VỀ MỘT SỐ MỤC LIÊN QUAN ĐẾN GIAI CẤP TRONG TỪ ĐIỂN QUỐC TẾ VỀ BOURDIEU:
CLASSES/CLASSIFICATION
[LOẠI-GIAI CẤP-GIAI TẦNG/PHÂN LOẠI]
 |
|
Ở cấp độ lịch sử, chương trình về một xã hội học về các phân loại (classification) tập thể tìm thấy điểm khởi đầu chính trong xã hội học của Durkheim, và cụ thể hơn là trong bài viết của Émile Durkheim và Marcel Mauss “Về một số hình thức phân loại nguyên thủy/De quelques formes primitives de classification” [1903]. Hai tác giả khảo sát “nguồn gốc” của logic (phân loại), của các loại và các thao tác của logic này, lấy “chức năng phân loại” làm đối tượng, tức là “quá trình bao hàm việc phân loại các sinh vật, các biến cố, các sự kiện của thế giới thành các thể loại và các loài, để bao hàm chúng trong những nhóm, để xác định mối quan hệ bao gồm hoặc loại trừ chúng” [Durkheim và Mauss 1903: 2]. Họ muốn chứng minh rằng những “nhóm sự vật” này, tức là các “loại” không phải là những phạm trù tự nhiên của trí tuệ con người mà là một sự kiện xã hội, nghĩa là sản phẩm của một sự “giáo dục” vốn “tự nó là kết quả của một sự phát triển mang tính lịch sử”; và rằng chúng không phải là sự phản ánh của “sự phân loại có trước của các sự vật” dựa trên đó các sự phân chia giữa con người được đồ lại mà, ngược lại, là sản phẩm của sự phóng chiếu lên thế giới của các phạm trù phát sinh từ những sự phân chia xã hội [Durkheim và Mauss 1903: 5, 67]. Chương trình này sau đó đã trải qua những phát triển và cải cách đáng kể trong nhân học, đặc biệt được minh chứng qua cuốn La Pensée sauvage/Tư tưởng hoang dã của Claude Lévi-Strauss [Lévi-Strauss 1962; Keck 2004].
Phân loại tập thể như một đối tượng
Việc nghiên cứu các phân loại tập thể được hiểu theo nghĩa trên, hay nghiên cứu về điều mà Pierre Bourdieu thường gọi phổ biến hơn là “sự xếp hạng (classement)”, chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ các công trình của ông, từ “ngôi nhà Kabyle” [Esquisse d’une théorie de la pratique: 61- 82] đến La domination masculine, sau khi đánh giá thị hiếu (La Distinction) hoặc “các hình thái phân loại trong trường học”, chủ đề của phần đầu tiên của La Noblesse d’Etat [xem thêm PB 1975g]. Bourdieu thậm chí còn coi “sự quan tâm của mình đến các cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc phân loại và hoạt động phân loại của các tác nhân xã hội” là một trong những yếu tố chính của sự liên tục giữa các tác phẩm đầu tiên của ông về Algérie với những tác phẩm dành cho trường học và xã hội Pháp [Choses dites: 34]. Giống như Mauss và Durkheim mà chương trình lý thuyết được ông xem là gần gũi với công trình nghiên cứu về các hình thái biểu tượng do Ernst Cassirer phát triển [ví dụ: PB 1977e; Di: 545-546; Sur L’État: 262], Bourdieu, qua đó, đã giới thiệu một mối quan hệ phê phán với thuyết tiên nghiệm của Kant, vì sự xếp hạng không phải là “một hệ thống các hình thái và phạm trù phổ quát mà là một hệ thống các sơ đồ vốn, hình thành trong quá trình lịch sử tập thể, lại được thủ đắc trong suốt lịch sử “cá thể” [Di: 545]. Là sản phẩm và biểu hiện của sự phân chia xã hội mà chúng chính đáng hóa bằng cách đồng hóa, các hệ thống xếp hạng này “ít nhiều đề cập một cách kín đáo đến những sự đối lập cơ bản nhất của trật tự xã hội”, sự đối lập giữa “kẻ thống trị và người bị thống trị”, và sự đối lập “giữa hai nguyên tắc thống trị, hai quyền lực, […] thế tục và tinh thần, vật chất và trí tuệ, v.v.” [Di: 547]. Dù chúng là sản phẩm của lịch sử chứ không phải là những phạm trù của hiểu biết phổ quát, nhưng việc xếp hạng các tác nhân vẫn dựa trên “một tập hợp các sơ đồ nhận thức cơ bản”, chung cho “tất cả các tác nhân của một hình thái xã hội nhất định”, “là sản phẩm” của sự sáp nhập các cấu trúc cơ bản” của hình thái xã hội này [Di: 546]. Do đó, chúng là một trong những vectơ chính của điều mà Bourdieu, tiếp theo Durkheim, gọi là “sự sáp nhập logic” và “sự sáp nhập đạo đức” của xã hội [SÉ: 265]. Là một uyển ngữ diễn đạt những đối lập xã hội cơ bản nhất, đặc biệt là “giữa các giai cấp, nhóm tuổi và giới tính” [Di: 544], các hệ thống xếp hạng có thể được nắm bắt thông qua “các cặp tính từ đối kháng thường được sử dụng để xếp hạng và định tính con người hoặc đồ vật trong hầu hết các lãnh vực khác nhau của thực tiễn” [Di: 546], vốn thiết lập mối quan hệ giữa hàng loạt đối lập bằng một quan hệ tương tự [Le Sens Pratique: 146-148]. Do đó, việc tổ chức “căn nhà Kabyle” bộc lộ một hệ thống những biểu tượng trong đó “lửa” và “nước” đối lập nhau như “chín” và “sống”, “cao” và “thấp”, “ánh sáng” và “bóng tối”, “ngày” và “đêm”, “nam tính” và “nữ tính”, “văn hóa” và “thiên nhiên”, “ngôi nhà” và “thế giới bên ngoài”, v.v. [“La maison ou le monde renversé” trong Esquisse d’une théorie de la pratique: cụ thể là 68-69]. Nếu sự quan tâm đến các việc xếp hạng là một cách để sáp nhập vào sự phân tích thế giới xã hội những kiến thức mà các tác nhân có được về thế giới này, thì Bourdieu vẫn nhấn mạnh vào tính sáp nhập của chúng và vào các hình thức thường là phi ngôn ngữ của các biểu hiện và các phương thức thủ đắc của chúng [SP: 125-126]. Đây là lý do tại sao đôi khi ông thích chỉ định những cấu trúc nhận thức cấu thành tập tính như là những “sơ đồ phân loại” hơn là những “hệ thống xếp loại”, dành thuật ngữ sau cho các phân loại dựa trên “các nguyên tắc rõ ràng và được phối hợp rõ ràng” như các nguyên tắc của diễn ngôn khoa học hoặc triết học [Di: 550]. Đây cũng là điều khiến ông thích, trong bài “La Production de l’idéologie dominante”, viết cùng với Luc Boltanski, hình thức từ điển như một phương thức trình bày: “Chỉ riêng việc thay thế sự tiếp nối nhau thường là hỗn loạn những chủ đề và biến thể […] bằng một chuỗi “các lập luận có thứ bậc và được tổ chức” có thể làm biến mất những gì là đặc trưng bất biến của việc áp dụng không liên tục một số nhỏ những sơ đồ phát sinh” [PB 1976b: 5].