Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ điển quốc tế về Bourdieu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ điển quốc tế về Bourdieu. Hiển thị tất cả bài đăng

1.9.26

Về một số mục liên quan đến thống kê trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN THỐNG KÊ TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

Analyse des correspondances/Analyse des correspondances multiples [Phân tích những tương ứng/Phân tích những tương ứng bội]

Phân tích những tương ứng là một kĩ thuật của thống kê đa biến (thống kê xử lí các bảng có nhiều biến). Phân tích này là một biến thể của “phân tích nhân tố” hay của “phân tích những thành phần chính” (ACP) được các nhà tâm lí học sử dụng từ những năm 1940, nhưng tiến triển nhiều và được phổ biến, ít ra là ở Pháp trong những năm 1960 và 1970 dưới sự thúc đẩy của nhà thống kê học Jean-Paul Benzécri và những người cộng tác với ông. Các cộng tác viên này mở rộng, về mặt toán học lẫn tin học, phân tích nhân tố không những ra những bảng có biến định lượng, như chiều cao hay tuổi tác, mà còn đến cả những bảng có biến định tính, như giới tính hay thành phần xã hội-nghề nghiệp (“nam giới”, “công nhân”, v.v.).

Pierre Bourdieu sử dụng kĩ thuật này từ giữa những năm 1970, chủ yếu là biến thể mà ngày nay được gọi là “phân tích những tương ứng bội” (ACM), cho phép xử lí thông tin của một tập những cá thể thống kê (ví dụ, đó có thể là những cá thể sinh học, những tập thể …) với một số lớn những biến định tính. Tại Trung tâm xã hội học châu Âu (CSE), Salah Bouhedja nghiên cứu kĩ thuật và các chương trình tin học cho phép triển khai ACM. Bài viết đầu tiên có một ACM được công bố năm 1976 và được đăng ba năm sau, dưới một dạng được tu chỉnh, trong La Distinction. Trừ trường hợp của sơ đồ nổi tiếng về không gian xã hội, những biểu đồ trong tác phẩm này về các biến thể của thị hiếu (goût) thống trị và thị hiếu trung bình [Di: 296, 392] là kết quả của ACM. Tiếp sau đó, Bourdieu vận dụng ACM cho việc nghiên cứu giới chủ [PB 1978b; rồi La Noblesse d’État], trường hàn lâm [Homo academicus], các Trường lớn [], chính sách nhà ở [Les Structures sociales de l’économie], ngành xuất bản [PB 1999a]. Những nhà nghiên cứu lấy cảm hứng từ Bourdieu và/hay làm việc bên cạnh ông cũng vận dụng phân tích những tương ứng trong những bài viết trên tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales để xây dựng những trường (trường các tiên phong nghệ thuật, trường các nhà kinh tế, trường điện ảnh …), nghiên cứu thị trường hôn nhân, sự thừa kế những cơ sở nông nghiệp, những cách sử dụng tin học, những lá thư tố cáo, v.v.. Nếu các ACM trong La Distinction và trong La Noblesse d’État nhắm vào những cuộc điều tra bằng bản câu hỏi do CSE tiến hành, các ACM do Bourdieu công bố dựa trên những đặc tính của các giới (prosopographies).

Print Friendly and PDF

15.2.26

Các sách của Bourdieu trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

Các mục về sách của Bourdieu và các mục liên quan đến Algérie trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

BỊ BẬT GỐC. CUỘC KHỦNG HOẢNG CUẢ NỀN NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG Ở ALGÉRIE [DÉRACINEMENT (LE). LA CRISE DE L’AGRICULTURE TRADITIONNELLE EN ALGÉRIE]

Với tựa đề phụ “La crise de l’agriculture traditionnelle en Algérie/Cuộc khủng hoảng của nền nông nghiệp truyền thống ở Algérie”, cuốn sách này, được soạn thảo cùng với Abdelmalek Sayad, được Nhà xuất bản Minuit xuất bản năm 1964. Đây là kết quả của một cuộc điều tra được thực hiện trong cùng điều kiện và cùng thời kỳ (từ năm 1959 đến năm 1960) với tác phẩm Travail et travailleurs en Algérie/Lao động và người lao động ở Algérie. Để hiểu được tác động của chiến tranh và của sự đàn áp đối với dân thường, Pierre Bourdieu và nhóm của ông đã đi vào các vùng chiến sự để gặp gỡ những người nông dân bị ồ ạt tập trung lại trong các trại tập trung, trong những điều kiện mà chính ông cho là “nguy hiểm”. Mục tiêu của các tác giả là mô tả các trại tập trung do quân đội khởi xướng chứ không phải ghi chép một cách có hệ thống các cuộc can thiệp của quân đội vào các làng mạc truyền thống, trong số đó một số vẫn còn hoạt động một phần lâu sau khi Algérie giành được độc lập. Điều này được minh chứng qua các bộ phim của Ahmed Rachedi, L’Opium et le bâton, về Chiến tranh Algérie, La Colline oubliée của Abderrahmane Bouguermouh và La Montagne de Baya của Azzedine Meddour, được quay tại các ngôi làng Kabyle trước chiến tranh.

Chính sách tập trung này do chính quyền Pháp thực hiện nhằm mục đích kiểm soát hoàn toàn mọi hoạt động của người dân và ngăn chặn họ cung cấp thông tin và tiếp tế cho các thành viên của ALN (Quân đội Giải phóng Dân Tộc). Chiến dịch này nhằm mục đích biện minh cho sự đàn áp bằng cách tuyên bố bất kỳ ai ở lại các khu vực bị cấm là “phiến quân”, trái ngược với những cư dân của các ngôi làng vẫn giữ được kiến ​​trúc và phần nào lối sống của họ (múc nước từ nguồn nước, thu hoạch ô liu, làm việc trên đồng ruộng) dưới sự giám sát của quân đội. Trong trường hợp này, chính quân đội đã định cư ngay tại làng.

Quá trình này dần dần lan rộng khắp cả nước, nơi mà vào tháng 1 năm 1959, không dưới 936 trại đã được kiểm kê. Ngay từ năm 1955 trở đi, mục tiêu là tập trung dân chúng dựa trên học thuyết “chiến tranh cách mạng” được phát triển từ kinh nghiệm ở Đông Dương và được phổ biến trong bộ tổng tham mưu. Do đó, nhiệm vụ của quân đội Pháp không chỉ giới hạn ở cuộc chiến chống lại Quân Đội Giải Phóng Dân Tộc (ALN), nó còn bao gồm các hành động nhắm vào các nhóm dân cư được tập hợp lại với mục đích khuyến khích họ ủng hộ Pháp. Với mong muốn cắt đứt phong trào kháng chiến với những người ủng hộ ở địa phương, quân đội đã phá hủy các cấu trúc xã hội và kinh tế cũng như nhịp sống trong không gian-thời gian của dân chúng (thay đổi nơi sống và tước đoạt đất đai), như Bourdieu và Sayad đã chỉ ra sau nhiều tháng điều tra (từ năm 1959 đến năm 1961) tại các trại tập trung nông dân [PB 1964a]. Cuộc điều tra này do đó đã tiết lộ những tác động của một chính sách được giữ bí mật, được thiết lập từ năm 1955 và trở nên có hệ thống vào năm 1958, bởi một thế lực quân sự đã thách thức luật pháp của nền Cộng hòa.

Print Friendly and PDF

27.11.25

Về các thuật ngữ liên quan tới khái niệm trường trong Từ điển quốc tế về Bourdieu (trường hàn lâm, trường quan liêu, trường sản sinh văn hóa, trường sản xuất hệ tư tưởng, trường quyền lực, trường kinh tế, trường trí tuệ, trường báo chí, trường pháp lý, trường chính trị, trường tôn giáo, trường khoa học)

VỀ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN TỚI KHÁI NIỆM TRƯỜNG TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

CHAMP

[TRƯỜNG]

Khái niệm trường được mượn từ vật lý lý thuyết: nó nắm bắt các mối quan hệ giữa các yếu tố trong một không gian, được quan niệm như một trường lực, theo nguyên lý (lực) hút – (lực) đẩy. Nguyên lý này được các nhà lý thuyết Gestalt chuyển sang tâm lý học. Kurt Lewin đã thích nghi nguyên lý đó vào tâm lý học xã hội để tư duy về các tương tác giữa cá nhân và môi trường của mình. Cũng theo nghĩa này của từ trường, Pierre Bourdieu đã đưa nguyên lý ấy vào xã hội học để tư duy về các không gian xã hội tương đối tự trị, đồng thời định nghĩa lại nó theo cách trừu tượng hơn: một trường lực (“không gian của các vị trí”), hoạt động cùng lúc như một trường đấu tranh (“không gian của sự chiếm lĩnh các cương vị”), hai cấp độ phân tích cần phải phân biệt, mặc dù cả hai không gian này duy trì các mối quan hệ đồng đẳng về mặt cấu trúc [Sociologie générale 1: 501-503].

Sự hình thành và xây dựng lý thuyết trường

Từ những năm 1970 trở đi, Bourdieu đã phát triển dự án một lý thuyết tổng quát về các trường không được công bố khi ông còn sống (bản thảo của cuốn sách vẫn chưa hoàn thành), nhưng vẫn có nhiều dấu vết, từ các hội thảo, bài giảng và bài nói chuyện mà ông dành cho lý thuyết này [PB 2013a; SG 1], cho đến các nghiên cứu mà bản thân ông, các thành viên trong nhóm của ông và các sinh viên của ông đã thực hiện về một số trường đặc thù: văn học [PB 1975d; Les règles de l'art], tôn giáo, khoa học [PB 1975e; 1976c; Science de la science et réflexivité], chính trị [Propos sur le champ politique], hàn lâm [Homo academicus], triết học [PB 1975j; L’Ontologie politique de Martin Heidegger], nghệ thuật [PB 1987a; Manet], biên tập [PB 1999a] – và cả thời trang cao cấp [Questions de sociologie: 196-206] (về sự hình thành và sự phát triển của lý thuyết này, xem Sapiro [2017]).

Print Friendly and PDF

5.10.25

Về các thuật ngữ Thực tiễn, Bạo lực biểu tượng, Nhà nước, Cảm thức thực tiễn & Quyền lực biểu tượng

PRATIQUE/PRATIQUES

[THỰC TIỄN]


Pierre Bourdieu bắt đầu xây dựng lý thuyết thực tiễn của mình vào những năm 1960, sau khi trở về từ Algérie. Ta có thể tìm thấy sự trình bày chi tiết đầy đủ đầu tiên của lý thuyết này trong Esquisse d’une théorie de la pratique (1972) và sự trình bày lại mang tính hệ thống trong Le Sens pratique (1980). Sinh ra từ sự đối đầu của ông với nhân học cấu trúc của Lévi-Strauss, lý thuyết này được nuôi dưỡng bởi những bài của Merleau-Ponty, Husserl, Heidegger và Wittgenstein, nhưng trước hết gắn chặt với các nghiên cứu dân tộc học mà ông đã thực hiện về vùng Kabylie trong khoảng thời gian từ 1958 đến 1961.

Sự suy ngẫm về thực tiễn dựa trên sự phê phán kép chủ nghĩa luận và khách quan luận. Một bên, các cách tiếp cận theo chủ nghĩa chủ quan, từ lý thuyết của Sartre đến lý thuyết về chủ thể duy lý, cho rằng hành động là sản phẩm của ý chí của một chủ thể có ý thức có khả năng tự phóng chiếu vào tương lai bằng cách dự đoán các hệ quả của hành động của mình. Nhưng Bourdieu tranh cãi cả ý tưởng về quyền tự do lựa chọn hoàn toàn và quyền tự do phóng chiếu trong tương lai. Ông phân biệt sự dự đoán hợp lý với sự phóng chiếu như một ý đồ thực tiễn, bằng cách dựa vào khái niệm “protention/ước ao” (protention là sư ước ao (và sự mong đợi) những gì sẽ đến/à-venir -, nó là điều tạo nên cái khả năng của tương lai/avenir trong sự tiến hóa/devenir - ND) do Husserl phát triển [Choses dites: 22].

Print Friendly and PDF

21.9.25

Về một số mục liên quan đến giai cấp trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN GIAI CẤP TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU:

CLASSES/CLASSIFICATION 

[LOẠI-GIAI CẤP-GIAI TẦNG/PHÂN LOẠI]

Ở cấp độ lịch sử, chương trình về một xã hội học về các phân loại (classification) tập thể tìm thấy điểm khởi đầu chính trong xã hội học của Durkheim, và cụ thể hơn là trong bài viết của Émile Durkheim và Marcel Mauss “Về một số hình thức phân loại nguyên thủy/De quelques formes primitives de classification” [1903]. Hai tác giả khảo sát “nguồn gốc” của logic (phân loại), của các loại và các thao tác của logic này, lấy “chức năng phân loại” làm đối tượng, tức là “quá trình bao hàm việc phân loại các sinh vật, các biến cố, các sự kiện của thế giới thành các thể loại và các loài, để bao hàm chúng trong những nhóm, để xác định mối quan hệ bao gồm hoặc loại trừ chúng” [Durkheim và Mauss 1903: 2]. Họ muốn chứng minh rằng những “nhóm sự vật” này, tức là các “loại” không phải là những phạm trù tự nhiên của trí tuệ con người mà là một sự kiện xã hội, nghĩa là sản phẩm của một sự “giáo dục” vốn “tự nó là kết quả của một sự phát triển mang tính lịch sử”; và rằng chúng không phải là sự phản ánh của “sự phân loại có trước của các sự vật” dựa trên đó các sự phân chia giữa con người được đồ lại mà, ngược lại, là sản phẩm của sự phóng chiếu lên thế giới của các phạm trù phát sinh từ những sự phân chia xã hội [Durkheim và Mauss 1903: 5, 67]. Chương trình này sau đó đã trải qua những phát triển và cải cách đáng kể trong nhân học, đặc biệt được minh chứng qua cuốn La Pensée sauvage/Tư tưởng hoang dã của Claude Lévi-Strauss [Lévi-Strauss 1962; Keck 2004].

Phân loại tập thể như một đối tượng

Việc nghiên cứu các phân loại tập thể được hiểu theo nghĩa trên, hay nghiên cứu về điều mà Pierre Bourdieu thường gọi phổ biến hơn là “sự xếp hạng (classement)”, chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ các công trình của ông, từ “ngôi nhà Kabyle” [Esquisse d’une théorie de la pratique: 61- 82] đến La domination masculine, sau khi đánh giá thị hiếu (La Distinction) hoặc “các hình thái phân loại trong trường học”, chủ đề của phần đầu tiên của La Noblesse d’Etat [xem thêm PB 1975g]. Bourdieu thậm chí còn coi “sự quan tâm của mình đến các cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc phân loại và hoạt động phân loại của các tác nhân xã hội” là một trong những yếu tố chính của sự liên tục giữa các tác phẩm đầu tiên của ông về Algérie với những tác phẩm dành cho trường học và xã hội Pháp [Choses dites: 34]. Giống như Mauss và Durkheim mà chương trình lý thuyết được ông xem là gần gũi với công trình nghiên cứu về các hình thái biểu tượng do Ernst Cassirer phát triển [ví dụ: PB 1977e; Di: 545-546; Sur L’État: 262], Bourdieu, qua đó, đã giới thiệu một mối quan hệ phê phán với thuyết tiên nghiệm của Kant, vì sự xếp hạng không phải là “một hệ thống các hình thái và phạm trù phổ quát mà là một hệ thống các sơ đồ vốn, hình thành trong quá trình lịch sử tập thể, lại được thủ đắc trong suốt lịch sử “cá thể” [Di: 545]. Là sản phẩm và biểu hiện của sự phân chia xã hội mà chúng chính đáng hóa bằng cách đồng hóa, các hệ thống xếp hạng này “ít nhiều đề cập một cách kín đáo đến những sự đối lập cơ bản nhất của trật tự xã hội”, sự đối lập giữa “kẻ thống trị và người bị thống trị”, và sự đối lập “giữa hai nguyên tắc thống trị, hai quyền lực, […] thế tục và tinh thần, vật chất và trí tuệ, v.v.” [Di: 547]. Dù chúng là sản phẩm của lịch sử chứ không phải là những phạm trù của hiểu biết phổ quát, nhưng việc xếp hạng các tác nhân vẫn dựa trên “một tập hợp các sơ đồ nhận thức cơ bản”, chung cho “tất cả các tác nhân của một hình thái xã hội nhất định”, “là sản phẩm” của sự sáp nhập các cấu trúc cơ bản” của hình thái xã hội này [Di: 546]. Do đó, chúng là một trong những vectơ chính của điều mà Bourdieu, tiếp theo Durkheim, gọi là “sự sáp nhập logic” và “sự sáp nhập đạo đức” của xã hội [SÉ: 265]. Là một uyển ngữ diễn đạt những đối lập xã hội cơ bản nhất, đặc biệt là “giữa các giai cấp, nhóm tuổi và giới tính” [Di: 544], các hệ thống xếp hạng có thể được nắm bắt thông qua “các cặp tính từ đối kháng thường được sử dụng để xếp hạng và định tính con người hoặc đồ vật trong hầu hết các lãnh vực khác nhau của thực tiễn” [Di: 546], vốn thiết lập mối quan hệ giữa hàng loạt đối lập bằng một quan hệ tương tự [Le Sens Pratique: 146-148]. Do đó, việc tổ chức “căn nhà Kabyle” bộc lộ một hệ thống những biểu tượng trong đó “lửa” và “nước” đối lập nhau như “chín” và “sống”, “cao” và “thấp”, “ánh sáng” và “bóng tối”, “ngày” và “đêm”, “nam tính” và “nữ tính”, “văn hóa” và “thiên nhiên”, “ngôi nhà” và “thế giới bên ngoài”, v.v. [“La maison ou le monde renversé” trong Esquisse d’une théorie de la pratique: cụ thể là 68-69]. Nếu sự quan tâm đến các việc xếp hạng là một cách để sáp nhập vào sự phân tích thế giới xã hội những kiến ​​thức mà các tác nhân có được về thế giới này, thì Bourdieu vẫn nhấn mạnh vào tính sáp nhập của chúng và vào các hình thức thường là phi ngôn ngữ của các biểu hiện và các phương thức thủ đắc của chúng [SP: 125-126]. Đây là lý do tại sao đôi khi ông thích chỉ định những cấu trúc nhận thức cấu thành tập tính như là những “sơ đồ phân loại” hơn là những “hệ thống xếp loại”, dành thuật ngữ sau cho các phân loại dựa trên “các nguyên tắc rõ ràng và được phối hợp rõ ràng” như các nguyên tắc của diễn ngôn khoa học hoặc triết học [Di: 550]. Đây cũng là điều khiến ông thích, trong bài “La Production de l’idéologie dominante”, viết cùng với Luc Boltanski, hình thức từ điển như một phương thức trình bày: “Chỉ riêng việc thay thế sự tiếp nối nhau thường là hỗn loạn những chủ đề và biến thể […] bằng một chuỗi “các lập luận có thứ bậc và được tổ chức” có thể làm biến mất những gì là đặc trưng bất biến của việc áp dụng không liên tục một số nhỏ những sơ đồ phát sinh” [PB 1976b: 5]. 

Print Friendly and PDF

31.7.25

Vốn

CAPITAL [VỐN]

Khái niệm vốn, cùng với những khái niệm tập tính và trường, là trung tâm của xã hội học của Pierre Bourdieu, có nguồn gốc từ những nghiên cứu ban đầu được thực hiện trong lĩnh vực văn hóa, một lĩnh vực đã làm người thanh niên Bourdieu quan tâm và thậm chí bị quyến rũ từ những năm 1960. Việc xuất bản cuốn La Distinction vào năm 1979 đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc xây dựng hệ thống khái niệm của Bourdieu. Thật ra, tác phẩm cũng có thể được đặt tên là vốn … văn hóa khi xét đến tầm quan trọng của các tài liệu tham khảo, trong bảng chỉ mục ở cuối cuốn sách, liên quan với mục “vốn”.

Một lý thuyết về vốn

Dựa trên những phân tích từ nhiều cuộc khảo sát được thực hiện trong hai thập kỷ, cuốn sách này xây dựng theo từng chương một lý thuyết về vốn không tập trung vào vốn kinh tế như Karl Marx mà vào điều mà Bourdieu gọi là vốn văn hóa. Từ lý thuyết này, Bourdieu đã đề xuất một lý thuyết mới về giai cấp trong khi một diễn ngôn bán học thuật đang lan rộng, ngay cả trong các ngành khoa học xã hội, dự đoán sự kết thúc của các giai cấp xã hội và của cuộc đấu tranh giai cấp. Bourdieu cho thấy rằng “các giai cấp xã hội” không biến mất mà có một chiều kích văn hóa ngày càng có tính quyết định. “Đấu tranh giai cấp” thì đang biến đổi: những cuộc chạm trán tàn bạo và chết người, đặc trưng của các cuộc đấu tranh xã hội trong các xã hội công nghiệp mới chớm nở đang dần được thay thế bằng những cuộc đối đầu mang tính biểu tượng. Cuộc đấu tranh hiện nay mang hình thức hòa dịu của sự chống đối các sự xếp hạng xã hội mà nguyên tắc nằm ở tầm quan trọng ngày càng tăng của vốn văn hóa, vốn được tạo ra một cách cơ học bởi sự phát triển của quá trình giáo dục quan sát được trong các xã hội hiện đại. Nói cách khác, bằng cách dựa vào công trình nghiên cứu trước đây của mình về hệ thống học đường, Bourdieu đưa Nhà Trường trở lại trung tâm của sự phân tích các giai cấp xã hội, điều mà, vào thời điểm đó, có thể bị coi là nghịch lý hoặc thậm chí gây tai tiếng nếu xét đến sức mạnh của hệ tư tưởng, lúc đó đang chiếm ưu thế, về “Nhà Trường khai phóng”, “dựa trên tài năng và sự bình đẳng”.

Print Friendly and PDF

28.4.25

Xây dựng đối tượng (nghiên cứu) và Kiến tạo luận

XÂY DỰNG ĐỐI TƯỢNG (NGHIÊN CỨU)

Gaston Bachelard (1884-1962)

Xây dựng đối tượng khoa học không chỉ là trọng tâm của phương pháp luận của Pierre Bourdieu mà còn là của khoa học luận và lý thuyết của ông về thế giới xã hội. Mặc dù tập thứ hai của Le Métier de sociologue được dành cho việc xây dựng đối tượng xã hội học đã không bao giờ được xuất bản [MS: 5], Bourdieu sẽ không ngừng quay trở lại, trong những công trình này, tầm quan trọng của giai đoạn này [Invitation à la sociologie réflexive: 285]. Chủ đề này là di sản của trường phái khoa học luận lịch sử Pháp, trong đó Bourdieu được đào tạo khi theo học những khóa triết học của Georges Canguilhem, người thừa kế Gaston Bachelard, người đã viết, ngay trong chương đầu tiên của cuốn La Formation de l’esprit scientifique: “Khoa học, về nguyên tắc cũng như về yêu cầu hoàn thiện của nó, tuyệt đối chống lại những ý kiến thô” [a]. […] Ý kiến thô là suy nghĩ sai lầm, là không có suy nghĩ, là sự diễn tả các nhu cầu thành ra hiểu biết. Khi chỉ định sự vật qua tính hữu ích của chúng, thật ra các ý kiến thô đã tự cấm mình hiểu biết sự vật. Không thể xây dựng cái gì trên ý kiến thô được, trước hết phải phá bỏ nó đi. Nó là chướng ngại đầu tiên phải vượt qua […] Với một đầu óc khoa học thì hiểu biết nào cũng là một câu trả lời cho một câu hỏi. Nếu đã không có câu hỏi thì cũng không thể có hiểu biết khoa học. Không có gì tự nhiên thành. Không có gì cho sẵn, tất cả phải được xây dựng nên.

Print Friendly and PDF

12.4.25

Durkheim, chủ nghĩa Marx, Weber trong Từ điển quốc tế về Bourdieu

DURKHEIM, CHỦ NGHĨA MARX, WEBER TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU

DURKHEIM, ÉMILE (1858-1917)

Émile Durkheim (1858-1917)

Émile Durkheim thường được coi là người sáng lập ra ngành xã hội học Pháp. Đóng góp của ông càng mang tính quyết định hơn nữa vì ngoài việc xuất bản ba tác phẩm chính – De la division du travail social (1893), Le Suicide (1897) và Les Formes élémentaires de la vie religieuse (1912) – ông còn thực sự soạn thảo một bản tuyên ngôn, Les Règles de la méthode sociologique (1895), thành lập một tạp chí, L’Année sociologique (1898-1912), và tập hợp xung quanh mình một nhóm cộng tác viên vô cùng năng động (Marcel Mauss, Henri Hubert, Célestin Bouglé, François Simiand, Maurice Halbwachs, Robert Hertz), những người sau này được biết đến với tên gọi Trường phái xã hội học Pháp.

Là con trai và cháu trai của một giáo sĩ Do Thái, Durkheim sinh ngày 15 tháng 4 năm 1858 tại Épinal. Tốt nghiệp trường École Normale Supérieure và có chức danh thạc sĩ (agrégé) triết học, ông bắt đầu sự nghiệp với vai trò là giáo viên triết học tại các trường trung học Sens, Saint-Quentin và Troyes, sau đó vào năm 1887, ông được bổ nhiệm làm giảng viên môn “khoa học xã hội và giáo dục” tại Khoa Văn của đại học Bordeaux. Năm 1902, Durkheim được bổ nhiệm làm phó khoa khoa khoa học giáo dục của Ferdinand Buisson tại đại học Sorbonne. Tên của khoa này được đổi thành “khoa học giáo dục và xã hội học” vào năm 1913. Các vấn đề về đạo đức (hay chính xác hơn là khoa học về các phong tục) và giáo dục là trọng tâm trong mối quan tâm của ông. Ông cũng thành lập một khóa học chuyên sâu về “Lịch sử giáo dục trung học ở Pháp”, và sau đó là về chủ nghĩa thực dụng.

Print Friendly and PDF

27.2.25

Xã hội học – Sự khách thể hóa – Tính phản tư

SOCIOLOGIE [Xã hội học]

Pierre Bourdieu (1930-2002)

Được đào tạo về triết học, đã từng nghiên cứu về dân tộc học kể từ những công trình của ông về vùng Kabylie, Pierre Bourdieu đã tự nhận mình là một nhà xã hội học từ cuốn sách đầu tiên của ông, Sociologie de l’Algérie (1958). Tuy nhiên, ông có một tầm nhìn khá phê phán về ngành này, từ những nghiên cứu thực nghiệm đã phát triển ở Pháp kể từ năm 1945 mà đối với ông dường như “mù quáng” về mặt lý thuyết, đến lý thuyết xã hội học “trống rỗng” vĩ đại, được thể hiện bởi Georges Gurvitch. [Esquisse pour une auto-analyse: 46-47]. Thay vì tự đặt mình vào cái trật tự của ngành như nó thể hiện trước mắt mình, Bourdieu xây dựng quan điểm của riêng mình thông qua vô số cuộc khảo sát mà ông (đồng) lãnh đạo tại Trung tâm Xã hội học Châu Âu. Những nghiên cứu này, thường mang tính tập thể, cho phép chúng ta đặt những câu hỏi chính xác về các đối tượng rất đa dạng cũng như về công việc khái niệm hóa và về xã hội học với tư cách là một khoa học.

Từ chối những câu hỏi trừu tượng về tính khoa học, về “logic” hay “phương pháp” của khoa học đã thành hình, Bourdieu – cộng tác với Jean-Claude Passeron và Jean-Claude Chamboredon – đặt ra những câu hỏi về khoa học đang được xây dựng, tức là về thực tiễn điều tra và nghề nghiên cứu. Mở rộng những suy ngẫm của Gaston Bachelard và Georges Canguilhem về khoa học, và của các tác giả như Émile Durkheim, Max Weber hay Claude Lévi-Strauss về các khoa học nhân văn, tác phẩm Le Métier de sociologue (1968) biện hộ cho “sự cảnh giác về mặt nhận thức luận”. Sự cảnh giác về mặt nhận thức luận đòi hỏi sự đoạn tuyệt với những điều hiển nhiên và “những tiền ý niệm” (Durkheim) vốn cấu thành những trở ngại cho kiến ​​thức. Để đoạn tuyệt với lý lẽ thông thường và những ý tưởng bán học thuật, chỉ áp dụng một phương pháp đặc thù hoặc bất kỳ lý thuyết xã hội học nào là chưa đủ. Chúng ta phải có thao tác phê phán xác định nghiên cứu khoa học là: “xây dựng đối tượng”. Các công cụ khác nhau mà các nhà xã hội học có sẵn, vốn tập thể của họ về các khái niệm, kỹ thuật, phương pháp, giúp họ có thể xây dựng các tập hợp có cấu trúc của các sự kiện xã hội như là đối tượng khoa học, tuân thủ sự liên kết chặt chẽ giữa tính mạch lạc về mặt lý thuyết và tính trung thực với thực tại [MS: 94]. 

Print Friendly and PDF

4.1.25

Doxa [Ý kiến/Dư luận/Công luận] và Doxosophes [Những người chạy theo Doxa]

DOXA

[Ý KIẾN/DƯ LUẬN/CÔNG LUẬN]

Trong triết học Hy Lạp, và đặc biệt là ở Platon, từ doxa (doxa dịch sang tiếng Pháp là “ý kiến/dư luận/công luận” – ND) chỉ một hình thức suy thoái của niềm tin đối lập với khoa học (epistêmê) mà triết gia là người nắm giữ lỗi lạc. Thuật ngữ này được Edmund Husserl dùng lại cho những mô tả hiện tượng học của ông về “thế giới cuộc sống” (Lebenswelt) nhưng được ông dùng theo một nghĩa rất khác: ông có ý định chỉ một phương thức trải nghiệm được ông phân biệt với các hình thức có chủ đích được nêu bật cho đến lúc bấy giờ. Doxa không thuộc lãnh vực phán xét, trong chừng mực doxa không liên quan đến các nội dung “theo chủ đề”: nó đúng hơn là một hình thức quan hệ với thế giới bao hàm một hậu cảnh làm nền bao gồm những điều hiển nhiên vừa có mặt khắp nơi vừa không được nhận thấy, những điều xác thực, những phán đoán ngầm, những kỳ vọng. Sau này thuật ngữ doxa không còn mang ý nghĩa tiêu cực như đã có trong truyền thống triết học trí thức luận nữa.

Chính nhờ Alfred Schütz, tác giả mà Pierre Bourdieu biết rõ, mà chúng ta có được một cách diễn giải lại mang tính xã hội học về cách đặt vấn đề này. Đối với Schütz, vấn đề là mô tả phần được xem như là hiển nhiên (cela-va-de-soi/taken for granted), đặc thù của sự trải nghiệm thông thường của chúng ta, hiếm khi bị tranh cãi và bị vạch rõ ngoại trừ trong các tình huống bỡ ngỡ hoặc khủng hoảng. Những điều xác thực này dựa trên thực tiễn và được cấu trúc bởi các thao tác phân loại nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và hành động. Schütz viết trong một văn bản được Bourdieu trích dẫn [Méditations pascaliennes/Suy tưởng về Pascal: 251]: “Trong thái độ tự nhiên, tôi cho rằng có một điều hiển nhiên là những người khác tồn tại, rằng họ tác động tới tôi cũng như tôi tác động tới họ, rằng sự giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau có thể được thiết lập giữa chúng tôi […], tất cả là nhờ vào một hệ thống ký hiệu và biểu tượng, trong khuôn khổ một tổ chức và thể chế xã hội không phải là tác phẩm của tôi.”

Print Friendly and PDF