3.10.22

Cuộc chiến ở Ukraine làm thay đổi nền khoa học thế giới theo bảy cách

CUỘC CHIẾN Ở UKRAINE LÀM THAY ĐỔI NỀN KHOA HỌC THẾ GIỚI THEO BẢY CÁCH

Có thể nhận thấy những tác động lên nghiên cứu không chỉ bó hẹp tại Ukraine và Nga.

Nisha Gaind, Alison Abbott, Alexandra Witze, Elizabeth Gibney, Jeff Tollefson, Aisling Irwin & Richard Van Noorden

Những người sơ tán chạy trốn khỏi Irpin, phía tây bắc Kyiv, vào tháng Ba. Ảnh: Dimitar Dilkoff/AFP/Getty

Chỉ trong năm tháng, cuộc chiến của Nga ở Ukraine đã khiến hàng nghìn người thiệt mạng, hàng triệu người phải di dời và phá vỡ địa chính trị và kinh tế toàn cầu. Cuộc chiến cũng đang in dấu lên khoa học. Những tác động nặng nề nhất là tại Ukraine, các nhà nghiên cứu đã chứng kiến ​​các cơ sở của mình bị đánh bom và đang phải đối mặt với biến động kèm những mối nguy cho sinh kế. Ở Nga, các nhà khoa học đang đấu tranh với các cuộc tẩy chay và trừng phạt nhằm đáp trả những hành động của đất nước họ. Rộng hơn, cuộc khủng hoảng tạo ra những rạn nứt về kinh tế và chính trị đã ảnh hưởng đến các nghiên cứu về vật lý, vũ trụ, khoa học khí hậu, an ninh lương thực và năng lượng từ trước đó. Một cuộc xung đột kéo dài có thể thúc đẩy sự điều chỉnh đáng kể của các mô hình hợp tác khoa học.

Dưới đây là bảy cách cuộc chiến đã ảnh hưởng và có thể sẽ thay đổi việc nghiên cứu trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ tới.

Print Friendly and PDF

1.10.22

Đây là lý do vì sao không thể xem trí tuệ nhân tạo là một công cụ đơn thuần

ĐÂY LÀ LÝ DO VÌ SAO KHÔNG THỂ XEM TRÍ TUỆ NHÂN TẠO LÀ MỘT CÔNG CỤ ĐƠN THUẦN

Chừng nào trí tuệ nhân tạo chưa được điều tiết một cách thích đáng, thì không thể xem trí tuệ nhân tạo là một công cụ, bởi vì nó chứa đựng một tầm nhìn thế giới có ý nghĩa quyết định đối với các mối quan hệ xã hội. (Shutterstock)

Tác giả

Sandrine Lambert, nghiên cứu sinh tiến sĩ về nhân học, Đại học Laval

Karine Gentelet, giáo sư và chủ nhiệm Abeona-ENS-OBVIA về công bằng xã hội và trí tuệ nhân tạo, Đại học Quebec ở Outaouais (UQO) trong giai đoạn 2020-2022

Chủ đề về trí tuệ nhân tạo (AI), ngoài những nỗ lực cần thiết trong việc định nghĩa và làm rõ, thường rất phân cực. Một số người xem công nghệ này chứa đầy những cơ hội cho một thế giới và một tương lai tốt đẹp hơn, một số khác thì lại coi AI như là một sự xác thực về việc nhân loại sẽ kết thúc trong cảnh cơ hàn rách rưới, vì thiếu khả năng kiểm soát khi đối mặt với một ảo tưởng mạnh như thế.

Trong số các lập luận bảo vệ tiềm năng của AI, trong khi vẫn thừa nhận những lệch lạc và khả năng phân biệt đối xử, chúng ta thấy ý tưởng này được chia sẻ rộng rãi, cho rằng AI cuối cùng cũng chỉ là một công cụ. Điều này ngụ ý rằng tác động, phạm vi và ảnh hưởng của công nghệ này sẽ phụ thuộc vào những cách chúng ta sử dụng nó.

Nhưng liệu có đơn giản như thế không? Không hẳn.

Trong vai trò là những nhà nữ nghiên cứu về các tác động xã hội của trí tuệ nhân tạo và đặc biệt về công bằng xã hội, chúng tôi muốn làm sáng tỏ vấn đề này.

Print Friendly and PDF

29.9.22

Posner Richard A.: Economic Analysis of Law

Posner Richard A.

ECONOMIC ANALYSIS OF LAW

(Little Brown & Co., 1973; 5th ed., Aspen Law & Business. 1998)

Richard Posner (1939-)

Richard A. Posner là tác giả của hơn 20 cuốn sách và hơn 200 bài viết. Tốt nghiệp đại học Yale (1959) và Harvard (1962), ông bắt đầu sự nghiệp như là thư kí cho thẩm phán Brenman ở Tối cao Pháp viện Hoa Kì, trước khi được bổ nhiệm làm phụ tá cho một thành viên của Federal Trade Commission (Uỷ ban thương mại liên bang). Kể từ năm 1981, ông là thẩm phán tại Toà phúc thẩm liên bang, vùng thứ sáu. Là một nhà thực hành luật pháp, ông cũng có một sự nghiệp hàn lâm nổi bật, đưa ông từ Standford Law School đến đại học Chicago. Đặc biệt chính trong đại học này mà ông đã sáng lập tạp chí Journal of Legal Studies (1972).

Các công trình của Posner đề cập những chủ đề rất đa dạng như luật pháp và văn chương, triết học chính trị hay lịch sử luật pháp. Tuy nhiên, luật gia lỗi lạc này được giới hàn lâm biết đến trước hết vì những công trình của ông về kinh tế luật mà ta có thể định nghĩa như việc áp dụng những công cụ phân tích và tiêu chí đánh giá của các nhà kinh tế vào việc giải thích và đánh giá những quy tắc pháp lí. Với việc công bố Economic Analysis of Law năm 1973, thật vậy kinh tế luật tự khẳng định như một trào lưu trí thức thống trị trong học thuyết pháp luật Mĩ. Với tác phẩm này, những lập luận của lập luận kinh tế được triển khai trong những lĩnh vực đa dạng nhất: sở hữu, hợp đồng, trách nhiệm dân sự, luật hình sự, tổ chức hệ thống pháp luật, luật lao động, luật hiến pháp, ... Từ nay, kinh tế luật cung cấp cho các luật gia một phương pháp tổng quát nhằm suy nghĩ về chức năng của các định chế pháp luật. Tuy nhiên cách đặt vấn đề do Posner đề xuất còn đi xa hơn vì ông bảo vệ luận điểm về tính hiệu quả kinh tế của Common Law (thông luật). Luận điểm này muốn rằng Common Law phải được giải thích (không hoàn toàn) rõ, như một hệ thống cho phép tối đa hoá của cải của xã hội (Posner, 1998, trang 27), nghĩa là những thẩm phán của các toà án anglo-saxon ra những quyết định như thể là mục tiêu ngầm ẩn của họ là hiệu quả kinh tế. Quan điểm này có lẽ là cội nguồn của sự đứt gãy của phong trào kinh tế luật trong những năm 1980, đặc biệt khi một số triết gia về luật pháp bắt đầu bàn luận về hiệu lực của ý niệm hiệu quả như là mục tiêu của những quy tắc pháp luật (Dworkin, 1980).

Print Friendly and PDF

27.9.22

Sau sự kiện Roe, phụ nữ ở Mỹ đúng khi lo ngại về giám sát kỹ thuật số – và đó không chỉ là các ứng dụng theo dõi chu kỳ kinh nguyệt

SAU SỰ KIỆN ROE, PHỤ NỮ Ở MỸ ĐÚNG KHI LO NGẠI VỀ GIÁM SÁT KỸ THUẬT SỐ – VÀ ĐÓ KHÔNG CHỈ LÀ CÁC ỨNG DỤNG THEO DÕI CHU KỲ KINH NGUYỆT

Ảnh: Shutterstock
Việc đảo ngược vụ Roe kiện Wade của tòa án tối cao Hoa Kỳ vào tuần trước là bước ngoặt quan trọng trong chính trị Hoa Kỳ. Phán quyết rút lại sự bảo vệ của hiến pháp đối với quyền phá thai và đẩy vấn đề này cho các bang, khoảng một nửa trong số đó dự kiến ​​sẽ cấm phá thai.

Không giống như lần gần đây nhất, vào khoảng nửa thế kỷ trước, khi phá thai cũng là bất hợp pháp ở Hoa Kỳ, chúng ta giờ đây sống trong kỷ nguyên giám sát kỹ thuật số tràn lan nhờ vào internet và điện thoại di động. Dữ liệu kỹ thuật số có thể được sử dụng để xác định, theo dõi và buộc tội những phụ nữ tìm cách phá thai.

Print Friendly and PDF

25.9.22

Những nhận xét đậm tính phê phán về triết lý giáo dục của Paulo Freire

NHỮNG NHẬN XÉT ĐẬM TÍNH PHÊ PHÁN VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA PAULO FREIRE

M. Agus Nuryatno

Khoa Tarbiyah[*] và Giảng dạy UIN Sunan Kalijaga Yogyakarta

(Thư điện tử: agusnuryatno@yahoo.com; HP. 081804328865)

Tóm tắt: Telaah Kritis terhadap Filsafat Pendidikan Paulo Freire. Artikel ini membahas filsafat pendidikan Paulo Freire berbasiskan riset kepustakaan. Pembahasan dibagi ke dalam tiga bagian: (a) filsafat tentang manusia; (b) arkeologi kesadaran manusia; dan (c) politik pendidikan. Filsafat manusia Paulo Freire dapat dikategorikan sebagai humanisme Marxis-Kristen, karena berbasiskan pada gagasan-gagasan yang berkembang dalam diskursus Marxis dan Kristen. Arkeologi kesadaran manusia yang dikonseptualisasi Freire merupakan sebuah studi tentang bentuk fundamental kesadaran manusia, dan bentuk-bentuk ini dapat dilihat melalui cara manusia memahami dan menerima realitas eksistensial yang melingkupinya, yaitu apakah mereka melihatnya secara magis, naif, atau kritis. Filsafat pendidikan Freire juga didasarkan pada asumsi bahwa pendidikan itu politik. Dengan bahasa lain, semua aktivitas pendidikan itu memiliki implikasi, kualitas, dan konsekuensi politis, karena semuanya berpengaruh terhadap subjektivitas manusia.

Các từ khóa: filsafat pendidikan [triết lý giáo dục], filsafat manusia [triết lý về con người], arkeologi kesadaran manusia [khảo cổ học về ý thức con người], politik pendidikan [tính chính trị trong giáo dục]

LỜI DẪN NHẬP

Thư mục của Paulo Freire đã ngày càng tăng dần ở hai thập kỷ qua cùng với việc quan tâm tới sự tái phát kiến triết lý giáo dục của ông trong những bối cảnh khác nhau. Tổng tập các văn bản của ông có thể chia thành một vài thể loại (Nuryatno, 2008: 35-37) như sau; thứ nhất, các văn bản do chính Freire viết; thứ hai, các văn bản do ông viết với sự cộng tác của những tác gia khác; thứ ba, các văn bản được viết bởi các học giả chỉ thảo luận về cuộc đời và tư tưởng của ông; thứ tư, các văn bản được viết để so sánh tư tưởng của ông với các vị học giả khác; và thứ năm, các văn bản được viết để minh chứng cho sức ảnh hưởng của Freire trong các bối cảnh xã hội nhất định, hoặc trong một nỗ lực áp dụng lý thuyết hay phương pháp luận của ông ở những bối cảnh xã hội khác nhau.

Freire “được coi như là một trong những nhà tư tưởng khai phóng quan trọng bậc nhất (nếu không nói là quan trọng nhất) của thế kỷ XX” (Peter Robert, 1999: 35). Người ta đã cảm nhận được sức ảnh hưởng của ông trong cộng đồng người Maori (tộc người bản xứ ở New Zealand) kể từ thập niên 1970, khi họ bắt đầu nhận ra được tình trạng bị áp bức và bị bóc lột của mình, rồi họ bắt đầu đặt ra những câu hỏi sâu sắc và rất hệ trọng về nền chính trị thống trị. Họ cảm nhận rằng Freire không chỉ mang lại cho họ một thứ ngôn ngữ để bày tỏ tiếng lòng của họ, mà còn cung cấp nhiều ý tưởng và chiến lược để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống khi họ nhận ra rằng họ đang là những người bị đô hộ ngay trên chính mảnh đất quê hương. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tộc người Maori với Freire không phải là theo đường tuyến tính, tức không phải theo nghĩa là các tác phẩm của Freire đã cung cấp một bản kế hoạch chi tiết cho sự khai phóng. Mà thay vào đó, họ chỉ tìm đến Freire sau khi đã tiến hành các cuộc kháng cự và đấu tranh. Hiện nay, các tác phẩm của Freire đã củng cố sự quyết tâm của họ và đem lại cho họ định hướng, sự khẳng định và mang lại tính chính danh [validity] cho hành động của họ.

Print Friendly and PDF

23.9.22

Vì sao Ngân hàng Trung ương Châu Âu muốn số hóa đồng euro

VÌ SAO NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG CHÂU ÂU MUỐN SỐ HÓA ĐỒNG EURO

Tác giả: Marc-Olivier Strauss-Kahn

Tổng giám đốc danh dự Ngân hàng Pháp quốc (BDF)

[Bài viết này là tổng hợp một phân tích chuyên sâu được đăng trên variances.eu, tạp chí dành cho hội cựu sinh viên Trường ENSAE Paris. Để đọc bài viết gốc, xin nhấp vào đây.]

Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) dự kiến sẽ công bố, vào giữa năm 2021, một dự án về đồng euro kỹ thuật số, sẽ được hiện thực hóa từ nay trong 5 năm tới. Hoa Kỳ có thể theo sau, nhưng muộn hơn, với đồng “đô la kỹ thuật số” của họ. Dự án Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã làm tốn rất nhiều giấy mực. Nói một cách dễ hiểu: đồng euro kỹ thuật số này là gì, vì sao nó lại được ECB quan tâm và cách triển khai nó như thế nào?

Tiền kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương (MNBC) là gì?

Xin nhắc lại, duy chỉ các loại tiền vật chất – tiền xu và tiền giấy được gọi là tiền “tín dụng” (tức là được tín nhiệm), do một Nhà nước có chủ quyền phát hành và có mệnh giá hợp pháp trong một nước: các loại tiền đó không thể bị từ chối thanh toán ở nước đó. Cái gọi là “bút tệ” (được hình thành một phần từ tiền gửi ngân hàng) do các ngân hàng tạo ra, bị giám sát và được điều tiết, và có thể được chuyển nhượng qua các phương tiện điện tử. Hai hình thức tiền tệ này tiền tín dụng và bút tệ cùng thực thi ba chức năng của tiền tệ: đơn vị hạch toán, phương tiện thanh toán và dự trữ giá trị (miễn là lạm phát vẫn ở mức thấp).

Print Friendly and PDF

21.9.22

Sự gia tăng nghiên cứu về bất bình đẳng: Liệu mở rộng các lĩnh vực có giúp ngăn chặn bất công?

SỰ GIA TĂNG NGHIÊN CỨU VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG: LIỆU MỞ RỘNG CÁC LĨNH VỰC CÓ GIÚP NGĂN CHẶN BẤT CÔNG?

Chuyên môn sâu rộng và sự tham gia trực tiếp của những người bị ảnh hưởng sẽ giúp nghiên cứu về bất bình đẳng có ý nghĩa hơn.

Virginia Gewin

Sasha Henriques lo lắng rằng dữ liệu chỉ dẫn cho các nhà tư vấn di truyền không mang tính đại diện. Ảnh: Ekow Oliver

Vida Maralani bắt đầu sự nghiệp bằng việc nghiên cứu xem giáo dục trên thực tế có phải là tấm vé đến với sự tiến bộ kinh tế xã hội và giảm bất bình đẳng như cô được dạy hay không. Maralani, giám đốc lâm thời của Trung tâm Nghiên cứu Bất bình đẳng tại Đại học Cornell ở Ithaca, New York, cho biết: “Tôi đã đánh giá một số chính sách xã hội tốn kém nhất mà chính phủ từng tài trợ để ngăn chặn tình trạng bỏ học.” Tuy nhiên, cô nhận thấy rằng các chính sách nhắm vào trẻ em trong các gia đình có thu nhập thấp có nguy cơ bỏ học có hiệu quả hữu hạn. “Những đứa trẻ này không di chuyển ra khỏi khu xóm mình ở và mẹ chúng không có thêm nguồn lực nào so với trước đây,” cô nói. "Những bất lợi bao quanh cộng đồng của họ không thay đổi."

Print Friendly and PDF

19.9.22

Giới thiệu sách hay: Kinh tế Nhật Bản - Giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973

Giới thiệu sách hay

KINH TẾ NHẬT BẢN - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THẦN KỲ 1955-1973[*]

Hà Dương Tường

Trong một bài viết mang nhan đề “4.000 ngày thay đổi Việt Nam” trên báo Tuổi Trẻ ngày 26.1.2020, tác giả Trần Văn Thọ đã cho đóng khung ở cuối bài nhận xét này:

Trong thời cận đại, những nước thành công trong việc rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước hầu như đều trải qua một giai đoạn tăng trưởng cao (trên dưới 10%) trong một thời gian dài. Điển hình là Nhật Bản 18 năm (1955 - 1973), Hàn Quốc 13 năm (1982 - 1995) và Trung Quốc gần 30 năm (1983 - 2011). Việt Nam chưa bao giờ có một giai đoạn phát triển cao như vậy.

Cuốn sách Kinh tế Nhật Bản - Giai đoạn phát triển thần kỳ 1955-1973 tập trung trình bày điển hình thứ nhất, “để cung cấp một tham khảo cho những bàn luận về mục tiêu năm 2045 của Việt Nam” (Lời nói đầu sách), “bàn luận” mà tác giả đã phác hoạ vài nét trong bài viết nói trên, đặt mục tiêu là “làm thay đổi Việt Nam, thay đổi diện mạo Việt Nam trên trường quốc tế và thay đổi hẳn cuộc sống của người Việt Nam cả chất và lượng” trong 4.000 ngày, từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2030, một mục tiêu theo ông là có thể thực hiện được, nếu có chiến lược, chính sách đúng đắn, kèm theo là những cải cách cần thiết. Vì “nếu có khát vọng trở thành đất nước giàu mạnh để thực hiện các cải cách cần thiết và các chính sách thích hợp” thì, theo ông, thập niên 2020 sẽ là giai đoạn tăng trưởng cao của Việt Nam, “kết quả có thể lớn hơn dự tưởng” khi các nguồn lực trong và ngoài nước được giải phóng, được tận dụng.

Print Friendly and PDF

17.9.22

Phẩm chất phải chăng là điều kiện cho sự hài hoà hoá thống kê châu Âu

PHẨM CHẤT PHẢI CHĂNG LÀ ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÀI HOÀ HOÁ THỐNG KÊ CHÂU ÂU[1]

Alain Desrosières

Alain Desrosières (1940-2013)

Các cuộc tranh luận gần đây giữa các nhà thống kê châu Âu về việc hài hoà hoá, tích hợp và phẩm chất các thống kê xã hội thường mang một màu sắc chuẩn tắc: nên tiến hành như thế nào? Đối với những chuyên gia có trách nhiệm xây dựng và hài hoà hoá khung thống kê châu Âu, cách nhìn này là điều bình thường. Tuy nhiên, bất lợi của nó là có xu hướng tẩy xoá những căng thẳng và mâu thuẫn cố hữu của một hoạt động khoa học, nhắm đến việc sản xuất những kiến thức, đồng thời lại có tính xã hội nhằm sản sinh một ngôn ngữ chung làm điểm tựa cho cuộc tranh luận xã hội. Đặc thù của thống kê công cộng (so với những vũ trụ khác như khoa học và hành chính) là nối kết chặt chẽ hai chiều kích này, mỗi chiều kích lấy chiều kích kia làm chỗ dựa. Tuy nhiên sẽ là phong phú khi phân biệt hai chiều kích này, về mặt phân tích và lịch sử, để kiến giải nhiều cuộc tranh luận về việc hài hoà hoá (các phương pháp và sản phẩm) hay về phẩm chất (theo quan điểm của nhà thống kê, hay của người sử dụng là “khách hàng”) các thống kê trên. Một cái khung kiến giải như vậy được đề xuất dưới đây, trước hết từ tiền thân của nó là hệ thống tài khoản quốc gia, rồi nhân những tranh luận gần đây về việc xây dựng và sử dụng các thống kê xã hội châu Âu, bằng cách xem xét những gì có thể chuyển vị từ trường hợp đầu sang trường hợp sau, với những hệ quả trên vấn đề phẩm chất của các sản phẩm thống kê.

Những thao tác đo lường kéo theo những đòi hỏi kĩ thuật đặc thù, so sánh được với những yêu cầu của khoa đo lường cổ điển trong các khoa học tự nhiên, được bổ sung, trong trường hợp của những đại lượng kinh tế và xã hội, bằng những quy tắc của phép tính xác suất, nếu các phép đo này được tiến hành trên các mẫu. Những đòi hỏi và quy tắc này hợp thành “phương pháp luận thống kê”, một thể những kĩ thuật được hình thức hoá, tự động hoá và giảng dạy trong các trường thống kê. Ngược lại, những cách sử dụng các phép đo trên kéo theo những đòi hỏi khác, về mặt ngữ nghĩa và thực tiễn, gắn liền với những mạng lập luận khoa học hay chính trị có dành chỗ cho các phép đo này. Một cách trình bày chuẩn tắc việc xây dựng một hệ thống thống kê xã hội nhấn mạnh một cách tự phát đến “sự hội tụ tất yếu” của hai kiểu đòi hỏi này, được trình bày là bổ sung cho nhau, vì tính đáng tin (xã hội) của các phép đo này chỉ có thể dựa trên việc triển khai một phương pháp luận tốt.

Tuy nhiên, trong thực hành chuyên nghiệp hằng ngày, các nhà thống kê thường vấp phải sự căng thẳng giữa hai đòi hỏi trên mà họ phải khéo léo kết hợp, cho dù những bài viết của họ có xu hướng tẩy xoá vấn đề, vì các công cụ và ngôn ngữ cần thiết để thể hiện vấn đề không được hình thức hoá và giảng dạy, và cũng vì họ ngại những hiểu lầm. Khi mở chiếc hộp Pandora này ra, liệu có nguy cơ làm suy yếu một thiết kế vốn đã là tốn kém mà tính chính đáng xã hội cần được tái khẳng định liên tục, đặc biệt trong những thời kì siết chặt ngân sách? Nhưng khi không hệ thống hoá việc trình bày các vấn đề này, vốn là những vấn đề bình thường và cố hữu của chính ngay bản chất của thông tin thống kê, sẽ có nguy cơ là ta phải xử lí lần lượt tuỳ theo từng trường hợp một, một cách ngây thơ và “tức thì” nhân những cuộc tranh cãi đặt lại vấn đề phép đo này hay phép đo khác: chỉ số giá cả, thất nghiệp, nghèo khó hay thâm hụt công cộng.

Print Friendly and PDF

15.9.22

Sống trong một thành phố “dữ liệu hoá”

SỐNG TRONG MỘT THÀNH PHỐ “DỮ LIỆU HÓA”

Các tác giả: Hallam Stevens[*]Manoj Harjani[**]

Tại Singapore, những công nghệ “thông minh” đa dạng đã được triển khai để chống lại đại dịch: nước thải bị giám sát, đã thiết lập một hệ thống thiết bị có khả năng phân tích hơi thở để dò tìm và phát hiện sự hiện hiện của virus… Mối nguy là những công nghệ này có khả năng thiết lập một cách bền vững một sự giám sát sinh học, đòi hỏi nam nữ cư dân phải thường xuyên tuân thủ những quy phạm về y tế công cộng.

Singapore là một “thành phố thông minh”, một thành phố thông minh và được liên kết dữ liệu. Những dữ liệu về số hành khách được sử dụng để giảm tải các xe buýt, các dự án mới về phát triển nhà ở của nhà nước được thiết kế với những cảm biến nhằm hỗ trợ người cao tuổi, và từ nay đang có nhiều dịch vụ công trực tuyến. Dịch Covid-19 chỉ đẩy nhanh hơn việc phát triển và tiếp nhận các công nghệ số. Năm 2020, Institute for Management Development (IMD) – Viện phát triển quản lý – đã đề cử Singapore là “thành phố thông minh nhất thế giới”.

Tất nhiên, Singapore không phải là thành phố duy nhất muốn biến đổi không gian đô thị của mình thành một trung tâm (hub) về dò tìm, giám sát và số hóa. Thành phố thông minh là một hiện tượng toàn cầu. Ngoài sự xuất hiện của Zurich và Helsinki trong danh sách do Viện phát triển quản lý (IMD) thiết lập, danh sách 50 thành phố hàng đầu còn bao gồm các thành phố ở Trung Đông, ở Mỹ, Úc và châu Âu. Người ta ước tính rằng việc “thông minh hóa” các thành phố lớn này sẽ làm cho cư dân của chúng giàu có và năng động hơn, đồng thời làm cho thương mại hiệu quả hơn và chính phủ đáp ứng nhanh chóng hơn.

Nhưng Singapore cho ta cơ hội quan sát một thành phố thông minh đang hoạt động mạnh mẽ. Thật vậy, quốc gia-thành phố này có mặt trong số những thành phố tiến xa nhất trên con đường này – đến độ nó được xem như là “một phòng thí nghiệm sống” về thử nghiệm các công nghệ và những chính sách riêng có của thành phố thông minh. Quả vậy, trên thành phố đảo này, ta có thể bắt đầu nhận biết một vài hiệu ứng mà thành phố thông minh có thể gây ra cho các cá nhân và cộng đồng.

Print Friendly and PDF