PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ: CHÂU Á BỊ MẮC BẪY
Tác giả: Hubert Testard
![]() |
| Eo biển Hormuz. Ảnh vệ tinh. Nguồn: Wikimedia Commons. |
Việc chiến tranh ở Iran lan rộng sang các quốc gia quân chủ vùng Vịnh và eo biển Hormuz đẩy Châu Á lên tuyến đầu. Châu Á là điểm đến chính cho xuất khẩu dầu thô, khí hóa lỏng (LNG) và các sản phẩm dầu mỏ đi qua eo biển này. Đối với Châu Á, cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay không chỉ là vấn đề giá cả. Sự gián đoạn nguồn cung đe dọa một số nền kinh tế của khu vực. Từ góc nhìn Châu Á, việc phong tỏa eo biển không thể tiếp tục.
------------------------------------------------
“Không được phép đi qua eo biển Hormuz.” Tuyên bố này từ Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đã được phát sóng trên các kênh liên lạc vô tuyến hàng hải ngay từ ngày 28 tháng 2, ngày đầu tiên của cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Kể từ thông báo này, 18 tàu đã bị tấn công trong eo biển, bao gồm cả tàu kéo. Ngoại trừ các tàu chở dầu của Iran, dường như vẫn tiếp tục bốc hàng từ đảo Kharg và đi qua eo biển, hoạt động vận tải biển gần như bị đình trệ hoàn toàn, với số lượng tàu qua lại hàng ngày giảm từ 150 xuống còn khoảng hàng chục. Chỉ một vài tàu mang cờ Trung Quốc có thể đi qua eo biển, và hai tàu chở khí dầu mỏ hóa lỏng (LNG) đã có thể hướng tới Ấn Độ vào ngày 13 tháng 3. Một số tàu đăng ký dưới cờ “trung lập”, chẳng hạn như Panama hoặc quần đảo Marshall, đã sửa đổi chữ ký điện tử của mình để khai báo là “Trung Quốc hoặc thuộc sở hữu của Trung Quốc” nhằm được phép đi qua eo biển. Những trường hợp ngoại lệ này vẫn rất hạn chế so với mức lưu lượng giao thông trước đây.
Châu Á: Tâm điểm của biến động năng lượng
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), eo biển Hormuz là eo lưu thông 20% lượng dầu và sản phẩm dầu mỏ được giao dịch trên toàn cầu (khoảng 20 triệu thùng mỗi ngày) vào năm 2025.
Châu Á chiếm 84% lượng dầu thô xuất khẩu qua eo biển Hormuz, với bốn khách hàng chính ở châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Nếu tính cả sản phẩm dầu mỏ, tỷ lệ này tăng lên 87%.
![]() |
| Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ. |
Tỷ lệ
tương tự cũng được ghi nhận đối với Khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), với Qatar chiếm
phần lớn lượng xuất khẩu LNG từ các nước vùng Vịnh. Châu Á chiếm 77% lượng xuất khẩu LNG của
Qatar. Sau Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, Pakistan là khách hàng lớn thứ tư của
Qatar tại Châu Á, đứng trước Nhật Bản..jpg)
Nguồn: Ngân hàng
Thế giới, Giải pháp Thương mại Tích hợp Thế giới (WITS).
Mức độ phụ thuộc tổng thể rất cao về dầu mỏ
Từ góc nhìn của các nước nhập khẩu, mức độ phụ thuộc vào dầu thô nhìn chung rất cao. Nhật Bản giữ kỷ lục về mức độ phụ thuộc, vì 100% lượng tiêu thụ dầu thô trong nước dựa trên nhập khẩu, và 95% lượng nhập khẩu đến từ Trung Đông, trong đó 70% đi qua eo biển Hormuz. Hàn Quốc đứng thứ hai, với 70% lượng dầu thô nhập khẩu có nguồn gốc từ Trung Đông. Ấn Độ gần đây đã giảm mức độ phụ thuộc vào dầu mỏ xuống còn 58% nhờ sự gia tăng nhanh chóng lượng nhập khẩu từ Nga kể từ khi bắt đầu cuộc chiến ở Ukraine. Cái “kênh của Nga” này từng chịu lệnh trừng phạt thương mại của Hoa Kỳ, và lệnh trừng phạt này vừa được dỡ bỏ trong một tháng. Trung Quốc phụ thuộc vào Trung Đông để đáp ứng hơn 50% nhu cầu dầu mỏ của mình. Nước này cũng là khách hàng lớn nhất của Iran chiếm 11% lượng dầu thô được Trung Quốc nhập khẩu vào năm 2025. Về phần mình, Trung Quốc chiếm 80% lượng xuất khẩu của Iran, vốn đã chịu các lệnh trừng phạt nghiêm ngặt hơn của Mỹ và quốc tế kể từ năm 2018.
Ở các nước còn lại của Châu Á, một số quốc gia cũng phụ thuộc rất nhiều vào Trung Đông về nguồn cung dầu thô, chẳng hạn như Philippines (98%), Đài Loan (70%), Singapore (hơn 70%) và Thái Lan (hơn 50%).
Nguồn cung LNG đa dạng hơn nhiều
Bức tranh về nguồn cung LNG ở Châu Á rất khác biệt. Pakistan giữ kỷ lục về mức độ phụ thuộc, nhập khẩu 88% LNG từ Qatar, tiếp theo là Bangladesh với 70%. Ấn Độ cũng có mức độ phụ thuộc cao (57%) mặc dù đang tăng cường mua từ Hoa Kỳ và nhiều quốc gia Châu Phi khác. Các quốc gia khác trong khu vực chủ yếu lấy LNG từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
.jpg)
Nguồn: Ngân hàng
Thế giới, WITS.
Nhật Bản có nguồn cung LNG đặc biệt đa dạng, với các nhà cung cấp chính là Úc, Đông Nam Á, Hoa Kỳ và… Nga, đặc biệt là từ đảo Sakhalin. Trung Quốc có mức độ phụ thuộc 25%, tương đương với Hàn Quốc. Trung Quốc có mối quan hệ đối tác lâu dài với Qatar, chiếm một phần tư lượng mua, nhưng cũng duy trì mối quan hệ tốt với Úc và Nga vốn theo thứ tự là nhà cung cấp lớn nhất và lớn thứ ba.
Cú sốc do chiến tranh gây ra đối với dòng chảy LNG là ngay tức thời và nghiêm trọng, khi Qatar ngừng sản xuất và xuất khẩu LNG vào ngày 4 tháng 3. Sẽ mất vài tuần để khởi động lại các hoạt động xuất khẩu này sau khi chiến sự chấm dứt. Theo Kpler (một công ty chuyên về phân tích các nguyên liệu), các nguồn cung thay thế trên toàn thế giới chỉ có thể bù đắp được một phần ba lượng LNG bị mất.
Lượng dự trữ chiến lược rất khác nhau
Các nước phát triển ở Châu Á và Trung Quốc có lượng dự trữ dầu thô chiến lược vượt quá tiêu chuẩn của Cơ quan Năng lượng Quốc tế. Nhật Bản nắm giữ lượng dự trữ lớn nhất, hiện được ước tính đủ dùng trong 254 ngày. Nước này đã quyết định tung ra thị trường 80 triệu thùng dầu, tương đương với 45 ngày tiêu thụ. Trung Quốc đã lường trước chiến tranh bằng cách tăng đáng kể lượng nhập khẩu dầu thô trong tháng 1-2 năm 2026 (+16% so với cùng kỳ năm 2025). Lượng dự trữ dầu chiến lược và thương mại của Trung Quốc được Kpler ước tính là 1,2 tỷ thùng, tương đương với 200 ngày tiêu thụ. Lượng dự trữ của Hàn Quốc tương đương với Trung Quốc về số ngày tiêu thụ.
Tình hình ở Đông Nam Á và Nam Á căng thẳng hơn nhiều. Lượng dự trữ của Ấn Độ tương đương với khoảng 70 ngày tiêu thụ, trong khi đó lượng dự trữ của các nước Đông Nam Á khác nhau dao động từ 30 đến 60 ngày.
Về khí hóa lỏng (LNG), Pakistan và Bangladesh đang ở trong tình trạng thảm khốc, với mức độ phụ thuộc rất cao và dự trữ chỉ đủ dùng trong 2-3 tuần. Theo Kpler, hai quốc gia này sẽ phải giảm mạnh mức tiêu thụ, và việc phân phối theo định mức đã bắt đầu.
Hậu quả kinh tế đa chiều
Nam Á đang phải đối mặt với sự gián đoạn thực sự các chuỗi cung ứng, bao gồm phân bón và khí dầu mỏ hóa lỏng (butan và propan). Tờ Nikkei Weekly đưa tin về một loạt cú sốc liên quan đến Ấn Độ. Ví dụ, có nguy cơ hàng trăm nhà máy gốm sứ ở Ấn Độ phải đóng cửa trong tương lai gần nếu nguồn cung propan không được khôi phục. Ngành công nghiệp nhà hàng, vốn sử dụng butan hoặc propan để làm bếp, đang bị đe dọa ở các thành phố lớn. Gần 20% khách sạn và nhà hàng đã đóng cửa ở Mumbai. Xuất khẩu gạo của Ấn Độ sang Trung Đông đã bị đình trệ, và hàng tồn kho đang chất đống tại các cảng của Ấn Độ.
Bangladesh đã tạm thời đóng cửa các trường đại học trước kỳ nghỉ lễ, và việc phân phối xăng dầu theo định mức đang được thực hiện. Pakistan cũng đang áp đặt việc đóng cửa trường học và ngày làm việc từ xa cho các dịch vụ công cộng. Từ nay, các công chức đi làm cách ngày theo lịch luân phiên. Kiều hối từ người Pakistan chiếm 8% GDP của đất nước. Một nửa lượng kiều hối đến từ Trung Đông và hiện đang gặp nguy cơ.
Theo Chatham House, ngành công nghiệp bán dẫn, vốn rất quan trọng đối với các nền kinh tế Châu Á, có thể bị ảnh hưởng trong tương lai gần bởi tình trạng thiếu hụt khí heli, một loại khí mà Qatar cung cấp 40% nguồn cung toàn cầu.
Về giá cả, tác động lạm phát của giá dầu, khí đốt và các sản phẩm dầu mỏ tăng cao đang ảnh hưởng đến toàn thế giới, với tác động lớn hơn đến các nền kinh tế Châu Á do mức độ phụ thuộc năng lượng của các nền kinh tế này. Vấn đề này ít nghiêm trọng hơn đối với Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc hiện đang trải qua giảm phát và có thể chịu đựng được một mức độ lạm phát nhất định. Tuy nhiên, đây là một vấn đề đáng lo ngại ở những nơi khác. Giá cả tăng vọt gây ra rủi ro sâu sắc cho Pakistan và rủi ro nghiêm trọng cho Ấn Độ.
Không có giải pháp thay thế khả thi nào ngoài một lệnh ngừng bắn
Kể từ khi Iran tuyên bố phong tỏa eo biển Hormuz, một cuộc chạy đua với thời gian đã được tiến hành để tìm giải pháp, nhưng dường như không giải pháp nào có sức thuyết phục. Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có hai đường ống dẫn dầu, một đến cảng Yanbu ở Biển Đỏ và một đến cảng Fujairah ở Vịnh Oman. Tuy nhiên, việc tăng cường vận chuyển qua hai đường ống này bị cản trở bởi tiềm năng hạn chế, ước tính tối đa chỉ 2 triệu thùng mỗi ngày, chưa đến 20% lượng dầu xuất khẩu được ghi nhận hiện nay. Hơn nữa, cả các đường ống lẫn hai cảng này đều không an toàn trước các cuộc tấn công của Iran hoặc các lực lượng dân quân Shia liên kết với nước này. Cũng cần nhớ rằng lực lượng Houthi ở Yémen, đồng minh truyền thống của Iran, vẫn chưa tham gia vào cuộc chiến.
Donald Trump đã nhân bội các lời hứa sẽ bảo vệ giao thông hàng hải ở eo biển Hormuz bằng lực lượng hải quân Mỹ và các đồng minh. Ông đang điều thêm quân từ Nhật Bản (2.500 lính thủy đánh bộ và một số tàu chiến) và đe dọa các đồng minh Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc nếu họ không hợp tác để cùng nhau bảo đảm an ninh cho eo biển. Nhưng tất cả các chuyên gia quân sự độc lập đều cho rằng nhiệm vụ này cực kỳ tốn kém và rủi ro. Michael Clarke, cựu Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh tại London và là nhà phân tích quân sự của Sky News, cho rằng “sẽ không bao giờ có đủ tàu chiến để hộ tống tất cả các tàu chở dầu thường xuyên đi qua đoạn đường khó khăn như vậy” (với hai kênh giao thông rộng 1,5 km và dài 160 km). Lloyd’s List ước tính rằng ngay cả với sự hộ tống của quân đội, cũng chỉ có thể bảo vệ được không quá 10% lượng hàng hóa bị mất.
Quân đội Iran sở hữu một kho vũ khí đa dạng, bao gồm máy bay không người lái trên không và dưới nước, hàng ngàn quả mìn các loại, tàu ngầm và thiết bị gây nhiễu GPS. Một phần kho vũ khí này đã bị phá hủy, nhưng một số vẫn còn hoạt động, và các loại vũ khí rẻ nhất cũng có thể được sản xuất nhanh chóng, như binh lính Ukraine đã chứng minh với máy bay không người lái.
Farzin Nadimi, một chuyên gia về lực lượng hải quân Iran được tờ Financial Times trích dẫn, cho rằng “gần như chắc chắn” Iran đã rải một số lượng thủy lôi dưới đáy eo biển, với các thiết bị kích hoạt bằng cáp hoặc âm thanh sẵn sàng được kích hoạt. Việc gỡ các thủy lôi là một quá trình lâu dài và tốn kém hơn nhiều so với rải thủy lôi, vốn là một trong những “vũ khí của người nghèo” trong cuộc chiến tranh bất đối xứng này. Nhưng Iran không thể sử dụng thủy lôi một cách bừa bãi, vì điều đó có nguy cơ khiến eo biển không thể đi lại được trong nhiều tháng, chặn đứng toàn bộ xuất khẩu dầu mỏ của đất nước và làm mất lòng một vài đồng minh và đối tác còn lại, đặc biệt là Trung Quốc. Do đó, người ta có thể dự đoán việc sử dụng có mục tiêu, nhằm đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ, hơn là một cuộc tấn công trên diện rộng.
Nền kinh tế Iran không thể chịu đựng được mãi mãi cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Israel. Chính quyền hiện tại tuyên bố có đủ dự trữ lương thực cho người dân trong 45 ngày. Điều gì sẽ xảy ra sau đó ? Dầu mỏ chiếm 40% ngân sách của đất nước. Nếu Iran tiến hành một chiến dịch rải thủy lôi quy mô lớn ở eo biển Hormuz, các cơ sở dầu khí trên đảo Kharg, vốn cho đến nay vẫn chưa bị các cuộc không kích của Mỹ và Israel tấn công, có thể dễ dàng bị phá hủy, nếu điều này cuối cùng xảy ra sẽ làm tê liệt nền kinh tế Iran.
Các nước Châu Á không sẵn lòng đóng góp vào chiến dịch an ninh quân sự đầy rủi ro ở eo biển Hormuz theo yêu cầu của Donald Trump. Các đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc của ông chắc sẽ tìm cách trì hoãn. Thay vào đó, họ sẽ gây áp lực tối đa lên Nhà Trắng để đạt được lệnh ngừng bắn nhanh chóng. Quan điểm của Nhật Bản được tóm tắt vào ngày 12 tháng 3 trong một bài xã luận tập thể trên tờ Japan Times: “Tóm lại, sự hỗn loạn đang ngự trị. Người Mỹ đã bị cuộc chiến này làm cho mù quáng và đang vật lộn để đối phó với tác động của nó… Đây hoàn toàn không phải là cách để tiến hành chiến tranh, quản lý liên minh hoặc duy trì hòa bình trong một khu vực trọng yếu.”
Về tác giả
Hubert Testard là chuyên gia về Châu Á và các vấn đề kinh tế quốc tế. Ông từng là cố vấn kinh tế và tài chính trong 20 năm tại các đại sứ quán Pháp ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore cho ASEAN. Ông cũng tham gia vào việc phát triển các chính sách của Châu Âu và đặc biệt là chính sách thương mại, về WTO hay các cuộc đàm phán với các nước Châu Á. Ông đã giảng dạy tám năm tại Khoa Quan hệ Quốc tế thuộc Viện Khoa học Chính trị về phân tích triển vọng của Châu Á. Ông là tác giả của cuốn sách có tựa đề “Pandémie, le basculement du monde (Đại dịch, sự chuyển đổi của thế giới)”, được NXB Aude xuất bản vào tháng 3 năm 2021, và ông đã đóng góp cho ấn bản tháng 12 năm 2022 của “Revue économique et financière” dành riêng cho những hệ quả về kinh tế và tài chính của cuộc chiến ở Ukraine.
Người dịch: Phạm Như Hồ
Bài có liên quan: Cuộc chiến ở Iran cho thấy chất lượng vũ khí của Trung Quốc rất kém nhưng về lâu dài nước này sẽ được lợi
Nguồn: “Blocage du détroit d’Hormuz: l’Asie prise au piège“, Asialyst, 16.3.2026.

.jpg)