Hiển thị các bài đăng có nhãn “Studies”. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn “Studies”. Hiển thị tất cả bài đăng

16.7.24

Thuyết hậu thực dân: một ngõ cụt về mặt khái niệm cần phải tra cứu?

THUYẾT HẬU THỰC DÂN: MỘT NGÕ CỤT VỀ MẶT KHÁI NIỆM CẦN PHẢI ĐƯỢC TRA CỨU?

Etienne Huyghe

Nghiên cứu sinh tiến sĩ về Quan hệ quốc tế tại Đại học Paris 1 Panthéon Sorbonne

Một bức tranh gốm có thể nhìn thấy tại số 10 đường Petits-Carreaux, Paris, một trong những bằng chứng cuối cùng của Paris từ thời bành trướng thuộc địa của Pháp, được xếp hạng Di tích lịch sử từ năm 1984, chụp ảnh ngày 17/6/2020, còn mang dấu vết của sự phá hoại. Anne-Christine Poujoulat/AFP

Thuyết hậu thực dân, xuất hiện vào cuối những năm 1970, hiện nay là một trường phái tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn trong giới học thuật Pháp và quốc tế.

Các nghiên cứu được thực hiện trong trường của thuyết hậu thực dân tập trung sự phân tích vào những tác động trong quá khứ và hiện tại của sự thống trị văn hóa và tâm lí đối với các xã hội và các dân tộc thuộc địa trước đây. Các công trình tự nhận thuộc trường phái này, hoặc sử dụng các khái niệm bắt nguồn từ nó, đã tăng lên trong những năm gần đây, trong khi các tiền đề lý thuyết nền tảng của chúng không phải lúc nào cũng bị tra vấn.

Tuy nhiên, hệ hình hậu thực dân vượt xa không gian đại học đơn thuần và hiện nay xuất hiện trong cuộc tranh luận chính trị, định hướng, một cách ít nhiều có ý thức, tiến trình lấy các quyết định công cộng trong không gian quốc gia và quốc tế. Mặc dù một số trong các công trình này đã có thể đưa ra một cái nhìn mới mẻ và phong phú về những biểu tượng kéo dài của chủ nghĩa thực dân, nhưng ngày nay cần phải có một cái nhìn phê phán. Bởi vì khi bản chất hóa các nhóm xã hội được nghiên cứu, khi ít chú ý đến quỹ đạo lịch sử trước đây và độc đáo của các quốc gia được nghiên cứu, và khi bỏ qua những chuyển đổi cơ bản đang xảy ra trong hệ thống quốc tế đương đại, hệ hình hậu thực dân giờ đây có nguy cơ biến thành một lối mòn thực sự về mặt khái niệm, gây hại cho sự hiểu biết về các động năng xã hội hiện tại, ở Pháp và nước ngoài. Sáu mươi năm sau khi các nước châu Phi trở thành độc lập, một lộ trình lý thuyết và thực tiễn mới phải được đề xuất.

Print Friendly and PDF

26.9.21

Các nghiên cứu hạ cấp – Trở lại các nguyên tắc sáng lập của một dự án biên soạn lịch sử về Ấn Độ thuộc địa

CÁC NGHIÊN CỨU HẠ CẤP (SUBALTERN STUDIES)

Trở lại các nguyên tắc sáng lập của một dự án biên soạn lịch sử về Ấn Độ thuộc địa

Isabelle MERLE[*]

Isabelle Merle (1961-)

GENÈSES là một tạp chí khoa học xã hội và lịch sử xuất bản các bài báo của các nhà xã hội học, sử học, khoa học chính trị, kinh tế học, luật học và nhân học. Mục đích của Genèses là sử dụng phân tích lịch sử để làm sáng tỏ các cuộc tranh luận hiện nay. Nó cũng tập trung vào lịch sử của khoa học và khoa học xã hội, nguồn gốc và sự phát triển của ranh giới giữa các khoa học, của các đối tượng và các phương pháp. Nó mang tính liên ngành và quốc tế. Các Sổ Tay mới của Genèses nhằm mục đích làm cho các trang đánh giá của tạp chí trở nên dễ tiếp cận hơn và năng động hơn.

********************************************************

Dù chỉ mới được du nhập vào Pháp, trào lưu biên soạn lịch sử của bộ Subaltern Studies ở Ấn Độ đã từng có một sự phát triển đáng ca ngợi trong hai mươi năm vừa qua, trước hết là ở Ấn Độ và sau đó trong thế giới của các đại học Mỹ, Úc và Canada và cả đến một số nước của Phương Nam, đặc biệt ở Nam Mỹ[1]. Nay sự tương phản thật là rõ ràng giữa số lượng lớn những tài liệu tiếng Anh mà nó đã khơi gợi, của những người ủng hộ nó cũng như những người phê phán nó, và sự “không tiếp nhận” nó ở Pháp.

Roland Lardinois (1948-)

Cũng như nhà Ấn Độ học Roland Lardinois đã ghi nhận trong ngày đầu tiên của hội thảo về vấn đề này được Trung Tâm Nghiên Cứu Về Ấn Độ và Nam Á của Học Viện Nghiên Cứu Cao Cấp về Khoa Học Xã Hội/Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales tổ chức vào tháng 12 năm 2002, các Subaltern Studies đã bị giam hãm rất lâu trong không gian thu hẹp của những cuộc thảo luận kín giữa các nhà nghiên cứu chuyên về Ấn Độ. Ông đã nhắc lại rằng ông đã cố gắng du nhập các Subaltern Studies vào những năm 1980 khi dịch bài dẫn nhập của cuốn Những khía cạnh cơ bản của các cuộc nổi dậy của nông dân ở Ấn Độ thuộc địa/Elementary Aspects of Peasant Insurgency in Colonial India của Ranajit Guha, người sáng lập dự án này[2] nhưng đã không gây được tiếng vang nào[3]. Đến năm 1999, nỗ lực này được nhà Phi Châu học Mamadou Diouf tiếp nối khi dịch và tập hợp vài bài mới trong cuốn L’historiographie indienne en débat. Colonialisme, nationalisme et sociétés postcoloniales/Tranh luận về thuật biên soạn lịch sử Ấn Độ. Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc và các xã hội hậu thực dân[4]. Hai năm sau, trong một số đặc biệt của Tạp chí L’Homme dành cho “Intellectuels en diasporas de l’Asie du Sud/Các trí thức vùng Nam Á sống ở các cộng đồng hải ngoại”, Jacques Pouchepadass đã viết một dẫn nhập thuật lại những tiến hóa của trào lưu biên soạn lịch sử này từ lúc khởi nguồn[5].

Print Friendly and PDF

29.8.21

Nghiên cứu hạ cấp hay sự phê phán hậu thực dân tính hiện đại


NGHIÊN CỨU HẠ CẤP HAY SỰ PHÊ PHÁN HẬU THỰC DÂN TÍNH HIỆN ĐẠI

Jacques POUCHEPADASS[i]

Ghi chú của người dịch: Trong hai bài trước đây về các trào lưu hậu thực dân và hậu hiện đại được đăng trên Phân Tích Kinh Tế [Nghiên cứu hậu thực dân/Post Colonial Studies và nghiên cứu thuộc địa/Colonial Studies: Thách thức và tranh luậnPhỏng vấn Thomas Brisson: Sự phê phán hậu thực dân Phương Tây được tiến hành ngay từ trung tâm của Phương Tây], người dịch đã dùng cụm từ Nghiên cứu thứ yếu để dịch từ Subaltern Studies. Nhưng trong bài này, người dịch đã dùng Nghiên Cứu Hạ Cấp vì thấy từ Hạ Cấp phù hợp hơn với ý nghĩa của từ Subaltern (thuộc hạ, cấp dưới). Mong các độc giả thông cảm cho sự điều chỉnh này và hy vọng sẽ tiếp tục đóng góp để bản dịch được hoàn chỉnh hơn. Xin đa tạ.

Ranajit Guha (1922-)

NGHIÊN CỨU HẠ CẤP (Subaltern Studies) là một bộ sách tập thể do NXB Oxford University Press xuất bản từ năm 1982, ban đầu chỉ tính bao gồm ba tập, nay đã lên đến mười tập. Các tập mang phụ đề là Bài viết về Lịch Sử và Xã Hội Nam Á. Sự thành công quốc tế của bộ sách, được các cuộc tranh luận lý thuyết và phương pháp luận mà nó khơi dậy nuôi dưỡng trong giới nghiên cứu khoa học xã hội, trước hết là ở Ấn Độ, sau đến các nước anglo-saxon thật là đáng khen đối với một bộ tuyển tập chuyên khảo như vậy. Mỗi tập đã được tái bản nhiều lần và một bộ khổ sách bỏ túi, được đóng gói bằng các tông, bao gồm cả mười tập đã được xuất bản mới đây. Tập I đến VI xuất bản từ năm 1982 đến 1986 là do nhà sử học bengali Ranajit Guha (sinh năm 1923), người sáng lập, tạo cảm hứng và sinh khí cho tập thể ban biên tập gồm sáu rồi mười người, làm chủ biên[1]. Định hướng tri thức ban đầu vừa mang tính lý thuyết và cả chính trị là một chủ nghĩa mác xít phê phán có mối tương quan mật thiết với Gramsci và các nhà sử học cấp tiến Anh như Edward Thompson. Sau đó Guha đã nhường quyền chủ biên các tập sau cho các đồng nghiệp trẻ hơn mà vẫn tiếp tục cộng tác vào sự nghiệp chung[2]. Mười tập đã được xuất bản, với một trình độ trung bình rất cao, đã tập hợp hơn bốn mươi tác giả. Đa số các nhà nghiên cứu, đặc biệt những người nằm trong tập thể ban biên tập, đều đã cho xuất bản nhiều công trình khác cùng định hướng, mà một số đã có một tiếng vang lớn[3]. Tất cả những công trình nghiên cứu này rốt cuộc cũng đã tạo nên một trào lưu trong các khoa học xã hội chuyên về Ấn Độ, mà sự nhiệt tình ban đầu phần nào đã giảm bớt vì nó bị loãng đi trong những trào lưu rộng lớn hơn, nhưng với một ảnh hưởng rõ rệt trên các nhà nghiên cứu của các vùng khác của Phương Nam, đặc biệt là ở Nam Mỹ[4]. Như tất cả các cuộc phiêu lưu tri thức tập thể, cuộc phiêu lưu này cũng đã mang dấu ấn của những bất đồng nội bộ, những thay đổi định hướng, những sự ly khai, những sự tập hợp vốn phản ảnh một vài cuộc tranh luận chủ yếu của phương pháp luận và khoa học xã hội trong hai mươi năm vừa rồi trên quy mô toàn cầu. Một thành viên sáng lập như Sumit Sakar, một người đồng hành như Ramachandra Guha cũng đã ly khai với nhóm và đã biểu lộ một cách nổi bật sự bất đồng của họ với xu hướng hậu hiện đại mà bộ sách đã theo từ những năm cuối của thập niên 1980 (một sự tái định hướng đã đưa nhóm lên môi trường quốc tế nhưng cũng đã làm cho nó mất đi phần nào sự quan tâm của quần chúng ngay tại Ấn Độ). Nhiều người khác, như David Hardiman, vẫn còn là thành viên của tập thể, vẫn còn trung thành với một quan niệm về lịch sử xã hội nay không còn là đường lối thống trị của bộ sách. Sự phân tích theo văn học các diễn ngôn và những nghiên cứu về “giới” (hiện còn được gọi là lịch sử phụ nữ ở Pháp) đã xâm nhập vào bộ sách một cách mạnh mẽ, cùng lúc với việc bộ sách tiếp nhận nhiều thành viên mới (Gyan Prakash, Susie Tharu).

Print Friendly and PDF

1.5.21

Nhân học-xã hội học về “sự kiện ẩm thực” hoặc “Food Studies” (Nghiên cứu ẩm thực). Hai con đường xác lập một chuyên đề khoa học

NHÂN HỌC - XÃ HỘI HỌC VỀ “SỰ KIỆN ẨM THỰC” HOẶC FOOD STUDIES (NGHIÊN CỨU ẨM THỰC)[i]. HAI CON ĐƯỜNG XÁC LẬP MỘT CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC

Jean-Pierre Poulain[ii]

Jean-Pierre Poulain (1956-)

Kể từ những năm 1960, sự quan tâm của khoa học xã hội và nhân văn đối với vấn đề thực phẩm đã phát triển gần như đồng thời trong thế giới nói tiếng Anh và nói tiếng Pháp. Trước hết, ẩn sau những vấn đề mang tính xã hội học “nhiều hơn”, chủ đề này đã nổi lên như một vấn đề chính đáng về mặt khoa học trong các cuộc khủng hoảng lương thực những năm 1990 và 2000. Trong thời kỳ này, một bước ngoặt đã diễn ra ở Hoa Kỳ, dưới nhãn hiệu food studies (nghiên cứu ẩm thc), đặt ẩm thực trong khuôn khổ của nghiên cứu văn hóa (cultural studies), trong khi mối liên kết với các ngành khoa học xã hội được tăng cường ở Pháp và một cách tinh tế hơn ở Vương quốc Anh. Hai không gian khoa học đang phát triển đề xuất hai cách tổ chức sự suy nghĩ học thuật về ẩm thực. Những người ủng hộ phương án đầu tiên khẳng định sự xuất hiện của một lãnh thổ khoa học “mới” (Macbeth, MacClancy, 2004; Miller, Deutsch, 2009; Koc, Summer, Winson, 2012; Albala, 2013), trong khi những người theo phương án thứ hai triển khai chủ đề của họ trong các ngành hiện có, đôi khi xem xét lại các khung khoa học luận để phát triển đối thoại liên ngành (Fischler và Masson, 2008; Poulain, 2012; Warde, 2016).

Jean-Michel Berthelot (1945-2006)
Quan điểm trong bài này là xem xét vấn đề ẩm thực đã tìm thấy vị trí của nó như thế nào trong thế giới khoa học, hay nói cách khác là nó đã trở thành một chủ đề như thế nào. Một trong những sứ mệnh được Jean Michel Berthelot giao cho khoa học luận là phân tích tác động của những chuyển đổi xã hội đối với “những cơ sở hạ tầng tưởng tượng tạo ra những điều kiện cho việc xác định một chủ đề đặc biệt” (Berthelot, 1996, trang 161). Cách đọc này, vốn nằm trong cách nhìn khoa học luận của khoa học xã hội (Holton, 1982; Berthelot, 1996; 2001), đã từng được sử dụng để phân tích tiến trình biến ẩm thực thành một chủ đề trong khoa học xã hội Pháp (Poulain, Corbeau, 2012), cho các câu hỏi về tầm quan trọng của vị giác (Poulain, 2008), thú vui ăn uống (Poulain, 2008; Dupuy, Poulain, 2012; Dupuy, 2014) hoặc thậm chí chứng béo phì (Poulain, 2009). Chủ đích của bài này là nghiên cứu các điều kiện xuất hiện của hai hình thức chuyên đề hóa nghiên cứu về ẩm thực: nhân học - xã hội học về ẩm thực và food studies. Để làm được điều này, cần phải xem xét lại cách thức mà cultural studies đã phát triển ở các trường đại học Bắc Mỹ, trong khi ở Pháp các tư thế theo ngành vẫn tiếp tục thịnh hành. Chúng tôi sẽ quan tâm đến các tư thế khoa học, bối cảnh chính trị và ảnh hưởng của chúng đối với chiến lược đại học cũng như mối liên hệ của chúng với các phong trào xã hội. Cuối cùng, sau khi đã xác định được các hình thức thể chế hóa và động năng của các hình thức đào tạo đại học nghiên cứu ẩm thực trong khoa học xã hội, chúng tôi sẽ xác định các vấn đề khoa học luận và thực tiễn cơ bản của hai tư thế này.
Print Friendly and PDF

22.2.21

Từ các ngành khoa học đến các “studies”

TỪ CÁC NGÀNH KHOA HỌC ĐẾN CÁC “STUDIES”

Tri thức, quỹ đạo, chính sách

Lucas MonteilAlice Romerio

Vài lời mở đầu của dịch giả

Hiện nay, không một nhà nghiên cứu khoa học xã hội nào mà không chấp nhận, áp dụng sự kết hợp các kiến thức, lý thuyết, phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội khác nhau trong nghiên cứu lý thuyết hay thực nghiệm của mình. Mặc dù nguyên tắc đã được áp dụng từ lâu, đặc biệt trong các công trình nghiên cứu nhân học trong đó nhà nhân học đứng trước “hiện tượng xã hội toàn diện/phénomène social total” (Marcel Mauss) mà các chiều kích gắn kết với nhau một cách hữu cơ, nhưng phải chờ đến những năm 1960 thì sự kết hợp này mới được “chính đáng hóa” với trào lưu Cultural Studies ở Anh và được đưa vào cuộc tranh luận quốc tế dưới dạng sự khác biệt, thậm chí sự đối lập giữa cách tiếp cận theo ngành (disciplinaire) hay theo hướng các studies.

Marcel Mauss (1872-1950)
Raymond Williams (1921-1988)

Studies là một thuật ngữ được sử dụng trong giới khoa học nhân văn và xã hội (KHNVXH) trong nguyên bản tiếng Anh để chỉ một trào lưu nghiên cứu xuất phát từ các cultural studies ở Anh đặt trọng tâm vào các văn hóa dân gian (cultures populaires) với những nhà nghiên cứu như Richard Hoggart, người sáng lập Centre for Contemporary Cultural Studies, Stuart Hall, Charlotte Brunsdon, Phil Cohen, Angela McRobbie, David Morley, Edward Thompson và Raymond Williams vào những năm 1960. Cultural Studies nằm ở giao diện của xã hội học, nhân chủng học, triết học, nghệ thuật và thậm chí cả văn học, nhằm hướng tới một cách tiếp cận xuyên suốt đối với các hiện tượng văn hóa theo nghĩa rộng của sự chuyển đổi văn hóa. Từ studies đã được giới học thuật thừa nhận để chỉ trào lưu nghiên cứu này và được sử dụng trong nguyên bản của nó mà không được dịch và dịch giả cũng theo quy ước này.

Hai đặc điểm chính của trào lưu này là:

Print Friendly and PDF

3.2.21

Xã hội học Internet

XÃ HỘI HỌC INTERNET

Nicolas Baya-Laffite[*]

Về cuốn Sociologie d’Internet/Xã hội học Internet của Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral, Sylvain Parasie, Paris, Armand Colin, 2016, 224

KHẲNG ĐỊNH MỘT MÔN PHỤ

Nếu một ngày nào đó, trong một cuộc thảo luận học thuật, chúng ta bị dẫn vào cuộc tranh luận về quy chế của nghiên cứu về tầm ảnh hưởng xã hội và chính trị của Internet, thì nay chúng ta có thể nói: thực sự có một lĩnh vực phụ của ngành xã hội học, xã hội học Internet, thông qua một loạt các cuộc khảo sát đã cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho một số câu hỏi cơ bản do Internet đặt ra: Internet có tác dụng gì đối với năng lực hành động của các cá nhân? Internet thúc đẩy các mối quan hệ đối xứng hơn, hoặc bình đẳng hơn giữa các cá nhân ở mức độ nào? Có thể nói rằng Internet tạo ra cái nhìn rõ ràng hơn của xã hội về chính mình không? Điều này được chứng minh qua tác phẩm Sociologie d'Internet (Xã hội học Internet), của ba nhà xã hội học trẻ, Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral và Sylvain Parasie, cho thấy chính xác những gì tạo nên bản chất của lĩnh vực xã hội học phụ này, bằng cách khảo sát ba câu hỏi xã hội học trên thông qua sự tổng hợp các công trình được thực hiện kể từ 20 năm nay ở Pháp và các nơi khác, đặc biệt là ở Hoa Kỳ.

Jean-Samuel Beuscart, Éric Dagiral và Sylvain Parasie

Được thiết kế như một sách giáo khoa dành cho giảng viên-nhà nghiên cứu và sinh viên xã hội học, cũng như của khoa học thông tin và truyền thông và khoa học xã hội nói chung, cuốn sách này vẽ ra một xã hội học đặc biệt về Internet: một xã hội học mà các tác giả khẳng định có thể giải thích các đặc điểm của các hành động xã hội trực tuyến thông qua cuộc khảo sát, đối mặt với và được một số thành tựu xã hội học liên quan đến logic của hành động ngoại tuyến tiếp liệu. Với tham vọng này, các tác giả tiến hành một phân tích tinh tế nhằm phân định và ghi nhận lĩnh vực phụ này trong ngành xã hội học, một sự phân tích mang lại cho tác phẩm lợi ích lớn vượt quá tiện ích thực tế không thể phủ nhận của nó như một sách giáo khoa mang tính quy chiếu trong vấn đề này.

Print Friendly and PDF

14.2.20

Nghiên cứu hậu thực dân (Colonial Studies) và Nghiên cứu thuộc địa (Colonial Studies): thách thức và tranh luận

NGHIÊN CỨU HẬU THỰC DÂN (POST COLONIAL STUDIES) VÀ NGHIÊN CỨU THUỘC ĐỊA (COLONIAL STUDIES): THÁCH THỨC VÀ TRANH LUẬN

Emmanuelle Sibeud[*]
Emmanuelle Sibeud (1967-)
Trong tất cả những sự phát triển mới đây của trào lưu Nghiên Cứu Văn hóa (Cultural Studies)[1], Nghiên Cứu Hậu Thực Dân có lẽ là bí mật nhất. Vậy Nghiên Cứu Hậu Thực Dân là gì?
Phải chăng đó là một thể loại hiện tượng mới cần được nghiên cứu hay một dự án lý thuyết và có thể là chính trị? Những câu hỏi này còn rất là xa lạ ở Pháp, nhưng nó có một vị trí quan trọng trong các công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh. Chẳng hạn như tại Hội Nghị thường niên vừa rồi của Society for French Historical Studies (ở Paris vào tháng 6 năm 2004) đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công cuộc thực dân hoá của Pháp, tuy tất cả không gắn liền với trào lưu Nghiên Cứu Hậu Thực Dân, nhưng cũng nhấn mạnh đến tính chính đáng mà trào lưu này đã giành được trong các mạng lưới tương đối kinh điển của các nhà sử học.
Sự hâm mộ này có thể gây ngạc nhiên. Nghiên Cứu Hậu Thực Dân là liên ngành có chủ ý, với vô số những quy chiếu lý thuyết khá hỗn tạp và cũng đầy những biệt ngữ khó hiểu. Tuy nhiên nó cũng đặt ra những câu hỏi quan trọng, đặc biệt cho các nhà sử học. Phải chăng ta có thể khẳng định rằng chúng ta đang sống trong một thế giới “Hậu Thực Dân”, tức là hoàn toàn được giải phóng về mặt chính trị, kinh tế và văn hóa khỏi những hình thức thực dân của sự thống trị, kể cả khỏi những sự biến đổi của nó, nhưng cùng lúc lại mang dấu ấn sâu sắc của sự thống trị này. Nếu điều đó đúng, thì làm sao thuật lại sự đa dạng của những trải nghiệm lịch sử của những người cựu dân thuộc địa và những cựu thực dân, mà vẫn tránh được cái khó khăn kép về một sự tan vỡ của lịch sử thành những câu chuyện trái ngược nhau, hay ngược lại, sự kềm hãm nó (lịch sử) trong cái logic nhị nguyên sẽ luôn luôn dẫn tới sự đối lập giữa “chúng nó” và “chúng ta”.
Nghiên Cứu Hậu Thực Dân đã có một sự phát triển vượt bậc vào những năm 1990. Nó cũng đã gây ra những luận chiến gay gắt. Ta cần trở lại sự năng động đã yểm hộ nó để rút ra một bản tổng kết mang tính phê phán. Những đóng góp của Nghiên Cứu Hậu Thực Dân chắc có lẽ là không tương xứng với những suy nghĩ mà nó đã khơi mào. Nhưng nó cũng đã gây ra một sự đổi mới của lịch sử về những công cuộc thực dân hoá và sự phát triển của Nghiên Cứu Thuộc Địa đã tiếp nối những câu hỏi của nó.
Print Friendly and PDF

20.6.18

Nhận xét bước đầu về nghiên cứu đa ngành, liên ngành và xuyên ngành ở Việt Nam


NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ NGHIÊN CỨU ĐA NGÀNH, LIÊN NGÀNH VÀ XUYÊN NGÀNH Ở VIỆT NAM
Bùi Thế Cường[1]
TÓM TẮT
Nghiên cứu xuyên ngành là một chủ đề thời sự trên thế giới trong vài thập niên qua. Bài viết giới thiệu khái niệm về nghiên cứu đa ngành, liên ngành, và xuyên ngành. Tiếp đó, bài viết thảo luận về một số thành quả và hạn chế trong thực tế nghiên cứu đa ngành, liên ngành, và xuyên ngành ở Việt Nam; kêu gọi một chương trình hành động thúc đẩy hơn nữa nghiên cứu xuyên ngành ở Việt Nam.
INITIAL REMARKS ON MULTIDISCIPLINARY, INTERDISCIPLINARY, AND TRANSDISCIPLINARY RESEARCH IN VIET NAM. Transdisciplinary research has been a worldwide hot topic for several decades. The paper introduces the concept of multidisciplinary, interdisciplinary and transdisciplinary research. Next, the paper discusses some achievements and limitations in the multidisciplinary, interdisciplinary and transdisciplinary research in Vietnam. And finally, it calls for an action plan to further promote transdisciplinary research in Vietnam.
Từ khóa: nghiên cứu đa ngành, nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu xuyên ngành, KNOTS.
Print Friendly and PDF