Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel kinh tế 2016. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel kinh tế 2016. Hiển thị tất cả bài đăng

19.10.16

Một cuộc phỏng vấn với Avner Offer & Gabriel Söderberg, các tác giả của tác phẩm The Nobel Factor


Nhân tố Nobel

Một cuộc phỏng vấn với Avner Offer & Gabriel Söderberg, các tác giả của tác phẩm The Nobel Factor
(Nhân tố Nobel: Giải thưởng về Kinh tế học, Dân chủ Xã hội, và Bước ngoặt Thị trường)
1. Lập luận cốt lõi của cuốn sách này là gì?
Kể từ những năm 1970, kinh tế học hàn lâm và thuyết dân chủ xã hội đã tranh cãi về cách thức xã hội cần phải được quản lý. Thách thức là những thời kỳ của vòng đời, khi con người có rất ít quyền lực thị trường, những sự kiện ngẫu nhiên của chức năng làm mẹ, vấn đề giáo dục, ốm đau, khuyết tật, thất nghiệp, và tuổi già. Kinh tế học cho rằng điều tốt nhất là nên mua sự an sinh trên các thị trường tài chính, qua các phương tiện tiết kiệm, vay tiền và bảo hiểm. Điều này được hỗ trợ bởi cái được giả định là quyền lực khoa học, được biểu trưng bởi giải thưởng Nobel về Kinh tế học. Đó cũng là mục tiêu của doanh nghiệp và nền tài chính trong việc tìm kiếm lợi nhuận từ các dòng thu nhập của mọi người. Thuyết dân chủ xã hội xử lí sự phụ thuộc bằng cách chuyển nhượng từ nhà sản xuất đến người phụ thuộc, cung cấp các dịch vụ giáo dục, chăm sóc y tế, lương hưu, cơ sở hạ tầng vật chất và văn hóa, và tổng hợp các rủi ro của cá nhân bằng các công cụ đánh thuế và chuyển nhượng. Chúng ta đặt nghi vấn về những tuyên bố của kinh tế học liên quan đến tính khách quan và lý trí vượt trội.
Print Friendly and PDF

18.10.16

Giải Nobel kinh tế chống lại dân chủ xã hội


Oliver Hart (1948-)
Bengt R. Holmström (1949-)

Giải Nobel kinh tế chống lại dân chủ xã hội

Avner Offer
OXFORD - Trong số những thành phần ưu tú quản lý xã hội hiện đại thì chỉ có nhà kinh tế mới có giải thưởng Nobel, và mới đây vừa công bố các vị khôi nguyên mới nhất, Oliver Hart và Bengt Holmström. Bất luận vì lý do gì mà các kinh tế gia có được địa vị độc nhất vô nhị này, thì quầng hào quang từ giải thưởng cũng có thể – và thường – tạo nên sự tín nhiệm cho những chính sách có thể gây hại cho lợi ích công, ví dụ như tạo ra bất bình đẳng và khiến các cuộc khủng hoảng tài chính có nhiều khả năng xảy ra hơn.
Nhưng không chỉ có quan điểm kinh tế. Một thế giới quan khác sẽ định hướng việc phân bổ khoảng 30% GDP – dành cho việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, và lương hưu – ở các nước phát triển nhất. Quan điểm xã hội nên được quản lý như thế nào này – quan điểm dân chủ xã hội – không chỉ là một định hướng chính trị mà còn là một phương pháp cai trị.
Print Friendly and PDF

17.10.16

Hart và Holmström, Giải Nobel kinh tế 2016

Hart và Holmström, Giải Nobel kinh tế 2016
Alexandre Delaigue
Qua Hart và Holmström, Ủy ban Nobel thưởng cho hai nhà kinh tế vi mô và cho lí thuyết hợp đồng. Theo dòng của những giải trước đây, như giải cho Tirole, Williamson hay Coase, vấn đề là xây dựng một khuôn khổ lí thuyết, chung quanh khái niệm động viên, các vấn đề thông tin, sở hữu để hiểu cách vận hành của doanh nghiệp, của thị trường và nếu có thể áp dụng các kết quả lí thuyết này để cải tiến các quy định, các phương thức trả thù lao hay các dịch vụ cho cộng đồng. Những vấn đề mà kiểu các công trình này đề cập rất rộng lớn, từ cách trả lương cho nhân viên (theo sản phẩm hay theo lương giờ?), cho lãnh đạo (nên chăng thưởng theo kết quả của chứng khoán doanh nghiệp) qua việc tư nhân hóa (tư nhân hóa nhà tù có phải là một ý tốt không?) đến hành động công (khi nào và vì sao chính phủ phải cứu giúp ngân hàng?) và nhiều chủ đề khác nữa. Nếu muốn tóm tắt ngắn gọn nhất các công trình trên thì công thức ấy là như sau: Cái mà bạn sẽ có là cái mà bạn đã trả giá, không hơn không kém, điều này bạn có thể đo lường.
Print Friendly and PDF

16.10.16

Lý thuyết hợp đồng



Lý thuyết hợp đồng

(Thông tin phổ biến đại chúng của Ủy ban phụ trách Giải thưởng về Khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel.)
Hợp đồng là rất cần thiết cho sự vận hành của các xã hội hiện đại. Nghiên cứu của Oliver HartBengt Holmström làm sáng tỏ cách thức các hợp đồng giúp chúng ta xử lí các xung đột lợi ích.
Hợp đồng giúp chúng ta hợp tác với nhau và tin tưởng nhau hơn, trong khi nếu không có nó thì chúng ta có thể làm buồn lòng nhau và không tin tưởng nhau. Là nhân viên, chúng ta có hợp đồng lao động. Là người vay tiền, chúng ta có hợp đồng tín dụng. Là chủ sở hữu của những tài sản có giá trị dễ xảy ra tai nạn, chúng ta có hợp đồng bảo hiểm. Chúng ta điền một số hợp đồng ít hơn một trang giấy, trong khi một số hợp đồng khác cần đến hàng trăm trang giấy.
Một lý do quan trọng để thiết lập hợp đồng là điều tiết các hành động trong tương lai. Ví dụ, hợp đồng lao động có thể quy định các khoản thưởng nếu đạt kết quả công việc tốt và các điều kiện sa thải, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là các hợp đồng cũng thường có những mục đích khác, chẳng hạn như chia sẻ rủi ro giữa các bên ký kết hợp đồng.
Print Friendly and PDF

15.10.16

Một giải Nobel kinh tế cho việc kiểm tra thực tại



Một giải Nobel kinh tế cho việc kiểm tra thực tại
Giải Nobel kinh tế năm nay được trao cho Oliver Hart và Bengt Holmström với công trình nghiên cứu về lý thuyết hợp đồng. Để khởi đầu tìm hiểu về hai vị khôi nguyên và các công trình của họ, bạn có thể tham khảo blog của kinh tế gia Kevin Bryan, một số bài viết đáng tin cậy ở Marginal Revolution, và bài tóm tắt của Tyler Cowen ở Bloomberg View.
Nghiên cứu ở đây đi sâu vào các vấn đề kinh tế vi mô. Cụ thể là về động viên, thông tin không hoàn hảo, và các mối quan hệ lâu dài; và về các tương tác chiến lược tinh tế giữa những người không biết khả năng hay ý định của nhau. Nhưng nghiên cứu này lại liên quan đến rất nhiều vấn đề kinh tế trong thế giới thực -- trả lương theo kết quả công việc, mua bán và sáp nhập, cho vay của ngân hàng và cấu trúc doanh nghiệp.
Print Friendly and PDF

14.10.16

Hai giáo sư Đại học Harvard, MIT đã được trao giải Nobel kinh tế vì nghiên cứu về lý thuyết hợp đồng



Hai giáo sư Đại học Harvard, MIT đã được trao giải Nobel kinh tế vì nghiên cứu về lý thuyết hợp đồng

Lễ công bố người đoạt Giải Nobel về kinh tế học, tên gọi chính thức là Giải thưởng của ngân hàng Riksbank Sveriges về khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel. (Ảnh: Stina Stjernkvist/TT via AP/Reuters).
Oliver Hart thuộc Đại học Harvard và Bengt Holmström thuộc Đại học MIT đã được trao giải thưởng Nobel 2016 về khoa học kinh tế vào hôm thứ hai vì các công trình của họ về lý thuyết hợp đồng, nghiên cứu về cách thức con người có thể đạt được các thỏa thuận một cách hiệu quả.
Những đóng góp của họ đã định hình cách suy nghĩ trong một loạt các lĩnh vực, từ pháp luật đến kinh tế học cho đến khoa học chính trị, gây ảnh hưởng đến cách thức các học giả suy nghĩ về các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa các doanh nhân và nhà đầu tư, và giữa người cai trị và người được cai trị.
Print Friendly and PDF

13.10.16

Vì sao Bengt Holmstrom là nhà kinh tế nên được biết tới?



Vì sao Bengt Holmstrom là nhà kinh tế nên được biết tới?
Đối với cộng đồng kinh tế, các nghiên cứu sáng tạo của Bengt Holmstrom đã có tiếng. Còn đối với những người “ngoại đạo”, kết quả của công trình nghiên cứu của ông đã mang lại sự hiểu biết tốt hơn về một số vấn đề quan trọng hàng ngày. Từ những động viên tại nơi làm việc cho đến quản trị doanh nghiệp (corporate governance) hay cuộc khủng hoảng tài chính, Holmstrom đã phát triển những ý tưởng mới mẻ về các đối tượng xứng đáng nhận được sự quan tâm của chúng ta. Và nếu một số trong các ý tưởng đó có vẻ mang tính cực đoan thì đó là do ông chỉ để tâm đến các mô hình.
Print Friendly and PDF

12.10.16

"Giải thưởng Nobel" kinh tế: mặt trái chính trị và tài chính của một giải thưởng



PTKT: Đã từ lâu, tính "chính danh" của tên gọi "giải Nobel kinh tế" bị đặt thành vấn đề. PTKT từng đề cập vấn đề này ở đây. Đầu thu năm nay, nhà xuất bản đại học Princeton vừa cho ra mắt cuốn sách được điểm dưới đây. Hai tác giả là chuyên gia về lịch sử tư tưởng kinh tế, trong đó Avner Offer là thành viên của British Academy (Viện Hàn lâm Anh) và của All Souls College thuộc đại học Oxford. Bản dịch cuộc phỏng vấn đồng tác giả tác phẩm trên sẽ xuất hiện nay mai trong hồ sơ này.
"Giải thưởng Nobel" kinh tế: mặt trái chính trị và tài chính của một giải thưởng
Lễ trao giải thưởng của ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel vào năm 2015.©YE PINGFAN/XINHUA-REA
Một cuốn sách mới, The Nobel Factor (Nhân tố Nobel), đã tiết lộ những cuộc chiến chính trị và ý thức hệ, cũng như những áp lực cá nhân và tài chính đã dẫn đến việc Ngân hàng Thụy Điển tạo ra cái gọi là "giải thưởng Nobel" về kinh tế vào năm 1968. Một cuốn sách hấp dẫn.
Print Friendly and PDF

11.10.16

Nobel kinh tế: Oliver Hart và Bengt Holmstörm, hai nhà kinh tế học sát với doanh nghiệp



Nobel kinh tế: Oliver Hart và Bengt Holmstörm, hai nhà kinh tế học sát với doanh nghiệp
Antoine Reverchon
Công bố Giải Nobel kinh tế tại Viện hàn lâm hoàng gia Thụy Điển (Stockholm) ngày 10.10, Jonathan Nackstrand/AFP
“Giải kinh tế học của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel” được trao cho các nhà kinh tế Oliver Hart (Mĩ-Anh) và Bengt Holmstörm (Phần Lan) để thưởng những công trình lí thuyết của họ về hoạt động của doanh nghiệp, được xem như một tập những hợp đồng, rõ ràng hoặc ngầm ẩn, giữa các bên có liên quan (người lao động và người sử dụng lao động, người gọi thầu và người trúng thầu, cộng tác viên và nhà quản lí, cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp, v.v.).
Print Friendly and PDF

10.9.15

Hợp đồng



Hợp đồng

Contract
® Giải Nobel: COASE, 1991 MIRRLEES, 1996 SCHOLES, 1997.
Trên nhiều thị trường, ta đứng trước những quan hệ cá nhân hoá giữa những tác nhân chỉ định rõ những cam kết với nhau, tuỳ theo thông tin sẵn có và có thể chuyển nhượng cho nhau: đó là những hợp đồng. Khái niệm này cho phép xử lí, với cùng một công cụ phân tích, những quan hệ nội bộ của các tổ chức (đặc biệt là các doanh nghiệp) và những quan hệ bên ngoài trên thị trường. Do đó lí thuyết hợp đồng vừa là một lí thuyết những thị trường vừa là một lí thuyết những tổ chức.
Những khái niệm cơ bản
Có thể định nghĩa những khái niệm cơ bản của lí thuyết hợp đồng trong khuôn khổ của mô hình người uỷ quyền-người đại diện. Mô hình nay hình thức hoá những quan hệ giữa hai tác nhân: một trong hai tác nhân, được gọi là người uỷ quyền, đề nghị một hợp đồng mà đối tác của mình, được gọi là người đại diện, có thể chấp nhận hay không, trong một bối cảnh thông tin không đối xứng. Một hợp đồng thật ra là một thoả thuận chỉ định một số nghĩa vụ các bên phải tuân thủ (hoàn thành một số thành tựu, những số lượng trao đổi, những thanh toán phải chi trả, những điều kiện gia hạn phải đề nghị ) trong một khoảng thời gian nhất định, tuỳ theo những tín hiệu kiểm tra được và những thông điệp được phát ra. Một tín hiệu được gọi là kiểm tra được khi nó tương ứng với những thông tin mà người uỷ quyền và người đại diện, và cả một người thứ ba, quan sát được. Nói cách khác, thông tin là kiểm tra được khi nó được cảm nhận dưới một dạng đủ khách quan để có thể điều kiện hoá một số điều khoản của hợp đồng, bằng cách cầu viện đến một toà án trong trường hợp một trong các bên không tôn trọng các điều khoản này. Tuy nhiên đôi lúc người ta chỉ giữ lại đơn giản một giả thiết về tính quan sát được chứ không phải giả thiết kiểm tra được: thường đó là vì những lí do gắn với danh tiếng của các tác nhân (người uỷ quyền hay nguời đại diện) khiến họ phải tôn trọng thoả thuận trong lúc một toà án không thể bắt buộc họ. Trường hợp này được gọi là có hợp đồng ngầm.
Print Friendly and PDF