12.8.22

Metaverse sẽ giúp ích cho văn hoá như thế nào

METAVERSE[*] SẼ GIÚP ÍCH CHO VĂN HÓA NHƯ THẾ NÀO

DIỄN ĐÀN. Ba nhà sử học tranh đấu để các tổ chức văn hóa thực hiện chuyển hướng qua thực tế ảo nhằm thu hút một công chúng mới.

Các tác giả: Arthur Chevallier, Raphaël Doan Baptiste Roger-Lacan[**]

Lịch sử là một mơ tưởng. Diễn tiến, cường độ, ký ức của nó dựa trên một sự tưởng tượng. Lịch sử là một khoa học, nhưng là một khoa học lỗi thời, nói theo từ ngữ của Gabriel Martinez-Gros. Nó được gợi lên bởi một niềm đam mê từ nguyên thủy, vốn không xuất phát từ sở thích về bác học hay phương pháp, cũng không phải từ sở thích về nguồn gốc hay kho lưu trữ, mà bởi một tình cảm mạnh mẽ, trẻ con, luôn luôn không được thỏa mãn: mong muốn đi ngược thời gian và biết được các thế giới đã mất và cư dân của họ như thế nào. Đó là điều làm cho những nơi như Pompéi hay Versailles trở nên hấp dẫn; đó là những nơi mà ta có thể tưởng rằng thời gian đã dừng lại hẳn. Là những người yêu thích, nhà nghiên cứu, độc giả, những người hiếu kỳ, nhà văn, phóng viên, trí thức, tất cả chúng ta, bất kể mối quan hệ của chúng ta với lịch sử như thế nào, đều bị thu hút bởi nim đam mê quan trọng này.

Chính vì vậy mà lịch sử vẫn là một khoa học được yêu thích vượt xa tất cả các ngành khoa học nhân văn khác. Bằng chứng là vị trí của các sách về lịch sử trong các nhà sách hay sự thành công của các kênh YouTube về các vấn đề lịch sử. Sở thích này không mới. Văn học, nghệ thuật và các kỹ thuật thường chiếm lấy đối tượng này [lịch sử], góp phần hình thành cách nhìn của chúng ta về quá khứ của mình. Chính là trong khi viết lịch sử mà Tacite đã cho ra đời những trang đẹp nhất và thơ mộng nhất của văn học cổ đại.

Print Friendly and PDF

10.8.22

Kính thiên văn James Webb: một nhà khoa học giải thích những hình ảnh đáng kinh ngạc đầu tiên của Webb cho thấy điều gì – và chiếc kính sẽ thay đổi thiên văn học như thế nào

KÍNH THIÊN VĂN JAMES WEBB: MỘT NHÀ KHOA HỌC GIẢI THÍCH NHỮNG HÌNH ẢNH ĐÁNG KINH NGẠC ĐẦU TIÊN CỦA WEBB CHO THẤY ĐIỀU GÌ – VÀ CHIẾC KÍNH SẼ THAY ĐỔI THIÊN VĂN HỌC NHƯ THẾ NÀO
Mô phỏng kính viễn vọng không gian James Webb khi đi vào hoạt động. Ảnh: NASA
Sau hàng thập kỷ phát triển và nhiều thử nghiệm cũng như thất vọng trong suốt chặng đường, kính thiên văn James Webb cuối cùng đã bắt đầu truyền về những thông tin đúng với mục đích nó được thiết kế. Vào ngày 12 tháng 7, Nasa đã công bố những quan sát khoa học đầu tiên được thực hiện bởi bộ thiết bị trên tàu sứ mệnh, ghi dấu cái mà chúng tôi háo hức mong đợi sẽ là sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong thiên văn học.

Print Friendly and PDF

8.8.22

Cuộc gặp với “vua” của Metaverse

CUỘC GẶP VỚI “VUA” CỦA METAVERSE

Andrew Bosworth, giám đốc công nghệ của Meta, tên mới của tập đoàn Facebook, muốn chuyển 1 tỷ người Trái đất sang một thế giới tồn tại song song.

Guillaume Grallet

Người ta rất thích nói chuyện với ông ấy về đặc ngữ tiếng Latinh “veritas” được xăm trên cổ tay trái của ông, về niềm đam mê của ông đối với đội bóng rổ San Francisco Warriors, hoặc về việc chuyên gia về khoa học thần kinh máy tính này, một ngành học đi tìm cách thiết lập sự tương tác giữa các chức năng nhận thức của con người với hoạt động của một máy tính, người đã dành cả tuổi thanh xuân trong một trang trại, sống giữa bầy ngựa và các vườn nho Grenache và Carignan, trên các ngọn đồi của Saratoga, một thị trấn nhỏ với 50.000 cư dân thuộc vùng duyên hải California, nơi mà Olivia de Havilland, ngôi sao điện ảnh nữ đã trưởng thành trong phim Gone with the Wind [Cuốn theo chiều gió]. Người ta rất thích được nghe ông kể về cuộc gặp với Mark Zuckerberg vào năm 2004, lúc Andrew Bosworth chỉ là một trợ lý giáo sư bình thường của đại học Harvard, giảng dạy các bài học về trí tuệ nhân tạo cho nhà sáng tạo tương lai của Facebook, một sinh viên đam mê công nghệ thông tin và không mấy chuyên cần. Hoặc giả quay trở lại cuộc tranh luận sôi nổi gần đây, vốn đối nghịch ông, một người mới lên nắm giữ vị trí tối cao là giám đốc công nghệ của Meta, công ty mẹ của Facebook, Instagram và WhatsApp, với Elon Musk. Đứng trước nhà tỷ phú lập dị, người tự hỏi trên Twitter rằng làm thế nào để có thể sửa lại những dòng tweet của chính mình sau khi đã đăng, “Boz [Andrew Bosworth]” đã đáp lại: “Chúng tôi đã giải quyết vấn đề này ở Facebook cách đây lâu lắm rồi.” Và ông nói thêm rằng đó “không thực sự là một vấn đề. Elon Musk đã bốp chát đáp trả: “Facebook khiến tôi nổi da gà.”

Print Friendly and PDF

6.8.22

Hồng Kông “không phải là thuộc địa của Anh”: ngôn ngữ của chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc mới

HỒNG KÔNG “KHÔNG PHẢI LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH”: NGÔN NGỮ CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC TRUNG QUỐC MỚI

Tamara Lui[*]

Phỏng vấn Antoine Vannière, sử gia tác giả cuốn Quảng Châu Loan, một thuộc địa trá hình. Một lãnh vực cho thuê của Pháp ở vùng nam Trung Quốc/Kouang-Tchéou-Wan, colonie clandestine. Un territoire à bail français en Chine du Sud 1898-1946, Éditions les Indes savantes, 2020, 690 pages, do Tamara Lui thực hiện

Lễ trao trả Hồng Kông, ngày 1 tháng 7 năm 1997. (Nguồn: Bloomberg)

Hai tuần trước lễ kỷ niệm 25 năm Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc. Hai tuần trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình đích thân tới dự, lần đầu tiên “ra ngoài” Lục địa kể từ cuối năm 2019 và thời điểm bắt đầu đại dịch. Ba nhà xuất bản sách giáo khoa đã nộp các bản sửa đổi của họ cho các cơ quan chức năng để bắt đầu năm học vào tháng Chín. Được coi là một cuộc cải cách, giáo trình này mang tên “Quyền Công dân và Phát triển Xã hội” và dành cho học sinh trung học đã thay thế cho giáo trình “Nghiên cứu Tự do” (“Liberal Studies”) gây tranh cãi. Trong đó có viết rõ ràng rằng “Hồng Kông không phải là thuộc địa của Anh”. Trước đây, một số sách giáo khoa trung học đã xóa cụm từ “Hồng Kông là thuộc địa của Anh”, và phiên bản cô đọng tạm thời của cuộc triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Hồng Kông không còn có từ “thuộc địa”. Theo một số người, mặc dù Vương quốc Anh cai trị Hồng Kông trên cơ sở quy chế “thuộc địa”, chính phủ Trung Quốc kể từ triều đại nhà Thanh đã không công nhận các hiệp ước bất bình đẳng và chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của mình đối với thành phố này. Đối với tờ Global Times rất chính thống và theo chủ nghĩa dân tộc, những thay đổi này đối với chương trình giảng dạy sẽ cho phép “một số giáo viên không còn truyền tải cho học sinh những quan điểm chính trị sai lầm và độc hại nữa”. Nhà sử học Antoine Vannière, tác giả của một luận án về sự xâm chiếm thuộc địa của Pháp ở miền nam Trung Quốc, giải thích cho Asialyst về các sắc thái của các thuật ngữ khác nhau và đưa ra cái nhìn của ông về địa chính trị Trung Quốc thông qua Hồng Kông.

Sự khác biệt giữa “lãnh thổ cho thuê” và “thuộc địa” là gì? Vượt lên trên vấn đề về chủ quyền, phải chăng đó là vấn đề thời hạn?

Print Friendly and PDF

4.8.22

Báo Khoa học

BÁO KHOA HỌC

Hà Dương Tường

Ba tạp chí trí thức những năm trước thế chiến II

1941. Thế chiến II bước sang năm thứ ba. Ở Đông Dương từ năm trước Nhật đã nhiều lần làm áp lực trên Pháp để chặn đường tiếp tế cho quân Tưởng Giới Thạch qua ngả đường sắt từ Hải Phòng đi Vân Nam, dẫn tới việc chính phủ Vichy thay toàn quyền Catroux (thân De Gaulle) bằng đô đốc Decoux (22.7.1941) và nắm quyền cai trị Đông Dương - trên thực tế là dưới sự giám sát của Nhật, cũng như ở chính quốc chính phủ Vichy tuy trên danh nghĩa là kiểm soát một nửa nước (“vùng tự do”) thực chất chỉ là bù nhìn của Đức quốc xã.

Về phía người Việt, những đợt đàn áp của thực dân sau các cuộc nổi dậy có phần manh động năm 1930 (khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc dân đảng, Xô viết Nghệ Tĩnh của đảng Cộng sản) làm suy yếu hẳn các đảng phái Quốc gia, nhưng những người Cộng sản đã tồn tại được nhờ bám rễ vào các thành phần cơ bản của xã hội, và đủ sức tiến hành một bước chuyển biến có tính quyết định với việc thành lập Mặt trận Việt Minh vào tháng 5.1941 và trở thành lực lượng nắm được ngọn cờ độc lập dân tộc trong mắt quốc dân.

Tuy nhiên, hai chữ “cộng sản” vẫn làm ngần ngại những thành phần trí thức ở các thành thị, và nhiều người trong thành phần này đã chọn con đường báo chí để nói lên tiếng nói của mình trước thời cuộc. Để tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của chính quyền thực dân (nên nhớ, tờ Ngày Nay của nhóm Tự lực Văn đoàn đã bị rút giấy phép năm 1940, nhiều người chủ chốt như Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí... bị Pháp bắt. Xem bài Giới thiệu Phong Hóa Ngày Nay của Phạm Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền trên mặt báo này) họ chọn đi vào các lãnh vực văn hoá, giáo dục, học thuật nhưng tâm tưởng về nền độc lập dân tộc không hề phai nhạt. Chỉ riêng trong năm 1941, mặc dù những điều kiện khó khăn của cuộc sống thời chiến, thuộc địa, đã xuất hiện các tờ tạp chí nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống văn hoá VN những năm sau: tờ Tri Tân (tháng 6) và Thanh Nghị (tháng 5). Một tờ khác chỉ ra đời vào tháng 1.1942 nhưng cũng đã được thai nghén trong cùng thời gian đó: Báo Khoa học. Những người chủ trương ba tạp chí đó đều là những trí thức nổi tiếng của đất nước thời đó, đều quen biết và tôn trọng lẫn nhau, như được nêu rõ trong hồi ký của luật gia Vũ Đình Hoè, người chủ trương tờ “Thanh Nghị” cùng với nhóm bạn của ông, các ông Hoàng Thúc Tấn, Phan Anh, Lê Huy Vân, Vũ Văn Hiền.

Thật vậy, chương mở đầu Hồi ký, viết về “Xuất xứ và tổ chức của Thanh Nghị”, sau khi nói về quá trình thảo luận dẫn đến quyết định làm tờ Thanh Nghị, và tình hình chung của các nhóm sinh viên, trí thức, cho biết thêm:

“Nhóm các nhà khoa học đứng tuổi như kỹ sư giám đốc thiên văn đài Phủ Liễn Nguyễn Xiển, giáo sư toán học Hoàng Xuân Hãn, bác sĩ bệnh viện bảo hộ Nguyễn Đình Hào, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, kỹ sư điện Nguyễn Duy Thanh, kỹ sư cơ khí Nguyễn Văn Thu, v.v. giữ những trọng trách trong các ngành chuyên môn của chính quyền Bảo hộ, đang chuẩn bị ra tờ tạp chí Khoa học. Họ dự tính dùng hoàn toàn tiếng Việt trong việc dạy học và viết sách, về tất cả các môn khoa học. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã soạn xong cuốn “Danh từ khoa học” được đồng nghiệp đánh giá cao.

Nhóm các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ học thuộc trường Viễn Đông Bác cổ Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Tố, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, cùng với các nhà văn, nhà sử học Hoàng Thúc Trâm, Chu Thiên, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh, v.v. đã được phép xuất bản tờ tuần báo Tri Tân chuyên về văn hoá và sử học.”[1]

Cả hai tờ Tri TânThanh Nghị đều đã là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, và đã được Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tái bản dưới hình thức CD kèm theo các bài giới thiệu và tổng mục lục[2]. Chưa phải là một nghiên cứu sâu, bài viết này sẽ giới thiệu Báo Khoa học (viết tắt: BKH) trong tinh thần mạch bài về các tạp chí phổ biến khoa học thời thuộc Pháp ở Việt Nam[3]. BKH là tạp chí thứ tư và cuối cùng trong loại tạp chí này. Sau đó là cuộc Kháng chiến 9 năm, rồi chia đôi đất nước (1954-1975), thời kỳ mà cả hai miền đều có những tạp chí của mình, cần được nghiên cứu, giới thiệu với công chúng hôm nay cũng như mai sau - để lịch sử đất nước không chỉ là tiếp nối những cuộc chiến tranh và những sự kiện triều chính. Nhưng đó là một chuyện khác...

Vài thông tin chung(*)

Báo Khoa học ra đời ngày 1.1.1942, trên nguyên tắc là mỗi tháng ra một kỳ nhưng có nhiều số kép ghi hai tháng (chẳng hạn: số cuối cùng là số 35-36, tháng 11-12.1944) nên sống được tròn ba năm mà chỉ có 30 số báo (nếu tính số kép là một): năm đầu đủ 12 số, năm thứ nhì có 10 số đơn và một số kép (số 13-14, chung cho tháng giêng, hai 1943 - nhưng không phải số Xuân như các báo khác, toà soạn cũng không cắt nghĩa mà chỉ chú thích ở trang cuối là “Tuân lệnh tiết kiệm giấy chúng tôi buộc phải tính số đặc biệt như là hai số 13 và 14...”). Năm cuối (1944) chỉ giữ được hai số đơn (tháng 7 và tháng 8), còn lại là năm số kép: giấy in cũng xấu hơn, hiển nhiên là áp lực của chiến tranh lên đời sống kinh tế - xã hội không cho phép tờ báo tiếp tục như trước.

Bìa: Trong suốt ba năm ra báo, Khoa học gần như không đổi bìa: trên tên báo viết hoa là dòng chữ cho biết năm ra báo - số báo (bên trái), ngày tháng (bên phải) và những số đặc biệt thì có thêm giá báo (giữa dòng), khác với giá bình thường ghi ở măng-sét trên đầu trang nhất sau bìa. 

Ở giữa bìa 1 là một cột chữ nho trích từ Luận Ngữ:Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã (Biết thì nói là biết; không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy)”, hai bên là hai chữ nho “Khoa - Học” (trừ trên số 1, hai chữ này được viết thành một thành một vòng tròn đặt ở giữa, trong khi hàng chữ Luận ngữ được trình bày bên trái) - tác giả xin cảm ơn GS Hoàng Dũng, TP HCM, đã giúp đọc mấy chữ nho này. Sau cùng, phía dưới là tên ba vị Chủ nhiệm, Sáng lập và Chủ bút (xem phần nhân sự báo). Dưới cùng là địa chỉ báo quán, ban đầu ở số 7 Hàng Gai, sang đầu năm thứ nhì (số 13-14, tháng Giêng, Hai 1943) dọn sang nhà số 12b phố Dieulefils, bốn tháng sau (số 17, tháng 5 1943) lại phải dọn sang 46 phố Hàng Cói, ở đây được hai tháng thì dọn về 214 phố Hàng Bông cho tới ngày đình bản.

Trang bên trong bìa (bìa 2) được dành cho mục lục, những số đầu tiên có thêm danh sách ban biên tập phía trên mục lục. Năm cuối (1944) thì mục lục được trình bày gọn hơn, chỉ chiếm khoảng 1/3 trang và được đặt dưới măng-xét. 

Sau cùng, hai trang cuối của bìa thường là quảng cáo (bìa 3 và 4) và cuối bìa 4 là thông tin về nhà in (nhà in Trung Bắc, Hà Nội). Trên bản nộp lưu chiểu có mộc (con dấu) và chữ ký của chủ nhiệm, và vài chữ viết tay xác nhận đã in bao nhiêu số (hình 3), theo đó người ta được biết là năm đầu tiên, mỗi số báo được in 2500 bản, năm cuối chỉ còn 2000.

(Bìa 1 và 2, số 4)

Print Friendly and PDF

2.8.22

Đằng sau “cuộc chiến kinh tế tổng lực với Nga”, tương lai của dự án hòa bình thông qua giao thương

ĐẰNG SAU CUỘC CHIẾN KINH TẾ TỔNG LỰC VỚI NGA, TƯƠNG LAI CỦA DỰ ÁN HÒA BÌNH THÔNG QUA GIAO THƯƠNG

Tác giả: Fabien Bottini

Một tấm biển ủng hộ Ukraine kêu gọi “ngừng đưa tiền cho những kẻ giết người”, trước trụ sở của tập đoàn [năng lượng] Engie. La Défense - Paris, ngày 29 tháng 4 năm 2022. Emmanuel Dunand

“Một thế giới mới đang được sản sinh ngay trước mắt chúng ta”: nếu đây là những gì được công bố sớm trong một bản tin nhanh của hãng thông tấn Nga RIA Novosti, vào ngày 26 tháng 2, tiếp sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga, thì chúng ta buộc phải tin vào lời tiên tri đó, mà dù thế nào vẫn có nhiều khả năng đang xảy ra, trùng khớp với sự kết hợp của nhiều sự kiện và phản ứng đang diễn ra.

Trong khi Liên minh châu Âu vừa giới thiệu gói trừng phạt thứ sáu chống lại Nga, đặc biệt là việc châu Âu ngừng nhập khẩu dầu Nga, trong sáu tháng tới, và loại ngân hàng Nga Sberbank khỏi hệ thống tài chính quốc tế Swift, thì trên thực tế, vấn đề về các mối liên hệ giữa thương mại và hòa bình được đặt ra một cách mạnh mẽ.

Print Friendly and PDF

31.7.22

Thời đại thái cực 1914 (12): Thế giới thứ ba

THỜI ĐẠI THÁI CỰC 1914 – 1991 (12)

THE AGE OF EXTREMES

Tác giả: Eric J. Hobsbawm; Người dịch: Nguyễn Ngọc Giao

PTKT: Kể từ tháng 8.2021, chúng tôi lần lượt đăng tiếp các chương còn lại của tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991. Để có một cái nhìn chung giới thiệu tác giả và tác phẩm, mời bạn đọc lại bài Nhà sử học của hai thế kỷ.

MỤC LỤC

Lời tựa và Cảm tạ

Lời tựa bản tiếng Pháp

Hình ảnh minh họa

Chú thích các hình ảnh

Thế kỉ nhìn từ đường chim bay

Phần thứ nhất - THỜI ĐẠI TAI HỌA

chương 1 Thời đại chiến tranh toàn diện

chương 2 Cách mạng thế giới

chương 3 Dưới đáy vực thẳm kinh tế

chương 4 Sự suy sụp của chủ nghĩa liberal

chương 5 Chống kẻ thù chung

chương 6 Nghệ thuật, 1915-1945

chương 7 Sự cáo chung của các Đế chế

Eric J. Hobsbawm (1917-2012)

Phần thứ hai - THỜI ĐẠI HOÀNG KIM

chương 8 Chiến tranh Lạnh

chương 9 Thời đại Hoàng kim

chương 10 Cách mạng xã hội, 1945-1990

chương 11 Cách mạng văn hóa

chương 12 Thế giới thứ Ba

chương 13 “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”

Phần thứ ba: SỤP ĐỔ

chương 14 Những thập niên Khủng hoảng

chương 15 Thế giới thứ Ba và cách mạng

chương 16 Sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội

chương 17 Tiền phong hấp hối: nghệ thuật sau 1950

chương 18 Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành khoa học tự nhiên

chương 19 Tiến tới thiên niên kỉ mới

* * *

Phần thứ hai

THỜI ĐẠI HOÀNG KIM

Chương 12

THẾ GIỚI THỨ BA

 

“[Tôi gợi ý], nếu không có sách để đọc, thì buổi tối ở các đại trang trại [Ai Cập] nặng nề quá, ngược lại, một cái ghế bành và một cuốn sách hay, ngồi dưới hàng hiên gió mát, cuộc đời dễ chịu biết bao. Bạn tôi đáp lời ngay: “Bộ anh tưởng, ở vùng này, buổi tối sau bữa ăn, một tay điền chủ có thể ngồi yên dưới mái hiên, đèn sáng rọi trên đầu, mà không bị bắn chết ngay à?”. Điều ấy, lẽ ra tôi phải nghĩ ra trước mới phải”.

Russel PASHA, 1949

Trong làng mỗi lần câu chuyện bàn tới sự tương trợ và cho vay tiền giúp dân làng, lập tức sẽ có người than thở sao bây giờ người ta khó hơn trước nhiều […]. Lần nào cũng như lần nào, có người nói thêm bây giờ chuyện tiền nong người dân làng tính toán dữ lắm. Rồi người ta nhắc chuyện “thời xưa”, thời xưa người ta sẵn sàng giúp đỡ đùm bọc nhau”.

M. B. ABDUL RAHIM, 1973 (trong Scott, 1985, tr. 188)

 

I

Quá trình phi thực dân hóa và cách mạng đã làm đảo lộn hoàn toàn bản đồ chính trị thế giới. Con số các quốc gia châu Á độc lập được cộng đồng quốc tế thừa nhận đã nhân lên 15 lần. Ở châu Phi năm 1939 chỉ có một nước, nay năm chục. Ngay ở châu Mỹ, cuộc giải thực đầu thế kỉ XX đã để lại khoảng hai chục nước cộng hòa “latino”, nay có thêm mươi, mười hai nước. Song điều quan trọng không phải ở con số các nước, mà ở sức nặng của họ, ở áp lực dân số rất lớn và ngày càng tăng của tổng thể các nước này.

Đó chính là hậu quả của sự bùng nổ dân số trên thế giới sau Thế chiến thứ Hai. Điều này đã và đang làm thay đổi thế quân bình dân số toàn cầu. Từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, có lẽ trước nữa, từ thế kỉ XVI, thế quân bình nghiêng về dân cư châu Âu và gốc Âu. Năm 1750, nhóm dân cư này chưa tới 20% dân số toàn cầu; đến năm 1900, lên tới xấp xỉ 1/3. Thời đại Tai họa đã làm đóng băng tình hình, nhưng bắt đầu từ giữa thế kỉ XX, dân số thế giới đã tăng trưởng với nhịp độ chưa từng có, và sự tăng trưởng này diễn ra chủ yếu ở những khu vực trước đó nằm dưới quyền cai trị (hoặc sắp sửa) của một nhúm đế quốc. Nếu ta coi các nước giàu trong OECD hợp thành “thế giới phát triển”, thì dân số các nước này mới gần tới 15% dân số thế giới: con số phần trăm này cứ giảm dần, nếu không kể tới luồng di dân, vì tại nhiều nước “phát triển”, số sinh đẻ không bù lại được số tử vong.

Print Friendly and PDF

29.7.22

Sử trắc học

SỬ TRẮC HỌC

Cliometry

è Giải Nobel: FOGEL, 1993 NORTH, 1993

Robert W. Fogel (1926-2013)
Douglass North (1920-2015)

Sử trắc học, thước đo của Clio, nữ thần của Lịch sử, đã trở thành, trong những năm 1960, một trong những cách nắm bắt và nghiên cứu quá khứ. Như thế sử trắc học, được xem như lịch sử kinh tế mới (new economic history) hay như lịch sử kinh trắc hoá (McCloskey, 1987) nhằm phân tích những biến cố và cấu hình lịch sử bằng những phương pháp tiên tiến của thống kê học và những khái niệm rút ra từ lí thuyết kinh tế. Claudia Goldin đã tóm tắt đúng phương pháp này: Sử trắc học đơn giản là việc áp dụng lí thuyết kinh tế và những phương pháp định lượng vào việc nghiên cứu lịch sử (Goldin, 1995). Những chủ đề tạo lập của cách tiếp cận mới này (mà W. R. Fogel, được nhận giải Nobel kinh tế 1993 cùng với D. C. North, là một trong những người đi đầu) chủ yếu được áp dụng vào lịch sử kinh tế Mĩ thế kỉ XVIII và XIX: biện minh kinh tế của cuộc chiến giành độc lập, đánh giá lại vai trò của đường sắt trong sự tăng trưởng của nước Mĩ, phân tích tính hiệu quả của hệ thống đồn điền sử dụng nô lệ, nguyên nhân và chi phí của cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh, quá trình xây dựng lại miền Nam Hoa Kì. Phân tích chi phí-lợi thế, việc sử dụng những tương quan nhưng nhất là phương pháp phản sự kiện (mô phỏng những tình thế lịch sử ảo để so sánh chúng, về mặt hiệu quả, với những tình thế đã xảy ra trong lịch sử) sẽ là những công cụ được sử dụng nhiều nhất. Những phương pháp này sẽ là đối tượng của một cuộc tranh luận quyết liệt về mặt phương pháp luận được các nhà sử học truyền thống xem, một cách đúng đắn, là không có khả năng tính đến sự phong phú và tính phức tạp của quá khứ.

Print Friendly and PDF

28.7.22

Lô-gic học và triết lý khoa học (J. Piaget, 1949)

Từ khóa: Lô-gic học ; Khoa học – Triết lý ; Piaget, Jean – Trích đoạn

LÔ-GIC HỌC VÀ TRIẾT LÝ KHOA HỌC (1949)

Tác giả: Jean Piaget*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Jean Piaget (1896-1980)

Là nhà lô-gic học xuất thân từ tâm lý học, Jean Piaget phân biệt Lô-gic học đích thực như một thứ toán lô-gic (logistique) mà vai trò là hình thức hóa dần dần mọi thao tác của lý trí”, với triết lý khoa học (nhận thức)[1] mà ông quan niệm như triết lý khoa học phát sinh, nghĩa là một thứ triết lý khoa học kết hợp, vừa phương pháp lịch sử-phê phán (historico-critique – nhằm vẽ lại sự phát triển của những ý niệm mà một khoa học nhất định đã sử dụng trong suốt lịch sử của nó), vừa phương pháp tâm lý-phát sinh (psycho-génétique – nhằm vẽ lại sự phát sinh của mọi ý niệm và phạm trù cốt yếu của tư tưởng” trong sự tiến hóa tâm lý của cá nhân, như một thứ phôi học của trí tuệ).

*

Có một điểm đồng thuận giữa các nhà lô-gic học, bất kể họ thuộc trường phái nào, đó là sự phân tích lô-gic liên quan đến một số mệnh đề có thể là đúng hoặc sai, hay nói cách khác, là đối tượng của lô-gic học liên quan tới cái đúng và cái sai. Cho dù đây là lô-gic quy phạm (nghệ thuật tư duy đúng, hay việc chuẩn hóa các quy tắc về cái đúng), là lô-gic phản tỉnh (phân tích thứ tư duy tự cho bản thân nó là đúng), là thuật toán lô-gic (logistique) mang sắc thái của Platôn, duy danh hoặc vật lý, nhưng đều đề cập đến sự phân biệt giữa cái đúng hoặc cái sai. Như vậy, chúng ta có thể nói, như một xấp xỉ đầu tiên, rằng lô-gic học là môn học nghiên cứu về cái tri ​​thức đúng, xét trong các hình thức chung nhất của nó.

Print Friendly and PDF

26.7.22

Số người chết thực sự trong đại dịch: nhiều hơn hàng triệu người so với con số chính thức

SỐ NGƯỜI CHẾT THỰC SỰ TRONG ĐẠI DỊCH: NHIỀU HƠN HÀNG TRIỆU NGƯỜI SO VỚI CON SỐ CHÍNH THỨC

Các quốc gia đã ghi nhận khoảng năm triệu ca tử vong do COVID-19 trong hai năm, nhưng số người chết vượt mức trên toàn cầu ước tính gấp đôi hoặc thậm chí gấp bốn lần con số này.

Tác giả: David Adam

Một gia đình đứng bên mộ một người thân đã mất vì COVID-19 ở Manaus, Brazil, vào tháng 5 năm 2020. Nguồn: Andre Coelho/Getty

Ngày Thanh Minh năm ngoái đánh dấu một cột mốc nghiệt ngã. Vào ngày 1 tháng 11, dữ liệu chính thức cho thấy số người chết trên toàn cầu do đại dịch COVID-19 đã vượt qua 5 triệu người. Hiện con số này đã đạt mức 5,5 triệu. Nhưng số liệu đó là một ước tính quá thấp. Hồ sơ về số tử vong vượt mức [excess mortality] – một độ đo bao hàm việc so sánh tất cả các trường hợp tử vong được ghi lại với những trường hợp dự kiến sẽ xảy ra – cho thấy số người đã chết trong đại dịch cao hơn rất nhiều.

Tính toán xem còn bao nhiêu người chết là một thách thức nghiên cứu phức tạp. Việc này không đơn giản chỉ là đếm số tử vong vượt mức ở mỗi quốc gia. Các nhà khoa học đã nhận thấy một số dữ liệu chính thức về vấn đề này vẫn còn thiếu sót. Và có hơn 100 quốc gia không thu thập được số liệu thống kê đáng tin cậy về số ca tử vong dự kiến ​​hoặc thực tế, hoặc không công bố chúng kịp thời. Các nhà nhân khẩu học, nhà khoa học dữ liệu và các chuyên gia y tế công cộng đang nỗ lực thu hẹp những bất trắc đối với một ước tính toàn cầu về số ca tử vong do đại dịch gây ra. Những nỗ lực này, từ cả giới học giả và báo chí, sử dụng hàng loạt phương pháp từ hình ảnh vệ tinh của nghĩa trang đến điều tra tận nhà và các mô hình học máy cố gắng ngoại suy những ước tính toàn cầu từ dữ liệu có sẵn.

Print Friendly and PDF