LA BELLE DAME SANS MERCI và SILENT SPRING
John Keats, 1819
Người dịch và giới thiệu: An Tư, 2025
![]() |
| Mỹ Nhân Không dung thứ, 1893 - John William Waterhouse [Minh hoạ của PTKT] |
Xuất bản năm 1962, cuốn Silent Spring (Mùa Xuân Vắng Lặng) của Nhà Sinh vật học Rachel Carson là một trong hai tác phẩm được xem là nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn nhất đến cách nhìn của con người và khoa học đối với môi trường sinh thái, tự nhiên (tác phẩm còn lại là Nguồn Gốc Các Loài/On the Origin of Species của Charles Darwin).
![]() |
| Rachel Carson (1907-1964) |
![]() |
Từ đầu những năm 50, Carson đã viết về ảnh hưởng của con người đối với môi trường, và của ô nhiễm môi trường (gây ra bởi con người qua sự tiêu thụ thừa mứa, lạm dụng chất hoá học, hay các hành vi huỷ diệt sinh thái mà tiếng Anh gọi là “ecocide”) đối với tất cả sinh vật trên Trái Đất. Tác phẩm của Bà khơi mào cho phong trào bảo vệ môi trường nói chung và thúc đẩy phong trào phản đối chất khai quang và vũ khí hóa học trong chiến tranh ở Việt Nam nói riêng.
Kéo dài từ năm 1961 đến 1972, Chiến dịch Ranch Hand (Bàn tay lực điền) do Mỹ phát động đã rải thảm gần 20 triệu gallon chất khai quang và thuốc diệt cỏ phenoxy xuống miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Các phi vụ phun rải này được thực hiện bằng máy bay vận tải lớn, cánh cố định, C-123. Toàn bộ chương trình phun rải trên không, bao gồm cả những đợt phun bằng tay và bằng trực thăng, được đặt mật danh là Chiến dịch Trail Dust (Bụi trên Đường mòn).
Mục tiêu của Ranch Hand là tước đi lương thực, nhân lực, và khả năng ẩn náu của lực lượng du kích thuộc Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chất độc Hồng (Agent Pink) và Chất độc Lục (Agent Green)—hai loại thuốc diệt cỏ mạnh được sản xuất chủ yếu từ 2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid (2,4,5-T)—được phun rải đầu tiên trong giai đoạn trước 1965. Tuy được sử dụng hạn chế, cả Hồng và Lục đều độc hại hơn “hậu duệ” khét tiếng của chúng là Chất độc Da cam (Agent Orange).
Bắt đầu từ năm 1962, các mục tiêu khai quang được phun bằng Chất độc Tím (Agent Purple) (hợp chất của 2,4,5-T và 2,4-D, hay dichlorophenoxyacetic acid), và các mục tiêu phá huỷ mùa màng bị phun bằng Chất độc Lam (Agent Blue) chứa dimethyl arsenate. Đến năm 1965 và 1966, Chất độc Cam (gồm hai phần 2,4,5-T và 2,4-D bằng nhau) cùng với Chất độc Trắng (Agent White, gồm hỗn hợp 2,4-D và picloram), được đưa vào sử dụng rộng rãi.
Đến năm 1967, Ranch Hand đã phá huỷ hơn một nửa diện tích đất canh tác ở miền Nam Việt Nam (hơn 3,8 triệu mẫu Anh), trực tiếp giết chết hơn 13.000 gia súc và gần một nghìn nông dân, theo báo cáo cùng năm của Ban Nông học thuộc Hội đồng Khoa học Nhật Bản.
Vào tháng 9 năm 1966, 22 nhà khoa học hàng đầu của Hoa Kỳ, trong đó có bảy vị là chủ nhân giải Nobel, đã gửi thư cho Tổng thống Johnson kêu gọi giảm quy mô Chiến dịch Ranch Hand. Nhưng đến năm 1969, quân đội Mỹ vẫn phun “một lượng khổng lồ hóa chất chống cây trồng, vốn đã được biết trong ba năm là gây dị tật bẩm sinh ở động vật thí nghiệm – với tỷ lệ 100%.” Báo cáo nộp cho Quốc hội VNCH vào năm 1970 của Thượng nghị sĩ Trần Văn Qua, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nông nghiệp Thượng viện, kết luận rằng các chất khai quang đã phá huỷ khoảng 60% mùa màng ở miền Nam Việt Nam tính đến năm 1970.
Chiến dịch khai quang chỉ chính thức bắt đầu kết thúc vào năm 1972, sau nhiều nỗ lực phản đối dữ dội từ công chúng, giới nghiên cứu khoa học, và các nhà lập pháp Mỹ. Sự huỷ diệt bừa bãi mà chiến dịch phun rải các chất độc gây ra đối với sinh mạng con người và hạ tầng sinh thái đã khiến các nhà sử học và khoa học lên án chính phủ Hoa Kỳ đã vi phạm tội ác chiến tranh hóa học và huỷ diệt sinh thái—tức “sự huỷ hoại có chủ ý đối với môi trường” và những người sống trong đó. Ngày nay, cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân Việt Nam của dioxin và các loại chất khai quang của Mỹ vẫn đang tiếp tục.
Khi viết cuốn Silent Spring, Carson đã đặt tên sách của bà dựa trên hai câu thơ trong bài La Belle Dame sans Merci (Mỹ Nhân không Dung Thứ) của thi hào Anh John Keats: “The sedge has wither'd from the lake/And no birds sing.”
Người dịch này chọn dịch bài ballad nổi tiếng trên của Keats vì chưa có nhiều bản dịch sang tiếng Việt, và cũng là để vinh danh Carson cùng những người đã, đang, và sẽ tiếp tục đấu tranh vì công lý môi trường, tức cũng là cho sức khỏe hành tinh và tương lai nhân loại.
|
La Belle Dame Sans Merci
O what can ail thee, knight-at-arms, Alone and palely loitering? The sedge has withered from the lake, And no birds sing.
O what can ail thee, knight-at-arms, So haggard and so woe-begone? The squirrel’s granary is full, And the harvest’s done.
I see a lily on thy brow, With anguish moist and fever-dew, And on thy cheeks a fading rose Fast withereth too.
I met a lady in the meads, Full beautiful—a faery’s child, Her hair was long, her foot was light, And her eyes were wild.
I made a garland for her head, And bracelets too, and fragrant zone She looked at me as she did love, And made sweet moan
I set her on my pacing steed, And nothing else saw all day long, For sidelong would she bend, and sing A faery’s song.
And honey wild, and manna-dew, And sure in language strange she said— ‘I love thee true’.
She took me to her Elfin grot, And there she wept and sighed full sore, And there I shut her wild wild eyes With kisses four.
And there she lulled me asleep, And there I dreamed—Ah! woe betide!— The latest dream I ever dreamt On the cold hill side.
I saw pale kings and princes too, Pale warriors, death-pale were they all; They cried—‘La Belle Dame sans Merci Thee hath in thrall!’
I saw their starved lips in the gloam, With horrid warning gaped wide, And I awoke and found me here, On the cold hill’s side.
And this is why I sojourn here, Alone and palely loitering, Though the sedge is withered from the lake, And no birds sing.
|
Mỹ Nhân Không dung thứ
Chàng kỵ sĩ, vì đâu ưu uất, Một mình đi, nhợt nhạt thẫn thờ? Cỏ bên hồ héo tàn, queo quắt, Và chim trời chẳng thiết hót ca.
Chàng kỵ sĩ, vì đâu ưu uất, Nét xanh xao, sầu thảm khôn cùng? Kho lương đầy, sóc đà gom nhặt, Và lúa vàng người cũng gặt xong.
Khuôn mày trắng loa kèn một đoá, Đẫm sương đau và sốt mê man, Trên má chàng: hồng phai sắc đỏ Cũng nhanh rơi những cánh nhung tàn.
“Ta đã gặp nàng trên đồng cỏ, Đẹp tuyệt trần—tiên tử kiêu sa, Tóc như suối, bước chân như gió, Và mắt nàng—ấy khoé thu ba.(*)
Ta đã trao nàng vòng hoa thắm, Cả kiềng tay, và xứ ngát hương; Nàng nhìn ta, tình vương mi đẫm, Và môi rên những nốt mật đường.
Ta đặt nàng lên yên ngựa bước, Mắt chẳng nhìn thấy đoạn đường qua, Bởi nàng đã nghiêng mình tha thướt, Và hát lên đoản khúc tiên ca.
Và mật thơm, sương lịm đầu môi, Cất tiếng lạ, lời thương nàng thốt— ‘Thiếp yêu chàng, thật đấy, chàng ơi.’
Nàng đưa ta vào hang Tiên Tộc, Nơi tiếng than chen tiếng lệ tuôn, Nơi ta khép mắt rừng đang khóc Bằng ngọt ngào của bốn nụ hôn.
Và nàng khẽ ru ta say giấc, Và ta mơ—Ôi! Họa tử sinh!— Giấc mộng cuối ta còn nhớ được Trên sườn đồi lạnh lẽo riêng mình.
Ta đã thấy vua và vương tử, Những chiến binh nhợt nhạt như vôi Họ gào—‘Mỹ nhân không dung thứ Đã giam cầm lấy cả hồn ngươi!’
Môi khô rốc màu vầng dương chết, Miệng mở toang tiếng thét thất kinh, Ta thấy họ rồi bừng tỉnh giấc, Trên sườn đồi lạnh lẽo riêng mình.
Vậy nên ta còn đây lữ khách Một mình đi, nhợt nhạt thẫn thờ, Dù bên hồ, cỏ tàn queo quắt, Và chim trời chẳng thiết hót ca.” ____________________ (*) Khoé thu ba: cụm từ chỉ ánh mắt người con gái đẹp như sóng nước mùa thu (thu ba), như cách dùng trong hai câu “Áng đào kiểm đâm bông não chúng,/Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành.” (Cung Oán Ngâm Khúc, Nguyễn Gia Thiều) |
Nguồn: La Belle Dame Sans Merci và Silent Spring, DienDan.Org, 15/10/2025
.jpg)
.jpg)
