14.8.20

Yuval Noah Harari: “Mỗi cuộc khủng hoảng cũng là một cơ hội”

YUVAL NOAH HARARI: “MỖI CUỘC KHỦNG HOẢNG CŨNG LÀ MỘT CƠ HỘI”
Trong một cuộc phỏng vấn với UNESCO Courier, Yuval Noah Harari, nhà sử học người Israel và là tác giả của Sapiens, Homo Deus, và 21 Bài học cho thế kỷ 21, phân tích những hậu quả có thể của cuộc khủng hoảng y tế hiện nay vi-rút corona, và nhấn mạnh sự cần thiết của việc hợp tác quốc tế nhiều hơn nữa về khoa học và chia sẻ thông tin giữa các quốc gia.
Đại dịch y tế toàn cầu này khác với các cuộc khủng hoảng y tế trong quá khứ như thế nào và nó cho chúng ta biết điều gì?
Print Friendly and PDF

12.8.20

Quyền lực mềm Trung Quốc: giữa chiến lược ảnh hưởng và khẳng định sức mạnh

QUYỀN LỰC MỀM TRUNG QUỐC: GIỮA CHIẾN LƯỢC ẢNH HƯỞNG VÀ KHẲNG ĐỊNH SỨC MẠNH
Barthélemy Courmont[*]
Barthélemy Courmont (1974-)
Vấn đề quyền lực mềm Trung Quốc ngày nay là chủ đề của ngày càng nhiều công trình học thuật, ở Trung Quốc cũng như ở các nước Phương Tây. Được chính thức hóa từ Đại hội lần thứ XVII của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) năm 2007 (Tài liệu, 2007), chiến lược quyền lực mềm đã dần được thực hiện và trở nên thiết yếu sau khi cặp Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo lên nắm quyền năm 2002. Vào thời điểm một thế hệ lãnh đạo Trung Quốc thứ năm đang chuẩn bị tiếp quản từ Đại hội ĐCSTQ 2012, và có thể nhanh chóng đưa ra các hướng chiến lược mới, mà một số nhà quan sát đã mô tả là “sự đồng thuận Bắc Kinh” (Ramo, 2004; Halper, 2010), cần phải có một bản tổng hợp về quyền lực mềm và tra cứu cho cả việc tái cấu trúc ở Trung Quốc khái niệm này, một khái niệm sinh ra ở Hoa Kỳ và cách thức nó được sử dụng để phục vụ một ý đồ chiến lược lớn. Do đó, câu hỏi về thời “hậu quyền lực mềm” được đặt ra khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc tự vấn về các chiến lược tốt nhất để tác động và khẳng định quyền lực của Trung Quốc trên trường quốc tế.
Bài này phân tích các cách giải thích khác nhau về quyền lực mềm ở Trung Quốc và việc tái cấu trúc khái niệm của Joseph Nye, đặc biệt là sự phát triển của các công trình và sự chú ý mà nó nhận được ở Trung Quốc [1]; khảo cứu các chiến lược được thông qua và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển của đất nước này trên trường quốc tế [2]; giải mã chuyển động con lắc của quyền lực mềm từ Washington đến Bắc Kinh [3]; sau đó đặt câu hỏi về giới hạn của quyền lực mềm Trung Quốc [4]; và về sự cám dỗ của quyền bá chủ của Bắc Kinh như một hệ quả tất yếu của những thành công của nó [5].
Print Friendly and PDF

10.8.20

Coronavirus: Làm thế nào để thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc về dược phẩm?

CORONAVIRUS: LÀM THẾ NÀO ĐỂ THOÁT KHỎI SỰ PHỤ THUỘC VÀO TRUNG QUỐC VỀ DƯỢC PHẨM?

80% lượng thuốc mà người châu Âu tiêu thụ do Trung Quốc sản xuất. (Nguồn: Le Soir)
Chúng ta đã biết về “ngoại giao khẩu trang” mà Trung Quốc đã tiến hành trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng y tế do đại dịch Covid-19 gây ra đã làm sáng tỏ sự phụ thuộc rất nặng về dược phẩm của phương Tây vào Trung Quốc.
Sự phụ thuộc này vang lên như một lời cảnh báo về chủ quyền của các nước phương Tây trong các vấn đề y tế. Nó nhấn mạnh đến tính dễ bị tổn thương rất lớn của các nước phương Tây. Trong những năm qua, Trung Quốc đã trở thành nước dẫn đầu sản xuất dược phẩm trên thế giới, đến mức ngày nay, họ là công xưởng sản xuất hơn 80% lượng hoạt chất được sử dụng trong ngành dược phẩm toàn cầu. Tình trạng thống trị này thậm chí còn áp đảo hơn trong hồ sơ đăng ký các nguyên liệu, được sử dụng để phát triển dược phẩm, khi mà chỉ tính riêng ngành công nghiệp Trung Quốc đã chiếm từ 80 đến 90% thị trường thế giới.
Print Friendly and PDF

8.8.20

Hướng dẫn vào các thiên đường thuế

HƯỚNG DẪN VÀO CÁC THIÊN ĐƯỜNG THUẾ
Cuộc phỏng vấn Gabriel Zucman
do Thomas Vendryes thực hiện, ngày 15 tháng 11 năm 2011
Gabriel Zucman (1986-)
Có bao nhiêu tiền được giấu ở các thiên đường thuế? Ai gởi? Và như thế nào? Dựa vào một phương pháp luận độc đáo và những dữ liệu chưa được khai thác trước đó, Gabriel Zucman đã rọi trực tiếp những ánh sáng mới vào các vấn đề này, với hy vọng có thể giúp cải thiện cuộc chiến chống lại các thiên đường thuế.
Gabriel Zucman hoàn tất luận án tiến sĩ của ông tại Trường Kinh tế Paris. Ông quan tâm đến sự bất bình đẳng về của cải, đặc biệt trên phạm vi toàn cầu. Cùng với khoảng hai mươi nhà nghiên cứu trẻ, ông làm cho tạp chí Regards croisés sống động lên với chủ đề kinh tế.
La Vie des Idées: Ông đã thực hiện một công trình quan trọng về cái mà ông gọi là “của cải còn thiếu của các quốc gia”, có nghĩa là di sản của những hộ gia đình không xuất hiện trên các dữ liệu thống kê của quốc gia và thế giới, bởi vì nó được giấu ở các thiên đường thuế. Trước tiên, ông có thể cho chúng tôi biết một vài độ lớn: số tiền của những của cải đó là bao nhiêu? Cấu trúc tổ chức của nó ra sao? Ai là chủ sở hữu chính? Các thiên đường thuế lớn nằm ở đâu?
Print Friendly and PDF

7.8.20

Cách mạng khoa học trong thời đại khai sáng

CÁCH MẠNG KHOA HỌC TRONG THỜI ĐẠI KHAI SÁNG
Tác giả: Tôn Thất Thông
Khai sáng là thời đại trong đó các triết gia khám phá những khoa học mới, và tất cả để phục vụ cho con người làm chủ thiên nhiên và môi trường sống chung quanh. Dùng thuật ngữ của David Hume, khai sáng là thời đại của “những khoa học đạo đức” mới mẻ: Xã hội học, tâm lý học, kinh tế chính trị học và giáo dục hiện đại.[1]
Sử gia Peter Gay, Giáo sư đại học Yale.
Đúng như Peter Gay nhận xét, chúng ta thử quan sát thời gian 200 năm từ 1543, lúc Nicolaus Copernicus công bố vũ trụ quan nhật tâm, cho đến thập niên 1760 khi khoa học đã phát triển cao và các phát minh kỹ thuật bắt đầu xuất hiện làm thay đổi sâu sắc nền sản xuất công nghiệp trong thế kỷ tiếp theo. Thời gian đó xứng đáng để được gọi là thời đại cách mạng khoa học tự nhiên ở châu Âu. Nhưng theo nghĩa thông thường, cách mạng là một biến cố bộc phát làm thay đổi xã hội trong một thời gian ngắn, vậy làm sao gọi là cách mạng khi nó kéo dài hai trăm năm? Để xác minh lại thực chất của vấn đề, chúng ta tạm dùng những khái niệm của Thomas Kuhn: “Trong một cuộc biến đổi hệ hình, thế giới cũng thay đổi. Với sự hướng dẫn của một hệ hình mới, khoa học gia sử dụng những công cụ mới và nhìn vào những không gian mới. Nhưng quan trọng hơn nữa là, trong cuộc cách mạng đó, khoa học gia nhìn thấy những điều khác mới lạ hơn[2]”.
Print Friendly and PDF

4.8.20

Tại sao các bức tượng mà (hầu như) không còn ai quan tâm nữa lại bị tháo dỡ?

TẠI SAO CÁC BỨC TƯỢNG MÀ (HẦU NHƯ) KHÔNG CÒN AI QUAN TÂM NỮA LẠI BỊ THÁO DỠ?

Sarah Gensburger[1]
Bức tượng của J. Marion Sims, một bác sĩ phẫu thuật thường được coi là cha đẻ của ngành phụ khoa hiện đại, bi hạ bệ ở Central Park, New York, vào ngày 17 tháng 4 năm 2018. Nhiều tiến bộ y tế của Sims xuất phát từ các thí nghiệm được tiến hành mà không cần gây mê trên những nữ nô lệ da đen. Hình ảnh Spencer Platt / Getty Bắc Mỹ / Hình ảnh Getty qua AFP
Kể từ sự tháo dỡ bức tượng của Edward Colston ở Bristol vào ngày 7 tháng 6, sự hiện diện của những bức tượng trong không gian công cộng đã trở thành một vấn đề truyền thông.
Trong cuộc tranh luận này, cho đến nay. ít nhất là ở Pháp, những nhà khoa học đã lên tiếng chủ yếu là các nhà sử học. Tuy nhiên, xã hội học chính trị về ký ức có khả năng mang lại một cái nhìn tương đối khác về hiện tượng thời sự này. Nó không quan tâm quá nhiều đến những gì cần phải tưởng niệm, hoặc về cách để thực hiện những điều này, mà đến những hiệu ứng xã hội của những lời nhắc nhở công khai về quá khứ trong xã hội đương đại. Nói cách khác, nó thôi thúc ta tự hỏi: tại sao các bức tượng mà (gần như) không ai quan tâm nữa lại bị tháo dỡ?
Print Friendly and PDF

3.8.20

Những bức tượng nói lên điều gì?

NHỮNG BỨC TƯỢNG NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?
Nicolas Barreyre[*]
Tối ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Richmond, thủ đô của bang Virginia, một đám đông treo dây thừng vào chân của một bức tượng lớn bằng đồng cao hơn hai mét và hạ nó khỏi cái bệ của nó. Đây là bức tượng của Jefferson Davis, chủ tịch của Liên Minh Miền Nam (Confédération) trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ - nhóm mười một bang miền nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh chết chóc từ năm 1861 đến 1865 để duy trì chế độ nô lệ bằng mọi giá. Những người biểu tình, với quy mô chưa từng có kể từ Phong trào Dân quyền, được huy động trong phong trào phát sinh trên khắp đất nước sau cái chết hung bạo của George Floyd vì nghẹt thở do một đội cảnh sát tuần tra ở Minneapolis gây ra. Floyd, một người đàn ông da đen khoảng bốn mươi tuổi, đã trở thành biểu tượng của nhiều cái chết của người da đen dưới tay của các cảnh sát mà đa số là người da trắng, nay đã được trang bị quân sự, và gần như không bao giờ bị trừng phạt vì những cái chết này.
Nicolas Barreyre (1975-)
George Floyd (1973-2020)
Tại sao cuộc biểu tình này, cũng như các cuộc biểu tình khác trên khắp đất nước, lại tấn công một bức tượng trăm tuổi trong khi ưu tiên của nó là đòi hỏi một cuộc cải cách sâu sắc của hệ thống cảnh sát Mỹ để xóa bỏ những thành kiến ​​phân biệt chủng tộc mang tính hệ thống? Phân tích trường hợp của Hoa Kỳ ở đây có thể giúp hiểu được vị trí của các công trình kỷ niệm trong không gian công cộng, vai trò của chúng trong đó và đặc biệt là tại sao, trong bối cảnh chính trị nhất định, những bức tượng này lại bắt đầu nói lên nhiều điều. Nếu mỗi quốc gia có lịch sử riêng, nó không bao giờ bị cô lập với các quốc gia khác, nhất là khi nó chia sẻ cùng với các quốc gia này ý nghĩa của những công trình công cộng. Ở Châu Âu cũng vậy, các cuộc tranh luận về các bức tượng đã xuất hiện trở lại và giành được một tầm quan trọng mới trong những tuần gần đây: bức tượng của một thương gia kiếm được nhiều tiền trong việc buôn bán nô lệ bị ném xuống biển ở Bristol ở Anh; các bức tượng của Léopold II, vua của người Bỉ chịu trách nhiệm về một chế độ nô lệ đặc biệt chết người ở Congo vào cuối thế kỷ 19, là mục tiêu và việc tháo dỡ các bức tượng này đang được tiến hành; và cả các bức tượng của Victor Schœlcher, một nhân vật rất khác so với hai nhân vật trên, cũng đã bị tấn công ở Martinique vào ngày 22 tháng 5 năm 2020. Ở đây, trường hợp các bức tượng của Liên Minh Miền Nam ở Mỹ có thể làm sáng tỏ điều này.
Print Friendly and PDF

1.8.20

Không phải định luật nào cũng biểu hiện nguyên nhân một cách hiển nhiên

Định luật và nguyên nhân (A. Virieux-Reymond, 1966)

KHÔNG PHẢI ĐỊNH LUẬT NÀO CŨNG BIỂU HIỆN NGUYÊN NHÂN MỘT CÁCH HIỂN NHIÊN (1966)

Tác giả: Antoinette Virieux Reymond
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

[Auguste] Comte và các nhà thực chứng đã ngăn cấm việc truy tìm nguyên nhân[1]; theo các vị, khoa học chỉ cần khám phá ra những quy luật xác định. Thế nhưng khoa học vẫn bước qua ngăn cấm này, và tìm cách phát hiện, không chỉ loại liên hệ không thay đổi giữa các vật thể (định luật) mà cả những nguyên nhân nữa. Chúng tôi mạn phép nhắc lại ở đây những suy nghĩ của ông Cuvillier[2]: Tôi muốn giải thích vì sao một thanh sắt lại dãn ra khi ta hâm nóng nó chẳng hạn. Nếu nhà vật lý chỉ trả lời tôi bằng định luật về sự dãn nở tuyến tính

l = Io (I + l t)

thì tôi hoàn toàn có quyền nghĩ tới câu nói đùa của Molière*: Đấy, vì vậy mà con gái của ngài bị câm đấy!”[3] Định luật chỉ giải thích cho tôi tại sao thanh sắt đã dài hơn từng ấy milimét, nhưng không hề giải thích cho tôi vì sao nó dài ra. Lời giải thích thật sự sẽ là lời chỉ ra cho tôi rằng sự tăng nhiệt độ đã thay đổi cấu trúc phân tử của thanh sắt như thế nào. Và đấy là một giải thích thuộc trình tự nguyên nhân tìm thấy trong các lý thuyết về cấu trúc của vật chất.
Print Friendly and PDF

31.7.20

Tại sao các trường đại học nên tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sinh thái và khí hậu

TẠI SAO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÊN TUYÊN BỐ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP VỀ SINH THÁI VÀ KHÍ HẬU

Không có thiên nhiên, không có tương lai”. Sinh viên giương cao tấm biển khẩu hiệu trước Quốc hội Châu Âu ở Strasbourg vào ngày 15 tháng 3 năm 2019. Patrick Hertzog/AFP
Các trường đại học tự hào về việc chuẩn bị cho sinh viên của mình một tương lai tươi sáng. Nhưng trước cuộc khủng hoảng khí hậu, nơi các thảm họa, với cường độ và tác động “chưa từng có tiền lệ”, trở thành chuẩn mực, thì sẽ hứa hẹn tương lai nào cho sinh viên chúng ta? Trước sự xuống cấp của môi trường và sự biến mất rất quan trọng của môi trường đa dạng sinh học, các trường đại học và các cơ sở giáo dục khác nên ưu tiên chuẩn bị thích ứng cho sinh viên và nhân viên của mình trước những thời cuộc ngày càng khó khăn.
Biến đổi khí hậu và hủy hoại môi trường ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh đời sống, bao gồm những gì chúng ta cần đến nhiều nhất hoặc những gì chúng ta coi trọng nhất: nước sinh hoạt, thực phẩm, hệ sinh thái, hệ động vật, sự an toàn, nhà ở, năng lượng, giao thông, sức khỏe, các cộng đồng và nền kinh tế. Những nhu cầu cơ bản của rất nhiều người, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất, đang bị đe dọa.
Đối mặt với những cuộc xung đột gây ra bởi sự biến đổi khí hậu, tình trạng di cư ồ ạt, những ảnh hưởng lên sức khỏe, thì những chi phí kinh tế và sự xuống cấp của môi trường là những thách thức vô cùng to lớn. Đơn giản là không có thách thức nào lớn hơn việc đối phó với tình trạng cấp bách về sinh thái và khí hậu: các trường đại học nợ sinh viên của mình trong việc đi đầu giải quyết các vấn đề nói trên.
Print Friendly and PDF

30.7.20

Thống kê đạo đức

THỐNG KÊ ĐẠO ĐỨC


Cụm từ “thống kê đạo đức” xuất hiện trong một tiểu sử tô hồng năm 1829: Statistique morale de la France, ou biographies des hommes remarquables dans tous les genres (Thống kê đạo đức của nước Pháp, hay các tiểu sử tô hồng về những nhân vật lỗi lạc thuộc mọi lĩnh vực). Trong một lá thư ngày 11.11.1831 gởi cho A. Quetelet và trong tác phẩm Essai năm 1833, A. M. Guerry để nghị gọi bằng cụm từ trên việc nghiên cứu xu hướng của các cá nhân từ phía mà các xu hướng này có thể xem xét được. Phía này được đại diện bởi những hiện tượng mà các xu hướng tạo ra: hôn nhân, sinh sản, tội ác và mọi biểu hiện định lượng khác của các ý thức và cảm xúc. Các hiện tượng này được xem là phơi bày một đặc điểm: chúng xuất hiện theo một tần số ít nhiều giống nhau năm này qua năm khác.
Từ đâu có tính từ “đạo đức” đặc trưng cho một quan niệm thống kê được quan niệm như thế? Điều này xuất phát từ yếu tố thứ hai của sự phân loại rốt ráo thể chất/tinh thần (physique/moral) của P.-G.-J. Cabanis trong tác phẩm Rapports du physique et du moral de l’homme de 1796-1805 của ông và có nghĩa là “liên quan đến năng lực tinh thần (facultés morales)”. Sự phân đôi này nằm ở cội nguồn của việc thiết lập lớp các khoa học đạo đức (sciences morales) của Institut de France (Học viện Pháp quốc) năm 1795 và của tổ chức có tên đồng âm (Académie des sciences morales et politiques) năm 1832. Hệ quả là các khoa học đạo đức là một lĩnh vực mà thống kê đạo đức là một thành tố và tính thống nhất của lĩnh vực không được đảm bảo bởi việc nghiên cứu luân lí học (la morale). Mặc dù hai mảng nghiên cứu, tinh thần (moral) và luân lí (morale), cuối cùng chồng lên nhau, thống kê đạo đức không ra đời như là xã hội học của luân lí học.
Print Friendly and PDF