thì quá trình này cũng cho phép hiểu quá trình thất bại của tư duy và việc sản sinh những sai lầm điển hình.

Do đó, lí thuyết của Mill là một lí thuyết tâm lí học, theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những sự tin tưởng của con người. Đời sống tinh thần được tâm lí học nghiên cứu có sự tham gia của việc nghiên cứu toàn bộ những biểu hiện của tinh thần này, nghĩa là cả những tư tưởng lẫn cảm xúc, ý chí lẫn cảm xúc. Vấn đề là khám phá những quy luật của sự hình thành những ý tưởng, và cả những ý muốn và ý chí, trong một tầm nhìn chú ý đến việc xác định những nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến việc hướng dẫn hành động.

Print Friendly and PDF

30.6.24

Ý hệ về “Dữ Liệu Lớn” (“Big Data”), một tai họa được báo trước cho đạo đức về nhận thức và hành động

Ý HỆ VỀ “DỮ LIỆU LỚN” (“BIG DATA”), MỘT TAI HỌA ĐƯỢC BÁO TRƯỚC CHO ĐẠO ĐỨC VỀ NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG

Tác giả: Jean-Pierre Dupuy

Giáo sư triết học, Stanford University

Những người cổ súy cho trí tuệ nhân tạo và các Dữ Liệu Lớn muốn bỏ qua những quan hệ nhân quả và hài lòng chấp nhận những quan hệ tương quan. Quay lưng với những nguyên tắc và khái niệm căn bản về nhận thức luận, ý hệ của họ tỏ ra vô cùng nguy hiểm về phương diện đạo đức.

Warren McCulloch (1898-1969)
Walter Pitts (1923-1969)

Trí tuệ nhân tạo (sau đây sẽ viết tắt là AI), đã trở thành một vấn đề thời sự tương đương với chiến tranh ở Ukraine hay sự nổi dậy của nông dân Pháp. Những người có hiểu biết uyên thâm nhất cho rằng AI khởi đầu mới đây, vào năm 2018. Vì tôi đã làm việc trong nhiều năm về lịch sử triết học của các khoa học nhận thức, từ ngành điều khiển học cho đến AI[1], riêng tôi nghĩ rằng AI đã khởi đầu từ năm 1943, khi một nhà tâm thần học thần kinh tên là Warren McCulloch và một nhà toán học xuất chúng, Walter Pitts, sáng tạo ra khái niệm mạng nơ-ron hình thức. Họ đã chứng minh về vấn đề này những tính chất nổi bật có thể tạo niềm hy vọng sẽ xuất hiện một khoa học vật chất và logic-toán học của trí tuệ con người.

Khoảng cách chừng tám mươi năm giữa chúng ta và hành động khai phá này rõ ràng đã chứng kiến những bước tiến triển phi thường. Đặc biệt là nhờ những công trình của Yann LeCun, người Pháp, và Geoffrey Hinton, người Anh, mô hình lúc khởi đầu đã trở thành một hệ thống có khả năng tự học nhờ vào một hệ thống cấp bậc các lớp nơ-ron hình thức chồng chéo nhau - từ đó có thành ngữ “học sâu”, tiếng Anh là deep learning -, và bằng cách đối chiếu với các dữ liệu của thế giới thực.

Print Friendly and PDF

28.6.24

Hegel nói về Trung Hoa, Khoa học và Tinh thần phương Đông

 HEGEL NÓI VỀ TRUNG HOA, KHOA HỌC VÀ TINH THẦN PHƯƠNG ĐÔNG

Nguyễn Xuân Xanh chọn lọc và chuyển ngữ

W. F. Hegel (1770-1831)

Lời nói đầu. Bài này tôi đã thực hiện khoảng năm 2010 và được đăng trong số Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm, tr. 461-467. Nó có phần abstract tiếng Anh và phần tóm tắt tiếng Việt. Tôi vẫn giữ nguyên. Tôi đăng lại và vẫn giữ nguyên nội dung, trước nhu cầu hiện nay muốn hiểu về Trung Quốc.

Mô hình hiện tại của Trung Quốc vẫn dựa trên mệnh lệnh của một người mà quyền lực tương đương với hoàng đế thuở trước. Ông khôn ngoan hơn, biết phát triển kinh tế thị trường (theo Adam Smith) đồng thời ra sức kích thích nghiên cứu khoa học công nghệ bằng nhiều chính sách đầu tư có định hướng, một loại bàn tay hữu hình, để phục vụ cho kinh tế và làm cho nó có tính ưu việt, biết nghiên cứu và áp dụng những kinh nghiệm và thành tựu của các quốc gia phương Tây đi trước rồi làm cho tốt hơn một cách tham vọng. Trong khi đó, truyền thống của phương Tây là dựa vào sự sáng tạo cá nhân của dân chúng là chính, nguồn sáng tạo muôn đời đã tạo ra nhiều cuộc cách mạng, như cách mạng khoa học, cách mạng công nghiệp, và những cuộc cách mạng như thế trong thế kỷ 20 – vì lợi ích chính của cá nhân, self-interest, trước tiên, nhưng thông qua bàn tay vô hình của Adam Smith, lại phục vụ lợi ích chung rất lớn. Bàn tay hữu hình của họ cũng có, như sự đầu tư có tính entrepreneurial, của các quốc gia phát triển vào công nghệ lõi đi trước thời cuộc như Hoa Kỳ thời Thung lũng Silicon, hay các quốc gia phát triển khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan sau đó, được xem như một phần của nhà nước kiến tạo phát triển của các quốc gia đi đầu của Đông Á, nhưng không phải có tính chất “chỉ huy chủ nghĩa” như ở Trung Quốc. Và cũng không phải để đổi lấy tự do dân chủ của người dân. Mà ngược lại. Chỉ có trong tự do khoa học đích thực mới phát triển được. Hy lạp cổ đại thời Khai sáng Ionia sáu thế kỷ trước Công nguyên là nền tảng và mẫu mực, cái nôi của khoa học phương Tây. Người dân phương Tây tự chủ, tự-hành động, tự-ý thức, và có lòng yêu thích khoa học, sáng tạo, như Hegel nói, và là cái bể sáng tạo muôn đời. Khoa học đã từng tắt đi cả ngàn năm rồi cũng tự động sáng lại cùng với các đại học Trung cổ, không phải chỉ chờ sự kích thích từ minh quân. Kant viết trong cuộc Tranh cãi của các khoa: “Chỉ có một yêu cầu khiêm tốn là được tự do, và chỉ tự do thôi, để tìm ra chân lý, điều có lợi cho khoa học và cho các phân khoa khác (ứng dụng), và chân lý đó đối với chính quyền không có gì phải nghi ngờ và cũng không thể thiếu được.” Tìm hiểu Trung Quốc vẫn còn là đề tài ở phía trước.

Nguyễn Xuân Xanh 6/8/2023

Print Friendly and PDF

26.6.24

Đừng bận tâm đến tốp 1% mà hãy nói về tốp 0,01% những người giàu nhất

ĐỪNG BẬN TÂM ĐẾN TỐP 1% MÀ HÃY NÓI VỀ TỐP 0,01% NHỮNG NGƯỜI GIÀU NHẤT

Một phân tích về những người có thu nhập cao nhất nước Mỹ

Howard R. Gold - Ngày 29 tháng 11 năm 2017 - CBR - Economics

Từ sau cuộc Đại Suy thoái [2007 – 2009], tốp 1% những người giàu nhất nước Mỹ đã bị biến thành những con quỷ tài phiệt ngày càng giàu có hơn, còn giới trung lưu đã chững lại. Trong khi những người biểu tình yêu cầu cần phải tăng thuế đối với tốp 1%, thì các kinh tế gia đã và đang khai quật dữ liệu để hiểu rõ hơn về tốp những người kiếm được nhiều tiền nhất này.

Các kinh tế gia đã tìm cách đo lường tình trạng bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng tài sản nhằm xác định bản chất nguồn thu nhập và tài sản của tốp 1% những người giàu nhất. Kết quả là có các góc nhìn khác nhau về vấn đề này. Một số kinh tế gia cho rằng, trong tốp này phần lớn là giới doanh nhân và “giới nhà giàu hiện nay”, những người kiếm tiền từ việc sáng lập và điều hành những doanh nghiệp thành công. Các kinh tế gia khác lại cho rằng, đa số những người trong tốp 1% là những người được thừa kế khối tài sản [kếch xù] được tích lũy theo thời gian.

Nhưng dữ liệu cũng cho thấy có những khác biệt trong tốp 1% những người giàu nhất. Hóa ra, tốp này còn có tốp 1% của riêng nó.

Print Friendly and PDF

24.6.24

Daniel Kahneman đã thay đổi cách chúng ta nghĩ về bản chất con người

DANIEL KAHNEMAN ĐÃ THAY ĐỔI CÁCH CHÚNG TA NGHĨ VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI – NHÀ TÂM LÝ HỌC ĐƯỢC CỰU SINH VIÊN NHỚ ĐẾN

Người đoạt giải Nobel Daniel Kahneman đã để lại dấu ấn trong nhiều lĩnh vực (1934-2024). Roger Parkes/Alamy Stock Photo

Sự ra đi của Daniel Kahneman ở tuổi 90 đã để lại một khoảng trống lớn trong lĩnh vực khoa học hành vi và trong cộng đồng trí thức rộng lớn hơn.

Những đóng góp khoa học của ông, nhiều trong số đó là công trình cộng tác với nhà tâm lý học nhận thức Amos Tversky, đã làm thay đổi các ngành tâm lý học và kinh tế học. Chúng cũng có tác động to lớn đến triết học, khoa học chính trị và nhiều ngành khác.

Tôi gặp Danny lần đầu tiên vào năm 1984 khi còn là sinh viên. Tôi chuyển đến Vancouver, Canada để học trong phòng thí nghiệm của ông ấy tại Đại học British Columbia, nơi ông làm việc chung với nhà tâm lý học Ann Triesman. Mặc dù lúc đó Danny chưa nổi tiếng như hiện giờ nhưng tài năng của ông đã được công nhận rộng rãi.

Ba người từng hoặc sẽ giành giải Nobel đã đến thăm lớp học. Richard Thaler, khi ấy vẫn còn trẻ, đã dành cả năm làm việc với chúng tôi, Thomas Schelling và Francis Crick cũng có ghé qua. Dù bận đến thế, Danny vẫn dành thời gian cho tất cả mọi người. Đến tận giờ, tôi vẫn thường chia sẻ những lời khuyên của Danny với học trò và đồng nghiệp của mình.

Năm 2002, Danny nhận được Giải của Ngân hàng trung ương Thụy Điển về các khọc kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel. Từ đó, ông có lẽ đã trở thành một trong những cây bút có ảnh hưởng và nổi tiếng nhất với công chúng trong lĩnh vực các khoa học hành vi (ngang với người bạn thân và cũng là cộng tác viên Richard Thaler của mình). Cuốn sách Tư duy, nhanh và chậm xuất bản năm 2011 của Danny là một tác phẩm kinh điển về văn phong của sách khoa học phổ thông.
Print Friendly and PDF