23.10.21

Cứu sống hay để chết – Thảm hoạ và y đức

Hồ sơ: Ý nghĩa của các thảm họa

CỨU SỐNG HAY ĐỂ CHẾT

Thảm họa và y đức

Tác giả: Frédérique Leichter-Flack[*]


Những điều kiện cực đoan trong tình huống thảm họa khiến không thể thực hành hoạt động y tế khẩn cấp giúp cho mỗi nạn nhân đều nhận được sự chăm sóc thích hợp. Lúc đó phải lựa chọn, phân loại sàng lọc, và đôi khi để chết. Bằng cách theo dõi những cuộc điều tra do Sheri Fink thực hiện tại Nouvelle Orléans (New Orleans) sau khi cơn bão Katrina đi qua, F. Leichter-Flack chỉ ra sự cần thiết phải chuẩn bị khía cạnh đạo đức trong thảm họa.

Frédérique Leichter-Flack (1974-)

“Chúng ta đã không sẵn sàng như lẽ ra có thể”, đó là kết luận của Anderson Cooper, phóng viên thường trú tại New Orleans đã bị tàn phá bởi cơn bão Katrina vào tháng tám năm 2005[1]. Có phải bài học chính của một thảm họa là phải chuẩn bị tốt hơn cho thảm họa tiếp theo? Giữa quy mô rộng lớn của thảm họa do cơn cuồng phong Katrina gây ra, tính dễ bị tổn thương xã hội trầm trọng hơn, vốn đã bị tích lũy và không được quan tâm từ nhiều năm qua, đã góp phần biến đổi, qua những diễn biến của điều bất ngờ và sự phơi nhiễm của con người, một hiện tượng tự nhiên thành thảm họa quốc gia – và phải tính đến những bài học của biến cố này. Nhưng thực ra chính là sự bất lực của các cơ quan Nhà nước – và đặc biệt là của FEMA (Federal Emergency Management Agency), Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang – trong việc quản lý các thảm họa và những cứu trợ khẩn cấp cốt yếu –, trong suốt “tuần thảm họa Katrina” đã bị lên án gay gắt[2].

Print Friendly and PDF

22.10.21

Giải “Nobel” kinh tế 2021 công nhận sự vượt trội của kinh tế học thực nghiệm

GIẢI “NOBEL” KINH TẾ CÔNG NHẬN SỰ VƯỢT TRỘI CỦA KINH TẾ HỌC THỰC NGHIỆM

Lionel Ragot[*]

Năm nay các nhà kinh tế David Card, Joshua Angrist và Guido Imbens đã nhận giải của Ngân hàng Thuỵ Điển để tưởng nhớ Nobel, được gọi là “giải Nobel kinh tế”. Giải này tôn vinh một cách tiếp cận thực nghiệm trong kinh tế học, gây thiệt thòi cho kinh tế học lí thuyết.

David Card, Joshua Angrist và Guido Imbens, ba người được giải của Ngân hàng Thuỵ Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel, 2021. Ảnh: Wei Xeichao/XINHUE-REA

Khi trọng thưởng David Card (Đai học California ở Berkeley), Joshua Angrist (MIT) và Guido Imbens (Standford), Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thuỵ Điển khép lại một loạt trao giải “Nobel” cho những nhà kinh tế đã góp phần biến đổi sâu rộng nghiên cứu kinh tế trong ba mươi năm qua. Một chỉ báo tốt của sự thay đổi này, mà một số tác giả còn gọi là một cuộc cách mạng, là vị trí được các tạp chí quốc tế lớn dành cho các bài viết lí thuyết đã công bố: từ gần 60% vào đầu những năm 1980, con số này sụt xuống dưới 20% vào đầu những năm 2010 (Hamermesch, 2012).

Trong khoảng thời gian này, kinh tế học thường nghiệm đã thế chỗ kinh tế học lí thuyết, không chỉ vì ngày càng có nhiều công trình thường nghiệm, nhưng nhất là vì sự phát triển của các cách tiếp cận thực nghiệm trong các công trình này. Các cách tiếp cận này mang lại một tính chặt chẽ về mặt phương pháp luận đôi khi còn thiếu của các nghiên cứu thường nghiệm và mở lớn cửa cho chúng đi vào các tạp chí uy tín nhất. Điều này giải thích cho việc bước ngoặt này còn được gọi là cuộc “cách mạng tín nhiệm”.

Print Friendly and PDF

21.10.21

Các học giả nhận giải Nobel kinh tế 2021 đã chỉ cho những nhà kinh tế cách biến thế giới thực thành phòng thí nghiệm của họ

CÁC HỌC GIẢ NHẬN GIẢI NOBEL KINH TẾ 2021 ĐÃ CHỈ CHO NHỮNG NHÀ KINH TẾ CÁCH BIẾN THẾ GIỚI THỰC THÀNH PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA HỌ

Tác giả: David A. Jaeger

Việc ủy ​​ban Nobel trao gii thưởng kinh tế hc năm 2021 cho David Card, Josh Angrist và Guido Imbens đánh dấu đỉnh cao của cuộc cách mạng về cách các nhà kinh tế tiếp cận thế giới từ hơn 30 năm trước. Cho tới những năm 1980, các cuộc thử nghiệm không phổ biến trong kinh tế học. Hầu hết các nhà kinh tế làm việc trong lĩnh vực kinh tế học ứng dụng đều dựa trên dữ liệu từ các cuộc khảo sát (như điều tra dân số) hoặc từ các nguồn hành chính (như an sinh xã hội).

Vào khoảng cuối những năm 1980, các nhà kinh tế học lao động nói riêng bắt đầu suy ngẫm sâu sắc về cách ước lượng tốt hơn tác động của các hiện tượng như nhập cư hoặc lương tối thiểu. Tương tự như cách thức mà, ví dụ, các công ty dược phẩm kiểm nghiệm một loại thuốc mới, các nhà kinh tế này muốn làm theo cách thức để sàng lọc những biến khác, có thể gây ra các tác động tương tự. Cùng với đó là việc tập trung mới vào dữ liệu và đo lường các cá nhân và hành vi của họ.

Print Friendly and PDF

20.10.21

Tạ Văn Tài: Người phụ nữ qua luật pháp và tập quán Việt Nam

 

TẠ VĂN TÀI: NGƯỜI PHỤ NỮ QUA LUẬT PHÁP VÀ TẬP QUÁN VIỆT NAM

TÍNH LIÊN TỤC VÀ SỰ THAY ĐỔI TRONG VAI TRÒ

CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Tạ Văn Tài

Harvard Law School & Luật sư tại Massachusetts

ĐỖ THỊ THU TRÀ chuyển ngữ từ tiếng Anh

Lời giới thiệu. Bài nghiên cứu dưới đây của GS Tạ Văn Tài, chuyên gia luật pháp, cho thấy bức tranh được tu chỉnh so với thành kiến truyền tụng về quyền và vai trò người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ phong kiến cho tới hiện đại. Đó cũng là một cách vinh danh người phụ nữ Việt Nam. Xin giới thiệu. NXX

✩✩✩

Phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống gia đình và xã hội, vì “phụ nữ nắm một nửa bầu trời”, như Mao Trạch Đông từng nói, và ở Hoa Kỳ, phụ nữ quyết định chiến thắng chính trị cho các ứng cử viên vào thời điểm hiện tại. Sự thay đổi vai trò của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử là một nghiên cứu về sự hòa nhập của nhiều nền văn hóa: văn hóa bản địa Việt Nam, văn minh Trung Hoa, ảnh hưởng của văn hóa Pháp và các nước phương Tây khác. Những ảnh hưởng này vẫn còn để lại dấu vết cho đến thời điểm hiện tại, dù ở trong nước hay trong cộng đồng người Việt hải ngoại bên ngoài Việt Nam. Vì vậy, một khảo sát về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội trong suốt chiều dài lịch sử sẽ cho phép chúng ta thấy được vai trò đó có tính liên tục và sự thay đổi như thế nào.

Chúng ta sẽ không kể lại những công lao to lớn của các nữ anh hùng trong lịch sử Việt Nam, như Hai Bà Trưng đánh đuổi các lãnh chúa thực dân Trung Hoa, giành độc lập cho Việt Nam năm 40-43 sau Công Nguyên, hay Bà Triệu (249 sau Công Nguyên) người cũng từng chiến đấu chống người Trung Hoa, hoặc các nhà cách mạng Cô Giang và Cô Bắc, những người hoạt động chống Pháp, mặc dù những nữ anh hùng này có thể giúp  chúng ta nhận biết về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong đời sống xã hội, vai trò đã có trong thời kỳ trước phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ trong thế giới hiện đại. Đúng hơn, ở đây chúng ta quan tâm đến vai trò kinh tế, xã hội và địa vị pháp lý của những người phụ nữ Việt Nam “bình thường” trong suốt chiều dài lịch sử, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài.

Print Friendly and PDF

19.10.21

Học giả nhận giải Nobel David Card chứng minh người nhập cư không làm giảm lương của người lao động bản xứ

HỌC GIẢ NHẬN GIẢI NOBEL DAVID CARD CHỨNG MINH NGƯỜI NHẬP CƯ KHÔNG LÀM GIẢM LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG BẢN XỨ

Arvind Magesan

Ngày 15 tháng 10 năm 2021 6.35 sáng AEDT

David Card là người Canada, học giả nhận giải Nobel kinh tế năm 2021, một hình mẫu ở Berkeley, California. Card, giáo sư ở Đại học California, Berkeley, đã nhận được giải thưởng cho nghiên cứu của mình về lương tối thiểu và tình trạng nhập cư. (Ảnh AP / Noah Berger)

Các nhà kinh tế học ứng dụng dành phần lớn thời gian của họ để cố gắng tìm ra các câu trả lời có ý nghĩa — tức các tác động nhân quả — từ dữ liệu quan sát.

Không giống như các ngành khoa học tự nhiên, chúng ta không thể tiến hành các cuộc thí nghiệm để trả lời các câu hỏi lớn trong lĩnh vực của chúng ta. Ví dụ, nếu muốn biết việc tăng lương tối thiểu ảnh hưởng như thế nào lên tỷ lệ thất nghiệp, thì chúng ta phải dựa vào dữ liệu thực từ người sử dụng lao động, người lao động và khách hàng.

Nhưng thật chẳng dễ dàng khi so sánh tỷ lệ thất nghiệp ở hai địa hạt pháp lý có chính sách lương tối thiểu khác nhau. Pháp chế về lương tối thiểu là một lựa chọn chính sách, và những lựa chọn này phụ thuộc vào vô số lực lượng kinh tế và chính trị có khả năng giải thích về tỷ lệ thất nghiệp. Điều đó có nghĩa là khả năng của chúng ta để tìm hiểu bất cứ điều gì về tác động của lương tối thiểu từ phép so sánh đơn giản kiểu “táo và cam” [tức, hai sự việc hoàn toàn khác nhau, không nên so sánh với nhau - ND] là rất hạn chế.

Nhà kinh tế học người Canada David Card đã nhận giải Nobel kinh tế năm nay chủ yếu là vì ông đã phát triển các phương pháp đáng tin cậy để trích xuất các tác động nhân quả từ loại dữ liệu quan sát này.

Print Friendly and PDF

18.10.21

Giới thiệu David Card, học giả nhận giải Nobel Kinh tế năm 2021, người đã khiến lương tối thiểu trở nên đáng trân trọng

GIỚI THIỆU DAVID CARD, HỌC GIẢ NHẬN GIẢI NOBEL KINH TẾ NĂM 2021, NGƯỜI ĐÃ KHIẾN LƯƠNG TỐI THIỂU TRỞ NÊN ĐÁNG TRÂN TRỌNG

Ngày 12 tháng 10 năm 2021 5.29 chiều AEDT

RITTANY HOSEA-SMALL / UC BERKELEY

Hàng năm, Ủy ban Công bằng Công sở (Fair Work Commission) của Úc xem xét có nên tăng lương tối thiểu hay không. Và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng năm đều cảnh báo việc này sẽ gây ra tình trạng mất việc làm.

Giải Nobel kinh tế năm nay đã được trao cho nhà kinh tế David Card công tác tại Hoa Kỳ vì công trình của ông cùng Alan Krueger đã đưa ra những phát hiện đảo ngược nhận thức này.

Trước Card và Krueger, “mọi người đều biết” việc áp đặt hoặc tăng lương tối thiểu sẽ gây ra tình trạng mất việc làm. Các nhà tuyển dụng sẽ không có đủ tiền để duy trì nhiều nhân viên.

Print Friendly and PDF

17.10.21

Giải Nobel kinh tế cho cuộc cách mạng Tín nhiệm

GIẢI NOBEL CHO CUỘC CÁCH MẠNG TÍN NHIỆM

Alex Tabarrok

Từ khóa: Các vấn đề hiện tại, Kinh tế học

David Card (1956-), Joshua Angrist (1960-) và Guido W. Imbens (1963-)

Giải Nobel thuộc về David Card, Joshua Angrist và Guido Imbens. Nếu muốn tìm kiếm công trình khoa học của họ, bạn hãy nhìn quanh mình. Gần như toàn bộ các công trình thực nghiệm về kinh tế học mà bạn đọc trên báo chí phổ thông (và hàng tá khác không được đăng trên những tờ báo này) là nhờ phân tích các thí nghiệm tự nhiên với các kỹ thuật như phương pháp khác biệt kép [difference in differences], các biến công cụ [instrumental variables] và hồi quy gián đoạn [regression discontinuity]. Các kỹ thuật này rất mạnh nhưng người bình thường nào cũng có khả năng hiểu được ý tưởng đằng sau chúng, điều này mang lại lợi thế lớn cho các nhà kinh tế khi nói chuyện với công chúng. Ví dụ như nghiên cứu về mức lương tối thiểu nổi tiếng của Card và Krueger (1994) (và đây). Nghiên cứu này nổi tiếng nhờ phát hiện nghịch lý rằng việc bang New Jersey tăng lương tối thiểu vào năm 1992 không làm giảm việc làm tại các nhà hàng thức ăn nhanh và thậm chí có thể đã tăng công ăn việc làm. Nhưng điều thực sự làm bài báo trở nên tuyệt vời là sự sáng rõ của các phương pháp mà Card và Krueger sử dụng để nghiên cứu vấn đề.

Print Friendly and PDF

16.10.21

Nâng lương tối thiểu gây ra thiệt hại gì?

Tóm tắt các bài học trên trường lớp | Ấn bản ngày 15 tháng 8 năm 2020

NÂNG LƯƠNG TỐI THIỂU GÂY RA THIỆT HẠI GÌ?

Ba thập kỷ nghiên cứu đã dẫn tới một sự suy xét lại

The Economist

Trong suốt một khoảng thời gian dài, các nhà kinh tế — mà thu nhập trung vị, theo khảo sát của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ (AEA), là 104.000 đô la một năm — coi lương tối thiểu là có hại. Một cuộc khảo sát của các thành viên AEA vào năm 1992 cho thấy 79% số người được hỏi đồng ý rằng mức lương tối thiểu làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở những người lao động trẻ tuổi và có tay nghề thấp. Trong một giới khó kiểm soát, điều đó gần với một quan điểm đồng thuận nhất có thể được tìm thấy. Mặc dù nhiều nhà kinh tế thừa nhận rằng lương thấp đích thị có thể là một vấn đề thực sự, song họ lập luận rằng sẽ tai hại hơn khi không trả đồng lương nào.

Jimmy Carter (1924-)
Richard Nixon (1913-1994)

Họ không phải là những người duy nhất nghĩ như vậy. Lập luận tương tự đã được các chính trị gia Đảng Cộng hòa sử dụng. Vào năm 1968, mức lương tối thiểu liên bang của Mỹ đứng ở mức cao nhất kể từ lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1938. Trong hai thập kỷ sau đó, tính trên thực tế, nó đã giảm 44%. Mặc dù Jimmy Carter đã tăng lương trong 4 năm ông làm tổng thống, để bắt kịp lạm phát, Richard Nixon chỉ tăng lương hai lần trong 6 năm, còn Ronald Reagan không tăng lần nào trong 8 năm. Một số chính trị gia của bang và địa phương, chủ yếu là các đảng viên Đảng Dân chủ, đã cố gắng bù đắp sự sụt giảm bằng cách tăng lương tối thiểu của người lao động, tạo ra sự chắp vá ở các cấp độ khác nhau. Những chênh lệch do việc này gây ra cho phép những nghiên cứu thường nghiệm chi tiết về các tác động của các chính sách và cung cấp phương pháp nhờ đó sự đồng thuận của các nhà kinh tế sẽ bị xói mòn.

Print Friendly and PDF

15.10.21

Cách tiếp cận được giải Nobel - ‘thí nghiệm tự nhiên’ - đã làm cho kinh tế học trở nên vững chắc hơn

CÁCH TIẾP CẬN ĐƯỢC GIẢI NOBEL - ‘THÍ NGHIỆM TỰ NHIÊN’ - ĐÃ LÀM CHO KINH TẾ HỌC TRỞ NÊN VỮNG CHẮC HƠN

Joshua Angrist, Guido Imbens và David Card cùng nhau chia sẻ giải thưởng vì đã tìm ra cách thức để xác định nhân và quả trong khoa học xã hội.

Philip Ball

Từ trái sang phải: Joshua Angrist, Guido Imbens và David Card cùng chia sẻ giải thưởng Nobel về các khoa học kinh tế năm 2021 cho công trình đã giúp việc nghiên cứu kinh tế học trải qua một ‘cuộc cách mạng về độ tin cậy’. Hình ảnh: MIT/EPA-EFE/Shutterstock, Andrew Brodhead/Stanford News Service/EPA-EFE/Shutterstock, Noah Berger/AP/Shutterstock

Cách tiếp cận ‘thí nghiệm tự nhiên’, mang về cho ba nhà nghiên cứu Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển về Khoa học Kinh tế năm 2021, đã giúp làm cho lĩnh vực này trở nên vững chắc hơn, các nhà kinh tế cho biết.

Joshua Angrist tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge, Guido Imbens tại Đại học Stanford ở California và David Card tại Đại học California, Berkeley, đã nhận được giải thưởng nhờ công trình cho thấy quan hệ nhân quả có thể được luận ra từ dữ liệu có thể quan sát trong các thí nghiệm tự nhiên ở thế giới-thực như thế nào. Công trình của họ đã được sử dụng để kiểm tra, ví dụ, mức lương tối thiểu khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến các công việc và các doanh nghiệp; và những tác động kinh tế của tình trạng di cư.

Print Friendly and PDF

14.10.21

Các nhà phát triển hộp công cụ kinh trắc nhận ‘giải Nobel’ kinh tế năm nay

CÁC NHÀ PHÁT TRIỂN HỘP CÔNG CỤ KINH TRẮC NHẬN ‘GIẢI NOBEL’ KINH TẾ NĂM NAY

Lars Pålsson Syll

11 Tháng 10, 2021 lúc 17:46 | mục Thống kê & Kinh trắc học

Nhiều câu hỏi lớn trong khoa học xã hội liên quan tới nguyên nhân và kết quả. Tình trạng nhập cư tác động lên mức lương và tỉ lệ việc làm như thế nào? Việc được giáo dục trong thời gian dài hơn tác động như thế nào tới thu nhập tương lai của một người? …

Những người nhận giải năm nay đã chỉ ra rằng có thể trả lời những câu hỏi này và những câu hỏi tương tự bằng cách sử dụng các cuộc thử nghiệm tự nhiên [natural experiments]. Mấu chốt là sử dụng các tình huống trong đó các sự kiện ngẫu nhiên hoặc các thay đổi chính sách dẫn tới việc các nhóm người được can thiệp khác nhau, theo cách giống với các cuộc thử nghiệm lâm sàng trong y học.

Bằng cách sử dụng các cuộc thử nghiệm tự nhiên, David Card đã phân tích các tác động trên thị trường lao động của mức lương tối thiểu, nhập cư và giáo dục…

Tuy nhiên, dữ liệu từ một cuộc thử nghiệm tự nhiên rất khó diễn giải… Vào giữa những năm 1990, Joshua Angrist Guido Imbens đã giải quyết được vấn đề về phương pháp luận này, chứng minh rằng các kết luận chính xác về nguyên nhân và kết quả có thể được rút ra từ các cuộc thử nghiệm tự nhiên như thế nào.

Thông cáo báo chí: Giải thưởng Khoa học Kinh tế năm 2021

Print Friendly and PDF

13.10.21

Các thí nghiệm tự nhiên giúp trả lời những câu hỏi quan trọng

CÁC THÍ NGHIỆM TỰ NHIÊN GIÚP TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI QUAN TRỌNG

Những người được giải năm nay - David CardJoshua Angrist và Guido Imbens - đã cho thấy rằng các thí nghiệm tự nhiên có thể được sử dụng để trả lời những câu hỏi trọng tâm về xã hội, chẳng hạn như mức lương tối thiểu và tình trạng di cư ảnh hưởng như thế nào đến thị trường lao động. Họ cũng đã làm rõ một cách chính xác những kết luận về nhân và quả có thể được rút ra bằng cách sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu này. Cùng nhau, họ đã cách mạng hóa nghiên cứu thực nghiệm trong các khoa học kinh tế.

Nếu muốn đưa ra được những quyết định đúng đắn, chúng ta phải hiểu hệ quả của những sự lựa chọn của mình. Điều này áp dụng cho các cá nhân cũng như các nhà hoạch định chính sách công: những người trẻ đang đưa ra những sự lựa chọn về giáo dục muốn biết những sự lựa chọn này ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập tương lai của họ; ví dụ, các chính trị gia đang cân nhắc một loạt những cải cách muốn biết những cải cách này ảnh hưởng ra sao đến việc làm và phân phối thu nhập. Tuy nhiên, việc trả lời những câu hỏi rộng lớn về nhân và quả không phải là dễ dàng, bởi vì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì sẽ diễn ra nếu như chúng ta đưa ra một sự lựa chọn khác.

Print Friendly and PDF

12.10.21

Giải Nobel Kinh tế học dành cho mối quan hệ nhân quả: Angrist, Card và Imbens

NgÀY 11 THÁNG 10 NĂM 2021 | NHÀ KINH TẾ HỌC DỄ GẦN

GIẢI NOBEL KINH TẾ HỌC DÀNH CHO MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ: ANGRIST, CARD VÀ IMBENS

Tác giả: Timothy Taylor

Guido W. Imbens (1963-), Joshua Angrist (1960-) và David Card (1956-)

Thoạt nhìn, có vẻ như giải Nobel kinh tế học năm 2021 (tên chính thức là Giải thưởng Sveriges Riksbank về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel 2021) được trao cho hai đóng góp khá riêng biệt. Các thông báo về giải thưởng cho biết rằng một nửa giải thưởng được trao cho David Card “vì những đóng góp về thực nghiệm của ông ấy đối với kinh tế học lao động”, trong khi một nửa còn lại được trao cho Joshua D. Angrist và Guido W. Imbens “vì những đóng góp về phương pháp luận của họ cho việc phân tích các mối quan hệ nhân quả.” (Nếu sau một cuộc trò chuyện khá hài hước, người ta chia giải thưởng thành 1/2, 1/4, 1/4, chứ không phải là 1/3, 1/3, 1/3 thì hẳn nó sẽ rất thú vị đấy, song những việc như vậy là do ủy ban Nobel quyết định.)

Nhưng mối liên hệ cơ bản giữa ba người đồng nhận giải là đủ rõ nếu như bạn đọc các tài liệu cơ bản do ủy ban Nobel công bố. Mỗi năm, ủy ban đưa ra bài giải thích giải thưởng dưới dạng “khoa học thường thức” rất dễ đọc và năm nay có tựa đề “Các cuộc thực nghiệm tự nhiên giúp trả lời các câu hỏi quan trọng” cùng với bài nghiên cứu dưới dạng: “nền tảng khoa học” chuyên biệt hơn và dài hơn, năm nay có tựa đề “Trả lời các câu hỏi quan hệ nhân quả sử dụng dữ liệu quan sát.

Print Friendly and PDF

11.10.21

Giải Nobel kinh tế: một nước bài bậc thầy

GIẢI NOBEL KINH TẾ: MỘT NƯỚC BÀI BẬC THẦY

Patrick Moynot

Đăng ngày 15 tháng 10 năm 2008

Ngày mà các nhà kinh tế học trở thành những nhà khoa học. Câu chuyện đã được biết rồi, nhưng vẫn lý thú khi nhắc lại trong bối cảnh hiện tại: trái với vẻ bề ngoài, cái được gọi là “giải Nobel Kinh tế”, vừa được trao vào hôm Thứ ba 14 Tháng 10, không phải là một giải Nobel. Việc lập ra giải thưởng kinh tế vào năm 1969, từ phía các nhà kinh tế học tân cổ điển, là một nước bài bậc thầy của một tập thể nhằm biến đổi ngành học của họ thành một khoa học. Kinh tế học, về bản chất là chính trị học, của Karl Marx hay Adam Smith, đã chết vào ngày hôm đó. Không chắc là ta được gì qua cuộc đổi chác này.

Khi Alfred Nobel quyết định thành lập quỹ để trao giải thưởng nổi tiếng vào năm 1901, ông đã chọn ra năm ngành, ba trong số đó mà ngày nay chúng ta gọi là khoa học cứng, là: vật lý học, hóa học và y học. Giải thưởng về văn học và “hòa bình” bổ sung cho cơ cấu này. Di chúc của ông, rất chính xác, chưa bao giờ đề cập đến một ngành nào khác, bất luận có mang tính khoa học hay không. Vào thời đó, không ai nghĩ đến ý tưởng dán nhãn “khoa học” cho kinh tế học. Lúc bấy giờ đó cũng là trường hợp của hầu hết các trường điều tra, mà ngay cả ngày nay người ta chỉ đồng ý gọi là khoa học khi nói về khoa học ở số nhiều: các khoa học nhân văn.

Print Friendly and PDF

10.10.21

Các công ty xếp hạng tín dụng đang trừng phạt các nước nghèo vì phải đầu tư nhiều hơn vào chăm sóc sức khỏe trong đại dịch

 

CÁC CÔNG TY XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐANG TRỪNG PHẠT CÁC NƯỚC NGHÈO VÌ PHẢI ĐẦU TƯ NHIỀU HƠN VÀO CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRONG ĐẠI DỊCH

Ramya Vijaya

Ma rốc muốn chi nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe. Kết quả là, điểm xếp hạng tín dụng của nó đã bị giảm sút. Ảnh AP / Abdeljalil Bounhar

Việc phục hồi kinh tế từ đại dịch COVID-19 phụ thuộc vào đầu tư bền vững cho chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội. Tuy nhiên, trong khi các nước giàu có như Hoa Kỳ có thể vay và chi tiêu tương đối dễ dàng, thì các quốc gia thu nhập thấp phải đối mặt với một trở ngại lớn: các điểm xếp hạng tín dụng của họ.

Xếp hạng tín dụng (credit rating), giống như điểm tín dụng, là sự đánh giá khả năng trả nợ của tổ chức đi vay – cho dù đó là công ty hay chính phủ. Bị đánh giá có thứ hạng thấp làm tăng chi phí đi vay.

Mối đe dọa này đã khiến một số nước nghèo tránh khai thác các nhà đầu tư để có nguồn tài chính thiết yếu trong đại dịch, trong khi chính phủ của các quốc gia khác lên kế hoạch chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ công đã bị các công ty tư nhân hạ thấp điểm tín dụng.

Nghiên cứu sắp tới của tôi chỉ ra rằng khi điểm tín dụng sụt giảm, các quốc gia có xu hướng chi tiêu ít hơn đến chăm sóc sức khỏe. Đây là một nguyên nhân đáng lo ngại vì biến thể Delta của vi rút Corona làm tăng số lượng ca nhiễm trên toàn thế giới.

Print Friendly and PDF

9.10.21

Hồ sơ Pandora: “Đã đến lúc phải truy lùng những luật sư và kế toán viên tiếp tay cho việc trốn thuế” - Hỏi và đáp của Chuyên gia về thuế nước ngoài

HỒ SƠ PANDORA: ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI TRUY LÙNG NHỮNG LUẬT SƯ VÀ KẾ TOÁN VIÊN TIẾP TAY CHO VIỆC TRỐN THUẾ - HỎI VÀ ĐÁP CỦA CHUYÊN GIA VỀ THUẾ NƯỚC NGOÀI

Tác giả: Ronen Palan

Có gì bên trong hộp? Tranh: delcarmat

Nhiều người trong số những người giàu nhất và quyền lực nhất thế giới một lần nữa là tâm điểm được mọi người chú ý vì sử dụng các thiên đường thuế bí mật và cấu trúc công ty để che giấu sự giàu có và tránh thuế. Hồ sơ Pandora là tài liệu thứ ba trong một loạt khối lượng khổng lồ các tài liệu bị rò rỉ ra cho giới truyền thông tiếp theo sau hồ sơ Panama vào năm 2016 và hồ sơ Paradise vào năm 2017 - và dường như ít có gì đã thay đổi trong thời gian chuyển tiếp.

Tính đến nay, những người mới bị tiết lộ bao gồm các nhà lãnh đạo của Cộng hòa Séc, Síp, Jordan và Ukraine, cộng với các thành viên của gia đình cầm quyền ở Azerbaijan và những nhân vật thân cận với Vladimir Putin. Tổng cộng, hơn 100 tỷ phú được cho là đã bị dính vào các tiết lộ, với các giao dịch khác nhau, từ tài sản trị giá hàng triệu bảng Anh đến các quỹ đen và siêu du thuyền.

Chúng tôi đã phỏng vấn Giáo sư Ronen Palan, một chuyên gia về các thiên đường thuế nước ngoài tại Đại học Thành phố London, về câu chuyện này cho đến nay.

Print Friendly and PDF

8.10.21

Trong thời đại COVID và biến đổi khí hậu, khoa học xã hội là quan trọng, nhưng khoa học xã hội lại nằm trong khối các ngành học đại học đang bị cắt giảm

TRONG THỜI ĐẠI COVID VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, KHOA HỌC XÃ HỘI LÀ QUAN TRỌNG, NHƯNG KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI NẰM TRONG KHỐI CÁC NGÀNH HỌC ĐẠI HỌC ĐANG BỊ CẮT GIẢM

Ảnh: Shutterstock

Tác giả: Rochelle Spencer

Ba thách thức lớn nhất mà Úc phải đối mặt trong 5 đến 10 năm tới là gì? Khoa học xã hội sẽ đóng vai trò gì trong việc giải quyết những thách thức này?

Học viện Khoa học Xã hội ở Úc đã đặt những câu hỏi này trong một bài thảo luận vào đầu năm nay. Bối cảnh của đánh giá này là cắt giảm các ngành thuộc khoa học xã hội trên khắp đất nước, với việc giảng dạy được ưu tiên hơn nghiên cứu.

Print Friendly and PDF