THỜI ĐẠI THÁI CỰC 1914 –
1991 (16)
THE AGE OF EXTREMES
Tác giả: Eric J. Hobsbawm; Người dịch: Nguyễn
Ngọc Giao
PTKT: Kể từ tháng 8.2021, chúng tôi lần lượt đăng tiếp các chương
còn lại của tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991. Để có một cái nhìn chung
giới thiệu tác giả và tác phẩm, mời bạn đọc lại bài Nhà sử học của
hai thế kỷ.
MỤC LỤC
Lời tựa và Cảm tạ
Lời tựa bản tiếng
Pháp
Hình
ảnh minh họa
Chú
thích các hình ảnh
Thế kỉ nhìn từ
đường chim bay
Phần thứ nhất - THỜI ĐẠI TAI HỌA
chương 1 Thời đại chiến tranh toàn diện
chương 2 Cách mạng thế giới
chương 3 Dưới đáy vực thẳm kinh tế
chương 4 Sự suy sụp của chủ nghĩa liberal
chương 5 Chống kẻ thù chung
chương 6 Nghệ thuật, 1915-1945
chương 7 Sự cáo chung của các Đế chế
.jpg) |
| Eric J. Hobsbawm (1917-2012) |
Phần thứ hai - THỜI ĐẠI HOÀNG KIM
chương 8 Chiến tranh Lạnh
chương 9 Thời đại Hoàng kim
chương 10 Cách mạng xã hội, 1945-1990
chương 11 Cách mạng văn hóa
chương 12 Thế giới thứ Ba
chương 13 “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”
Phần thứ ba: SỤP ĐỔ
chương 14 Những thập niên Khủng hoảng
chương 15 Thế giới thứ Ba và cách mạng
chương
16 Sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
chương
17 Tiền phong hấp hối: nghệ thuật sau 1950
chương
18 Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành
khoa học tự nhiên
chương
19 Tiến tới thiên niên kỉ mới
* * *
Phần thứ ba
SỤP
ĐỔ
Chương 16
SỰ CÁO CHUNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
“Sức khỏe của đất nước này [nước Nga
cách mạng] cần một điều kiện là không hình thành một thứ chợ đen về quyền lực
(như bản thân Giáo hội đã sa vào cái nạn này). Nếu quyền lực và tiền bạc kết
hợp theo kiểu châu Âu cũng thâm nhập vào nước Nga, thì nước sẽ không mất, đảng có
lẽ cũng sẽ còn, nhưng chủ nghĩa cộng sản sẽ tiêu ma ở Nga”.
Walter BENJAMIN, (1979, tr. 195-6)
“Một xác tín chính thức duy nhất
không còn là kim chỉ nam duy nhất hướng dẫn hành động nữa. Hơn là một hệ tư
tưởng, có một thứ hỗn hợp cung cách suy nghĩ và khuôn khổ quy chiếu, pha trộn và
chung sống với nhau, không những trong xã hội mà trong cả nội bộ Đảng và nội bộ
lãnh đạo […]. “Chủ nghĩa Mác-Lê” cứng nhắc và pháp quy chỉ còn trong mỹ từ
diễn văn chứ không đáp ứng được những nhu cầu thực sự của chế độ”.
M. LEWIN, Kerblay
(1983, tr. XXVI)
“Chìa khóa của hiện đại hóa là
phát triển khoa học và kĩ thuật. Cứ ngồi mà lải nhải thì cương lĩnh hiện đại
hóa của ta sẽ chẳng đi tới đâu; chúng ta cần tri thức và chuyên gia… Thế mà
ngày nay xem ra Trung Quốc chậm tới 20 năm so với các nước phát triển về mặt khoa
học, kĩ thuật và giáo dục… Ngay từ thời Minh Trị, người Nhật đã hết sức cố gắng
trong các lĩnh vực này. Cuộc Phục hưng Minh Trị có thể nói là một đợt hiện đại
hóa do giai cấp tư sản Nhật Bản mới ra đời thực hiện. Là những người vô sản, chúng
ta cần phải, chúng ta có khả năng, làm tốt hơn thế”.
ĐẶNG Tiểu Bình,
Tôn trọng tri thức, tôn trọng chuyên gia (1977)
I
Trong
những năm 1970, có một nước XHCN rất lo lắng về sự lạc hậu tương đối của mình về
mặt kinh tế, vì ở ngay cạnh Nhật Bản, thành tựu ngoạn mục nhất của các nước tư
bản. Không thể coi chế độ cộng sản Trung Quốc đơn thuần là một biến tướng của
chế độ cộng sản Liên Xô, lại càng không thể coi đó là một nhân tố trong hệ
thống chư hầu của Liên Xô. Trước hết là vì chủ nghĩa cộng sản đã thắng lợi ở
một nước đông dân hơn hẳn Liên Xô, cũng như hơn mọi nước trên thế giới. Mặc dù
thống kê dân số Trung Quốc không có gì chắc chắn, song có thể khẳng định cứ năm
người sống trên mặt đất thì có một người ở CHND Trung Hoa. (Lại có cả một khối
người Hoa khá đông ở Đông Á và Đông Nam Á). Hơn nữa, đứng về mặt dân tộc, Trung
Hoa là một nước thuần nhất hơn phần đông các nước khác (người Hán chiếm gần 94%
dân số); không những thế, có lẽ từ ít nhất 2.000 năm nay, đó là một thực thể
chính trị thống nhất và duy nhất, dù đã kinh qua những thời kỳ rối ren. Lại
nữa, trong phần lớn thời gian 2.000 năm ấy, Đế chế Trung Hoa, và có lẽ phần
đông những người dân Trung Hoa có một ý niệm nào đó về vấn đề này, đều nghĩ
rằng Trung Quốc là trung tâm, là mô hình của nền văn minh thế giới. Ngoại trừ
một vài biệt lệ nhỏ, tất cả những nước khác có chế độ cộng sản, kể cả Liên Xô,
đều là những nước lạc hậu và đứng ngoài lề về mặt văn hóa, và họ tự coi như vậy
khi so sánh với bất luận một trung tâm văn hóa tiên tiến và mẫu mực nào. Một triệu
chứng rất hiển lộ của mặc cảm tự ti này là việc Liên Xô thời Stalin nói rất
hăng là không hề lệ thuộc phương Tây về trí tuệ và công nghệ, khăng khăng nói
rằng tất cả những phát minh lớn, từ điện thoại tới hàng không, đều là những
phát minh bản địa.