18.7.18

Nghĩ gì về tình trạng khao khát đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc?

NGHĨ GÌ VỀ TÌNH TRẠNG KHAO KHÁT ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC?
Nhà sản xuất ô tô Trung Quốc Great Wall [Vạn lý trường thành], hôm thứ Hai 21/8/2017, đã công bố ý định mua lại thương hiệu Jeep của Mỹ tại công ty Fiat Chrysler. (Ảnh bản quyền: AFP PHOTO / PHILIPPE LOPEZ)
Có vẻ như không có gì có thể làm khô đi nỗi khao khát đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc. Họ không chỉ quan tâm đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các nước đang phát triển mà từ nay còn nhắm đến các ngành công nghiệp chế tạo, dịch vụ và tài chính ở châu Âu và Hoa Kỳ. Từ năm 2015, Trung Quốc là nước xuất khẩu tư bản ròng. Từ nay, họ là nhà đầu tư lớn thứ hai trên thế giới, đứng sau Mỹ. Cuộc đua tranh giành tài sản nước ngoài này phát sinh phần lớn từ nhu cầu thoát khỏi lực hấp dẫn của lợi nhuận biên ngày càng giảm, trong một thị trường nội địa [Trung Quốc] đang trong giai đoạn giảm tốc.

Print Friendly and PDF

16.7.18

Lịch sử văn minh châu Âu (4) – Chủ nghĩa nhân bản

LỊCH SỬ VĂN MINH CHÂU ÂU (4): CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN
Tác giả: Tôn Thất Thông, CHLB Đức
Chủ nghĩa nhân bản tự bản chất là một trào lưu phản kháng, với mục tiêu trước tiên là chống lại hệ thống qung bá văn chương và khoa học đương thời. Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn của tinh thần phản kháng là sự bất ổn nội tâm của những nhóm người trong xã hội với cuộc sống đô thị hóa, trong đó phong cách tiếp cận thuần lý của họ trong xã hội gặp xung đột với các giá trị truyền thống và lớp người này không tìm thấy một mẫu mực nào trong truyền thống giáo dục gia đình làm gương cho ý thức rèn luyện nhân cách của họ.[1]
Benedikt K. Vollmann, giáo sư văn chương cổ điển, đại học München
Để tìm nguồn gốc của chủ nghĩa nhân bản châu Âu, chúng ta phải trở về nước Ý, hay chính xác hơn là đến Florence, một thành phố thương mại giàu có nằm trong vùng Toscana ở miền bắc nước Ý. Đặc điểm của cộng hòa Florence là chưa bao giờ có một vị hoàng đế hoặc Giáo hoàng đóng đô ở đó, nhờ thế mà những trào lưu văn hóa tiến bộ có xu hướng xây dựng nhân sinh quan mới, trật tự xã hội mới có thể phát triển tự nhiên, không gặp sự cấm đoán từ lúc mới thành hình trong trứng nước.
Print Friendly and PDF

14.7.18

Những bài học của giáo sư Phelps

NHỮNG BÀI HỌC CỦA GIÁO SƯ PHELPS

Christian Chavagneux
Nhà báo viết xã luận
Edmund Phelps (1933-)
Đến tuổi gần 84, nhà kinh tế học người Mỹ Edmund Phelps quảng bá cuốn sách mới của mình, mà bản dịch bằng tiếng Pháp vừa được phát hành. Khi ghé qua Paris, giáo sư đã giới thiệu nội dung các phân tích mới của mình. Thành thật mà nói, cuốn sách không lôi cuốn lắm. Nếu được, chúng ta có thể tóm tắt ngắn gọn: sự giàu có của các quốc gia được giải thích là do khả năng sáng tạo đổi mới của các quốc gia đó; khả năng này được nuôi dưỡng bằng một tinh thần văn hoá ủng hộ sự đổi mới. Chắc chắn rồi. Đây là một xã luận có thiện cảm, nhưng không duy trì được sự căng thẳng trong hơn 400 trang của cuốn sách.
Print Friendly and PDF

12.7.18

Kinh tế học đã sống sót qua cuộc khủng hoảng kinh tế như thế nào


KINH TẾ HỌC ĐÃ SỐNG SÓT QUA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ NHƯ THẾ NÀO
Robert Skidelsky
Cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 đã tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền của Friedman, thế nhưng cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 - ND] lại không nhận được phản ứng nào giống như thế từ các nhà kinh tế học. Tại sao?
Luân Đôn - Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman nhận thấy rằng hầu như không có sự thay đổi nào trong cuộc tranh luận về nguyên nhân và hệ quả của cuộc khủng hoảng suốt thập kỷ qua, ông đã có một bài tiểu luận thú vị nhân dịp kỷ niệm 10 năm kể từ ngày diễn ra cuộc Đại Suy thoái. Trong khi cuộc Đại Khủng hoảng vào những năm 1930 tạo ra Kinh tế học keynesian, hiện tượng lạm phát đình đốn vào những năm 1970 đánh dấu sự lên ngôi của học thuyết trọng tiền Friedman, thì cuộc Đại Suy thoái [năm 2008 - ND] lại không đem đến một sự thay đổi nào tương tự như thế trong học thuật.
Điều này khiến những sinh viên trẻ ngành kinh tế học vô cùng chán nản, họ đã kỳ vọng vào những phản ứng thích hợp của các nhà kinh tế học. Nhưng tại sao điều này lại không xảy ra?
Print Friendly and PDF

10.7.18

Trường học của Lý tính


TRƯỜNG HỌC CỦA LÝ TÍNH

Nguyễn Xuân Xanh
Lời nói đầu. Những dòng này đã được tác giả ghi lại từ nhiều năm trước, nay được bổ sung. Con đường của lý tính dài 2.500 năm. Ở đây tác giả chỉ ghi lại một số ý tưởng trong chuỗi phát triển lịch sử vô cùng phong phú của phương Tây liên quan đến lý tính để cuối cùng thế giới hiện đại hình thành. NXX (Aug 2017)
Chính cái tính khí của phần nóng nảy và mê tín của nhân loại trong những vấn đề của tôn giáo mà từ trước đến giờ họ yêu thích những cái huyền bí, và chính lý do này mà họ thích nhất những gì họ hiểu ít nhất.
NEWTON
Trong ánh hào quang của phương Đông, cá nhân chỉ có biến mất; ánh sáng sẽ chỉ biến thành tia chớp của ý tưởng ở phương Tây, đánh vào chính nó, và từ đó thế giới của nó hình thành.
HEGEL
Những ai không biết lịch sử bị dành cho số phận lặp lại nó.
EDMUND BURKE
Lý tính (reason, Vernünft, logos) là sự tư duy, lập luận về sự vật, thế giới, bằng sự sử dụng lôgíc, trực giác, kinh nghiệm, quan sát, chứ không dựa vào thần linh, mê tín hay một uy quyền nào khác. Lý tính có quan hệ chặt chẽ với triết học, khoa học, toán học, thực nghiệm. Hegel trong tác phẩm “Triết lý của Lịch sử” tóm tắt: “Các định luật của tự nhiên, và nội dung của cái gì là đúng, là tốt, người ta gọi đó là Lý tính. Người ta gọi Khai sáng là sự có hiệu lực của các định luật này.” Lý tính gắn liền với khoa học, và phát triển theo khoa học. Các dân tộc có tinh thần khai phá và đam mê cần đến lý tính không bị che đậy bởi những đám mây phản khoa học để tiến lên.
Print Friendly and PDF

8.7.18

Monsanto và Bayer bắt đầu quá trình sáp nhập. Đây là lý do tại sao bạn nên quan tâm.


MONSANTO VÀ BAYER BẮT ĐẦU QUÁ TRÌNH SÁP NHẬP. ĐÂY LÀ LÝ DO TẠI SAO BẠN NÊN QUAN TÂM.
“Cùng nhau, họ sẽ gây ảnh hưởng đến các thị trường trên toàn thế giới trên một quy mô mà chúng ta chưa bao giờ thấy trước đây.
Arthur Neslen
Ảnh: OLIVER BERG VIA GETTY IMAGES
Một người phản đối đốt một tờ rơi trong một cuộc biểu tình ở Bonn, Đức, chống lại thương vụ sáp nhập giữa công ty hạt giống Monsanto và công ty dược phẩm Bayer.
Trong tháng này [tháng 5/2018], Bộ Tư pháp Hoa Kỳ dự kiến phê duyệt thương vụ sáp nhập hai tập đoàn khổng lồ công ty hạt giống Monsanto có trụ sở tại St. Louis và tập đoàn hóa học cây trồng Bayer và hậu quả gây ra có thể rất lớn.
Hợp đồng trị giá 66 tỷ US$, đã được Liên minh châu Âu thông qua, sẽ tạo ra một tập đoàn độc quyền thuốc trừ sâu và hạt giống lớn nhất thế giới. Với thương vụ sáp nhập này, 61% lượng sản xuất hạt giống và thuốc trừ sâu toàn cầu sẽ nằm trong tay của chỉ ba siêu tập đoàn hai siêu tập đoàn kia là DowDuPont mới sáp nhập, và ChemChina, đã thâu tóm công ty thuốc trừ sâu và hạt giống Syngenta vào năm ngoái.
Print Friendly and PDF

6.7.18

Quan hệ nhân quả

QUAN HỆ NHÂN QUẢ[1]
Tác giả: Rudolf Carnap*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa
Rudolf Carnap (1891 – 1970)

Cách tiếp cận của nhà lôgic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có quan hệ thiết yếu giữa cái mà ta gọi là “nhân” với cái mà ta chỉ định là “quả”. Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi, không tất yếu sự kiện tiếp theo phải là ổ bánh mì tôi ăn ngày mai cũng sẽ nuôi dưỡng tôi y như vậy. Tất nhiên tôi phải thừa nhận rằng, cho đến nay, sự lắng dịu cơn đói đã thực sự theo sau việc nhai nuốt bánh mì. Thế nhưng không có một lý luận tiên nghiệm nào cho phép tôi nói rằng sự kiện đầu đã kéo sự kiện sau theo một cách tất yếu[2].
Đã vậy, Carnap còn nói thêm rằng ta không thể nào phát hiện ra nguyên nhân của một hiện tượng. Bởi bất kỳ một thay đổi nào trong thiên nhiên cũng đều phát xuất từ một “chùm hoàn cảnh”, và ta không được phép lựa ra một trong số đó như “nguyên nhân”, nếu không muốn đơn giản hóa quá đáng những quy luật trong cuộc.
Phải từ bỏ khái niệm nguyên nhân trong việc giải thích các hiện tượng vật lý chăng? Không, bởi vì yêu cầu nhân quả là đầu nguồn của hoạt động khoa học nhưng điều này không hề bao hàm, bất kỳ bằng cách nào, rằng thế giới là sự móc cuốn những cái nhân vào những cái quả. Chúng ta còn phải làm cho rõ nghĩa cái mệnh đề: “Biến cố A là nguyên nhân của biến cố B”. Một khi đã thanh lọc mọi dấu vết của chủ nghĩa nhân hình ngây thơ ra khỏi khái niệm nguyên nhân thứ đã cho biến cố A cái khả năng “sản xuất ra”, “sinh ra”, “mang lại”, biến cố B điều còn lại là cái khả năng tiên đoán sự kiện B từ sự kiện A cho một quan sát viên tiềm tàng. Như vậy, quan hệ nhân quả không thể được diễn giải như một thuộc tính của hiện tượng, mà như cái khả năng cho phép nhà khoa học đưa ra những dự báo, với ít nhiều cơ hội được thực hiện. Kết luận rằng toàn bộ vũ trụ tuân theo định luật nhân quả có nghĩa là ta quên rằng khoa học chỉ nhìn thấy quan hệ nhân quả trong tự nhiên trong chừng mực là, nói một cách chính xác, nó coi thường những gì không đáp ứng được nhu cầu tiên đoán của nó.
Print Friendly and PDF

4.7.18

Trung Quốc, trận chiến các chuẩn đằng sau cuộc chiến tranh thương mại


TRUNG QUỐC: TRẬN CHIẾN CÁC CHUẨN ĐẰNG SAU CUỘC CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Điện thoại thông minh Vivo của Trung Quốc, đối tác của Giải Bóng đá Thế giới năm 2018 tại Nga. (Nguồn: Vivo Global)
[Đội tuyển bóng đá] Trung Quốc không đủ điều kiện để tham dự Giải Bóng đá Thế giới năm 2018, nhưng nhiều thương hiệu Trung Quốc có mặt ở Moscow. Những vụ bê bối được lặp đi lặp lại trong nội bộ tổ chức FIFA [Liên đoàn Bóng đá Thế giới] đã khiến các doanh nghiệp phương Tây xa lánh giải. Các doanh nghiệp Trung Quốc đã tận dụng cơ hội để lao vào lỗ thủng các nhà tài trợ. Hisense, Mengniu và Vivo đã trở thành những đối tác của Giải Bóng đá Thế giới ở Nga, đáp lại giấc mơ Trung Hoa của Tập Cận Bình làm cho Trung Quốc trở thành đất nước của quả bóng tròn. Ngoài thể thao, thách thức còn mang tính chiến lược! Bởi lẽ nếu sự đột phá của các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ mới xuất hiện, họ có thể sẽ sớm dựa vào việc phổ biến các chuẩn Trung Quốc: một thách thức quan trọng hơn nhiều so với những thăng trầm của cuộc chiến thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Print Friendly and PDF

2.7.18

Các mô hình kinh tế có thật sự trung tính về mặt ý thức hệ không?

CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ CÓ THẬT SỰ TRUNG TÍNH VỀ MẶT Ý THỨC HỆ KHÔNG?

Bernard Guerrien
Nhà nghiên cứu kinh tế thuộc SAMM (Statistique appliquée et modélisation multidisciplinaire) của Centre d’économie de la Sorbonne

Tóm tắt

Những mô hình kinh tế, kể cả các mô hình sử dụng toán học không thể thoát khỏi hệ tư tưởng – những tin tưởng tiên nghiệm của các tác giả của chúng. Điều này không có gì là sai trái, trừ phi một số những mô hình này được trình bày, dù có ý thức hay không, một cách sai lạc để biện minh cho những tin tưởng ấy. Như thế hệ tư tưởng lấn át lí trí. Nhiều thời gian và năng lượng đã bị phung phí trong việc thiết kế các mô hình trên, vốn là nguồn gốc của những lẫn lộn hơn là của sự tiến bộ của tri thức.
Print Friendly and PDF

30.6.18

Các con đường tơ lụa mới tới đâu rồi, nói một cách chính xác?


CÁC CON ĐƯỜNG TƠ LỤA MỚI TỚI ĐÂU RỒI, NÓI MỘT CÁCH CHÍNH XÁC?
Jean-Raphaël Chaponnière
Các quan chức Iran hoan nghênh chuyến tàu lửa đầu tiên nối Trung Quốc với Iran từ con đường tơ lụa cũ vào ngày 15 tháng 2 năm 2016 tại ga đường sắt Tehran (Ảnh: AFP PHOTO / STRINGER)
Vào năm 2013, Tập Cận Bình đã công bố ở Kazakhstan “phiên bản đường bộ” của “Các con đường tơ lụa mới” (“Vành đai”). Vài tháng sau, ông trình bày “phiên bản đường biển” (“Con đường”) ở Jakarta. Kể từ khi có những tuyên bố đó, tên gọi tắt bằng tiếng Anh đã biến đổi. Đầu tiên, là OBOR (ký hiệu những chữ đầu của One Belt One RoadMột vành đai, một con đường), tên gọi này quá tập trung vào lợi ích của Trung Quốc và, đối với những kẻ độc mồm, cụm từ OBOR được dịch thành “Our Bulldozers, Our Rules [Xe ủi đất của chúng tôi, luật chơi của chúng tôi]. Vì thế, Bắc Kinh đã chuyển dần sang một tên gọi khiêm tốn hơn Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI, Belt and Road Initiative). Có giá trị đối với tất cả các phương thức – đường sắt, hàng hải, đường bộ, kỹ thuật số và hàng không – BRI phát triển dọc theo hai trục, mỗi trục có các biến thể khác nhau. Trục thứ nhất đi qua Trung Á và đi tiếp đến châu Âu, qua Nga hoặc qua Iran, và đồng thời với Tuyến đường phía Bắc (Bắc cực). Trục thứ hai chia thành ba hành lang (Pakistan đến cảng Gwadar, Miến Điện đến cảng Kyaukphyu, Lào đến Singapore), và được mở rộng bằng một tuyến đường biển đến Piraeus, để từ đó tiếp tục đến Trung Âu. BRI không giới hạn ở các cơ sở hạ tầng mà còn kết hợp xây dựng các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất điện và thậm chí cả các dự án khách sạn.
Print Friendly and PDF