20.9.21

Miễn dịch cộng đồng đối với Covid-19? Điều đó sẽ không diễn ra, vậy tiếp theo là gì?

MIỄN DỊCH CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI COVID-19? ĐIỀU ĐÓ SẼ KHÔNG DIỄN RA, VẬY TIẾP THEO LÀ GÌ?

Shabir A. Madhi

Hy vọng tốt nhất để đánh bại đại dịch là tiêm chủng cho nhiều người càng sớm càng tốt. Luca Sola / AFP qua Getty Images

Bất kỳ niềm tin nào rằng COVID-19 sẽ tồn tại chỉ trong vài tháng đã bị đặt sai chỗ rất nhiều vào năm 2020. Đặc biệt là sau khi người ta nhận ra là virus SARS-CoV-2 phần lớn phát tán qua đường không khí, tất cả các dấu hiệu đều cho thấy nó sẽ gây ra từng đợt sóng lặp đi lặp lại. Đây là những gì đã diễn ra trong dịch cúm năm 1918.

Thêm vào đó rất ít nhà khoa học dự đoán rằng chúng ta sẽ nhìn thấy các loại đột biến xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Điều này đã dẫn đến kết quả là virus trở nên dễ lây truyền hơn và có nhiều khả năng hơn để tránh được các phản ứng của hệ miễn dịch.

Sự tiến hóa của virus nhanh đến mức biến thể Delta, hiện đang thống trị thế giới, có khả năng lây truyền ít nhất là gấp đôi so với chủng virus thế hệ trước vốn đang lưu hành.

Điều này có nghĩa là miễn dịch cộng đồng không còn là một cuộc thảo luận mà thế giới nên có. Chúng ta nên bắt đầu tránh sử dụng thuật ngữ ấy trong bối cảnh của SARS-CoV-2, bởi vì nó sẽ không thành hiện thực - hoặc không có khả năng thành hiện thực - trong suốt cả cuộc đời của chúng ta.

Print Friendly and PDF

19.9.21

Sự khác biệt giữa khoa học dấn thân và hệ tư tưởng: bài học từ Bourdieu

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KHOA HỌC DẤN THÂN VÀ HỆ TƯ TƯỞNG: BÀI HỌC TỪ BOURDIEU

Gisèle Sapiro[1]

Gisèle Sapiro (1965-)

Giữa cuộc tranh cãi về chủ nghĩa Hồi giáo cánh tả cực đoan (islamo-gauchisme), sự xuất bản cuốn Lao động và người lao động ở Algéria/Travail et travailleurs en Algérie của Pierre Bourdieu, chưa từng được tái bản kể từ năm 1963, nhắc nhở chúng ta rằng một nền khoa học xã hội dấn thân không phải là biểu hiện của một hệ tư tưởng. Nhà xã hội học khai triển một suy nghĩ về thực hành của mình với tư cách là một nhà điều tra trong bối cảnh thuộc địa, và cho thấy rằng đối với các nhà dân tộc học hay xã hội học vấn đề không phải là trở thành người phát ngôn được người bị trị hay kẻ thống trị ủy quyền, mà là thu thập lời nói của họ, là “nhà văn công cộng”, bằng cách mô tả lại lời nói này trong một hệ thống khách quan của các quan hệ quyền lực.

===================================================

Cuộc tranh cãi nổ ra – một cách chính đáng – do những cáo buộc gần đây của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học và Nghiên cứu Frédérique Vidal về chủ nghĩa Hồi giáo Cánh tả cực đoan, chống lại các nhà nghiên cứu trong ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Pháp đã đưa vào lại chương trình nghị sự vấn đề về mối quan hệ giữa khoa học và hệ tư tưởng.

Print Friendly and PDF

18.9.21

Khoa học Mở và Covid-19: Một cơ hội để dân chủ hóa tri thức?

KHOA HỌC MỞ VÀ COVID-19: MỘT CƠ HỘI ĐỂ DÂN CHỦ HÓA TRI THỨC?

Bernard Rentier[1]Marc Vanholsbeeck[2]

Truy cập tự do các kết quả khoa học giúp đấu tranh chống đại dịch. Viện Ung thư quốc gia, Unsplash, CC BY

Hàng ngày các nam nữ chuyên viên nghiên cứu của chúng tôi phải đối mặt với thế lưỡng nan sau đây, đại dịch đã để lộ ra cho công chúng: “Làm thế nào để toàn bộ xã hội được hưởng lợi từ những kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi các nguồn quỹ công cộng và chúng liên quan đến những vấn đề quan trọng hàng đầu của nhân loại, trong khi những nhà xuất bản lớn lại muốn chiếm giữ những công trình này?

Từ đầu thế kỷ này, một mô hình mới đã nổi lên để phá vỡ những rào cản đang giam giữ tri thức, đó là khoa học Mở (Open Science), minh bạch và mọi người đều tiếp cận được. Cách tiếp cận đổi mới sáng tạo này, nhờ tính thích đáng của nó, đã thuyết phục được nhiều nhà nghiên cứu và những người ra quyết định, đứng đầu là Liên minh châu Âu, khoa học Mở đang tạo thành trụ cột của Không gian nghiên cứu châu Âu (ERA - The European Research Area -).

Khoa học Mở còn chinh phục được cả những nhà xuất bản khổng lồ như Elsevier hay Springer, họ biến đổi mô hình kinh tế của họ và từ nay yêu cầu các tác giả trả phí cho những công bố được truy cập tự do của họ. Tại Pháp và vào năm 2017, trung bình các phí này đã lên đến 1754 euro cho mỗi bài báo – tính chung cho tất cả các nhà xuất bản –.

Tuy nhiên, cũng có thể có những mô hình kinh tế khác, từ khâu nạp các bài báo vào các danh mục kỹ thuật số đến khâu tài trợ công cho xuất bản trên Open Access (vẫn lấy ví dụ tại Pháp là Open Education). Khoa học Mở, nhất là khi nó không đưa vào phục vụ các nhà xuất bản và lợi nhuận của họ, cho phép dân chủ hóa tri thức, khắc phục được những bất bình đẳng trong tiếp cận tri thức, và đặc biệt là đối với những quốc gia và thể chế nghèo nhất, đồng thời gia tăng việc sử dụng những bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho việc ra quyết định chính trị.

Print Friendly and PDF

17.9.21

Đại dịch đã làm phá sản hoàn toàn cuốn tiểu thuyết ‘Atlas Shrugged’ của Ayn Rand

ĐẠI DỊCH ĐÃ LÀM PHÁ SẢN HOÀN TOÀN CUỐN TIỂU THUYẾT ‘ATLAS SHRUGGED’ CỦA AYN RAND

Paul Constant

Một thành viên của Lực lượng Vệ binh Quốc gia đọc cuốn “Atlas Vươn mình” |Atlas Shrugged| tại Điện Capitol khi Hạ viện tranh luận về việc luận tội Tổng thống Trump vào tháng 1/2021. Tom Williams / CQ-Roll Call, Inc qua Getty Images

Như bao người da trắng khác, tôi đọc cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Ayn Rand “Atlas Vươn mình” khi tôi ở tuổi 18. Và cũng như bao người da trắng khác, cuốn “Atlas Vươn mình” đã khiến tôi thành một kẻ đần độn trong nhiều tháng trời.

Ayn Rand (1905-1982)

Cuốn “Atlas Vươn mình”, được xuất bản năm 1959 và số lượng ấn bản phát hành chỉ đứng thứ hai sau Kinh Thánh, “Atlas Vươn mình” được dùng như một lời mời gọi bạn đọc đến với triết lý của Ayn Rand, Chủ nghĩa Khách quan, dựa trên ý tưởng rằng sự vị kỷ nên là đức tính hướng dẫn cho toàn bộ nhân loại. (Nếu bạn cho rằng tôi đang nói quá hoặc hiểu sai về thông điệp của bà, thì xin lưu ý là Rand đã công bố một cuốn sách phi hư cấu có tựa đề chính xác là “Phẩm hạnh của sự vị kỷ” |The Virtue of Selfishness| theo đúng nghĩa đen.)

Rand khẳng định rằng tính tư lợi là động lực tốt nhất cho kinh tế học, tài chính, chính trị học và về cơ bản cho tất cả những sự mưu cầu của nhân loại. Bà lập luận rằng đặt những người khác lên hàng đầu nghĩa là mọi người đều sẽ về cuối.

Print Friendly and PDF

16.9.21

Anne Case và Angus Deaton: “Trình độ học vấn, như con dao ngoáy vào vết thương”

 

ANNE CASE VÀ ANGUS DEATON: “TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, NHƯ CON DAO NGOÁY VÀO VẾT THƯƠNG”

Raphaël Bourgois[*]

(Nguồn: Pathways)

Những cái chết vì tuyệt vọng đã làm giảm sút kỳ vọng sống tại Mỹ đến nỗi hạ thấp tuổi thọ trung bình kể từ năm 2014. Hai nhà nghiên cứu lớn của Đại học Princeton, Anne Case và Angus Deaton, đã chỉ ra trong tác phẩm mới của họ tầng lớp công nhân da trắng đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất như thế nào bởi hiện tượng này trong những năm vừa qua. Điểm xuất phát của một phân tích mạnh mẽ về diễn biến của cơ cấu các bất bình đẳng đã cung cấp các chìa khóa giải thích hiện tượng Trump và chủ nghĩa dân túy đang tồn tại dai dẳng.

Angus Deaton (1945-)

Anne Case và Angus Deaton là hai nhà kinh tế lớn người Mỹ, gần gũi với chính quyền mới Biden, và quan tâm đến các nguyên nhân và biểu hiện của bất bình đẳng. Năm 2015, Angus Deaton đã nhận giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển, được xem như giải Nobel kinh tế, về “phân tích của ông về tiêu thụ, nghèo khó và phúc lợi”. Từ nhiều năm nay, hai tác giả cùng nhau phát triển việc phân tích vấn đề này bằng cách quan tâm đến một hiện tượng ít được nghiên cứu: “những cái chết vì tuyệt vọng”. Chết vì tuyệt vọng, tương lai của chủ nghĩa tư bản là nhan đề của tác phẩm mới của họ, do Nhà xuất bản Đại học Princeton (Princeton University Press) xuất bản vào tháng ba 2020 và trong vài ngày nữa (24/2/2021 – ND) bản dịch (tiếng Pháp-ND) của Laurent Bury sẽ được nhà xuất bản Presses Universitaires de France phát hành. Qua tìm hiểu về sự giảm sút chưa từng có của kỳ vọng sống của người Mỹ vào năm 2014 và nó tiếp diễn trong nhiều năm liền, hai nhà kinh tế học đã nêu rõ tầm quan trọng của tự tử, nghiện rượu và khủng hoảng ma túy đã tấn công dữ dội hơn một tầng lớp thường bị lãng quên: nam giới da trắng không có bằng cấp từ 25 đến 55 tuổi. Đông đảo những người này đã bầu cho Trump. Đó là điểm xuất phát của một phân tích không khoan nhượng những lệch hướng của chủ nghĩa tư bản, không phải để thoát khỏi nó mà để đưa nó trở lại đúng hướng và có thể nghĩ đến một tương lai cho nó. (Raphaël Bourgois)

Print Friendly and PDF

15.9.21

Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình thiếu khả năng tiếp cận phân tích dữ liệu lớn – đây là cách lấp đầy khoảng cách

CÁC QUỐC GIA THU NHẬP THẤP VÀ TRUNG BÌNH THIẾU KHẢ NĂNG TIẾP CẬN PHÂN TÍCH DỮ LIỆU LỚN – ĐÂY LÀ CÁCH LẤP ĐẦY KHOẢNG CÁCH

Cơ sở hạ tầng thống kê có thể giúp cải thiện mọi thứ, từ chăm sóc sức khỏe đến chính trị. Andriy Onufriyenko / Khoảnh khắc qua Getty Imagess

Khả năng thu thập và học hỏi từ lượng lớn dữ liệu đã và đang là động lực chính của sự đổi mới trong những thập kỷ gần đây. Tất cả mọi thứ từ chăm sóc sức khỏe – hãy nghĩ về việc phân tích bệnh nhân, các thiết bị đeo được và ứng phó COVID-19 – đến giao thông vận tải – Uber và Lyft – cho tới giải trí – Netflix – giờ đây đều được dữ liệu và thống kê thúc đẩy.

Tuy nhiên, năng lực thu thập dữ liệu tốt, khả năng rút ra các nhận thức sâu sắc từ dữ liệu này và các kỹ năng để biến những nhận thức sâu sắc đó thành sự thay đổi không phân bố đều khắp toàn cầu.

Bắt chước cách tổ chức phi lợi nhuận Bác sĩ không biên giới |Doctors Without Borders| gửi nhân viên y tế và ý kiến chuyên môn đến các nước đang phát triển, một số tổ chức đã bắt đầu làm điều tương tự với số liệu thống kê. Nhưng nhìn chung, nhu cầu nâng cao năng lực thống kê địa phương ở các quốc gia đang phát triển phần lớn vẫn chưa được đáp ứng.

Chúng tôi là hai nhà toán học tại Đại học Colorado Boulder và là thành viên của dự án có tên Phòng thí nghiệm Phân tích Thống kê Liên ngành |Laboratory for Interdisciplinary Statistical Analysis| đang làm việc để phát triển cơ sở hạ tầng thống kê trên toàn thế giới. Mục tiêu của chương trình là giúp xây dựng cơ sở hạ tầng khoa học dữ liệu ở các quốc gia đang phát triển. Tại 10 quốc gia và con số này đang tiếp tục tăng, chúng tôi đã bắt đầu “phòng thí nghiệm thống kê” – trung tâm học thuật đào tạo các nhà thống kê trẻ để cộng tác trong các dự án thống kê địa phương quan trọng.

Print Friendly and PDF

14.9.21

Giới thiệu sách Nền Văn hóa Thứ ba


GIỚI THIỆU SÁCH NỀN VĂN HÓA THỨ BA

THE THIRD CULTURE

BEYOND THE SCIENTIFIC REVOLUTION

Chủ biên: John Brockman

(1995)

’’

Những biến động của các điều kiện chính trị, quân sự và cả kinh tế – tự chúng – không thể giải thích thỏa đáng cách sống ngày nay của chúng ta đã phát triển thành công như thế nào; điều này đòi hỏi một Lịch sử Khoa học và Công nghệ.

Một nghịch lý kỳ lạ là ở Pháp vẫn chưa có ngành học hoặc giáo trình nào trong lĩnh vực này có thể so sánh được với các ngành học thông thường. Lịch sử của khoa học tự nhiên chỉ có thể được tìm thấy khi nó được tạo ra một cách tình cờ và do thiện chí. Chúng ta thường dạy lịch sử của chúng ta mà không có khoa học, rút ​​ngn triết hc trong lớp học bằng bất kỳ lập luận kỹ thuật nào, giữ văn chương hoàn toàn cách biệt với khu vực khoa học lân cận – tách biệt khỏi lớp đất mùn của lịch sử – dạy như thể nó từ trên trời rơi xuống: Tóm lại, tất cả sự học của chúng ta cuối cùng xa lạ với thế giới thực mà chúng ta đang sống và trong đó công nghệ và xã hội, những truyền thống điên rồ hoặc khôn ngoan của chúng ta đang miễn cưỡng hòa nhập với những đổi mới hữu ích hoặc đáng lo ngại.

Michel Serres

(1930–2019)

Nhà triết học, lý thuyết gia và nhà văn người Pháp, thành viên Hàn lâm viện Pháp. Trích trong quyển sách do ông làm chủ biên: Elemente einer Geschichte der Wissenschaften (Các yếu tố của một Lịch sử các Khoa học); bản gốc tiếng Pháp: Elements d’histoire des sciences. Bordas, Paris 1989.

Print Friendly and PDF

13.9.21

Vắc xin ngừa Covid-19 của Pfizer hiện đã được FDA phê duyệt hoàn toàn. Ý nghĩa của việc phê duyệt này đối với người chưa được tiêm chủng, các tổ chức và ngành dược

VẮC XIN NGỪA COVID-19 CỦA PFIZER HIỆN ĐÃ ĐƯỢC FDA PHÊ DUYỆT HOÀN TOÀN. Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÊ DUYỆT NÀY ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA ĐƯỢC TIÊM CHỦNG, CÁC TỔ CHỨC VÀ NGÀNH DƯỢC

Sự phê duyệt của FDA đối với vắc xin ngừa COVID-19 của Pfizer có thể nâng cao tỷ lệ tiêm chủng ở những người đã và đang do dự trong việc chủng ngừa. (Ảnh AP/Jessica Hill)

Tác giả: Charles Weijer

Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm của Hoa Kỳ đã phê duyệt vắc xin ngừa COVID-19 của Pfizer-BioNTech để sử dụng cho những người từ 16 tuổi trở lên vào ngày 23 tháng 8. Mô tả sự phê duyệt của FDA là “tiêu chuẩn vàng”, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, đã tuyên bố thời điểm này là “một cột mốc quan trọng trong cuộc chiến chống lại COVID của quốc gia”.

Cột mốc quan trọng này đạt được là kết quả của tốc độ phát triển vắc xin chưa từng có. Vắc xin Pfizer-BioNTech đã chuyển từ khái niệm sang thử nghiệm lâm sàng quan trọng rồi được FDA cấp phép sử dụng khẩn cấp trong thời gian kỷ lục. Kể từ ngày 11 tháng 12 năm 2020, 205 triệu liều vắc xin đã được sử dụng ở Hoa Kỳ và hơn 26 triệu liều ở Canada.

Nhưng sự khác biệt giữa giấy phép sử dụng khẩn cấp của FDA và sự phê duyệt hoàn toàn là gì? Và sự phê duyệt của FDA có thể có tác động gì đối với những người chưa được tiêm chủng, bác sĩ, tổ chức và ngành công nghiệp dược phẩm?

Với số lượng ca bệnh và ca nhập viện gia tăng do biến thể Delta, hy vọng rằng sự phê duyệt của FDA sẽ kịp thời giúp tăng tỷ lệ tiêm chủng.

Print Friendly and PDF

12.9.21

Sai lầm chiến lược của ngày 11 tháng 9

SAI LẦM CHIẾN LƯỢC CỦA NGÀY 11 THÁNG 9

Bị các cuộc tấn công khủng bố đánh phá ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ đã tập trung mọi nỗ lực và mọi sự chú ý của mình vào Trung Đông và cuộc chiến chống khủng bố. Đối với Bradley Thayer, Hoa Kỳ đã bỏ qua sự trỗi dậy của Bắc Kinh. Tác giả chỉ ra cách Trung Quốc đã trở thành người hưởng lợi chiến lược tình cờ của biến cố ngày 11 tháng 9.

Bradley A. Thayer[*]

Nhiều khả năng Al Qaeda đã thực hiện vụ tấn công khủng bố khủng khiếp và chưa từng có của ngày 11 tháng 9 năm 2001 với chủ tâm buộc Hoa Kỳ can thiệp vào Afghanistan và bị đánh bại tại đó, như đã xảy ra với Liên Xô trong cuộc chiến kéo dài của họ. Al-Qaeda đã có một tính toán sai lầm lớn. Sự can thiệp của Mỹ, bất chấp sự không hoàn hảo của nó, không bao giờ dẫn đến mức độ can dự mà Liên Xô đã triển khai và được những kẻ khủng bố tìm kiếm.

Tuy nhiên, cùng lúc đó, các biến cố ngày 11 tháng 9 đã thực sự trở thành một của trời cho đối với Trung Quốc. Những cuộc tấn công này đã đánh lạc hướng sự chú ý của Hoa Kỳ, nay tập trung vào Trung Đông, và cuối cùng bỏ qua sự bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để phát triển ảnh hưởng địa chính trị của mình, ít gặp phải trở ngại và thường với sự khuyến khích tích cực của nhiều đối tác thương mại Mỹ, để chiếm vị trí đối thủ cạnh tranh hiện tại và là mối đe dọa chính đối với các lợi ích và vị thế của Hoa Kỳ.

Print Friendly and PDF

11.9.21

Kỹ thuật số và Covid-19: quyền tự do đối mặt với sự kiểm soát

 
KỸ THUẬT SỐ VÀ COVID-19: QUYỀN TỰ DO ĐỐI MẶT VỚI SỰ KIỂM SOÁT

Stéphane Grumbach[*]

Thứ Hai này, ngày 9 tháng 8, là ngày thông hành y tế bắt đầu có hiệu lực. Quyết định này là kết quả của sự suy nghĩ về sự phát triển của các chiến lược, được dự kiến hoặc triển khai trong bối cảnh cuộc chiến chống lại Covid-19. Chủ đề không phải là mới. Ngay từ năm 1999, một nhóm các chuyên gia Mỹ từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh/Centers for Disease Control and Prevention (CDCP) đã xác định một số kịch bản tùy thuộc vào loại tác nhân truyền nhiễm.

Chiến lược đầu tiên, được gọi là giảm thiểu/mitigation, là chiến lược “sống chung với” dịch bệnh bằng cách hạn chế tốc độ lây lan của nó và bằng cách thực hiện các biện pháp khẩn cấp, để giữ cho các dịch vụ bệnh viện dưới mức bão hòa cho đến khi có được miễn dịch cộng đồng. Chiến lược này, chủ yếu mang tính chất phản ứng, đã được áp dụng rộng rãi cho Covid-19 ở Bắc Mỹ và Châu Âu, đặc biệt là ở Pháp và Đức.

Chiến lược thứ hai, được gọi là xóa bỏ/suppression, nhằm mục đích đạt được sự lưu hành thấp của vi rút bằng các hành động kết hợp, tuần tự và có mục tiêu và các biện pháp phòng ngừa, cho đến khi phát triển được một phương pháp điều trị. Chiến lược phòng ngừa này đã được áp dụng cho Covid-19 ở Nhật Bản, nơi tổ chức Thế vận hội muộn một năm và không có khán giả, và ở Na Uy. Nó đi kèm với việc kiểm soát biên giới khá nghiêm ngặt, với sự truy tìm có hệ thống các trường hợp tiếp xúc và các biện pháp cách ly cưỡng chế.

Chiến lược thứ ba, được gọi là diệt trừ/élimination, nhằm mục đích tiêu diệt vi rút bằng các hành động phối hợp và các biện pháp nghiêm ngặt được thực hiện ở thượng nguồn. Chỉ một số quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, New Zealand và ở mức độ thấp hơn là Úc, đã áp dụng nó cho Covid-19. Do đó, các biện pháp hà khắc (đóng cửa hoàn toàn, cách ly nghiêm ngặt) đã được thực hiện sớm, được nhấn mạnh với những sự phong tỏa ở địa phương. Các biện pháp kiểm soát biên giới nghiêm ngặt được áp dụng và việc truy tìm các đầu mối/contact-tracing được phổ cập.

Print Friendly and PDF