JÜRGEN HABERMAS QUA ĐỜI, MỘT NHÀ TƯ TƯỞNG LỚN CỦA HAI THẾ KỶ VÀ LÀ MỘT TRÍ THỨC DẤN THÂN
Triết gia Đức Jürgen Habermas đã từ trần ở tuổi 96. Được công nhận trên toàn thế giới qua những tác phẩm của mình, chuyển tiếp giữa thế kỷ XX và thế kỷ XXI, ông còn được kính trọng vì đã bày tỏ các quan điểm của ông về những vấn đề chính trị quan trọng thời hậu chiến.
Công bố ngày 14 tháng ba năm 2026.
Jürgen Habermas ở
Paulskirche, tháng 10 năm
2016.— © ARNE DEDERT/KEYSTONE
Triết gia người Đức Jürgen Habermas đã từ trần, theo thông báo của một nữ phát ngôn viên của nhà xuất bản Suhrkamp Verlag, cho thông tấn xã AFP. Bà đã xác nhận rằng ông từ trần ở tuổi 96 tại Starnberg, ở miền nam nước Đức, căn cứ vào thông tin của gia đình của nhà trí thức dấn thân này.
Chào đời năm 1929, Jürgen Habermas, tác giả của một sự nghiệp triết học đã thu phục được rộng rãi công chúng trên thế giới, được xem là nhà tư tưởng lớn nhất còn tại thế. Ông cũng là một trí thức dấn thân xuất hiện nhiều nhất trên diễn đàn chính trị của Đức và châu Âu, tham gia tất cả các cuộc thảo luận quan trọng thời hậu chiến và ông nhìn thấy châu Âu là phương thuốc duy nhất chống lại trào lưu đang lên của các chủ nghĩa dân tộc. Theo ông, “dấn thân vào việc chung là nhiệm vụ quan trọng nhất của triết học”.
Chính là thúc đẩy một dự án liên minh châu Âu, để tránh cho Lục địa cũ này lại rơi vào những tranh chấp dân tộc chủ nghĩa như ở thế kỷ XX mà ông đã cống hiến những năm cuối cùng của ông.
Từ Starnberg trong vùng Bavaria, nơi ông sống từ nhiều thập kỷ, Habermas lên tiếng đều đặn, cho đến khi ông qua đời. Hai diễn đàn được công bố trên nhật báo Đức Süddeutsche Zeitung liên quan đến sự xâm lược Ukraine của Nga đã đặc biệt được chú ý: ông biện hộ cho những cuộc thương thuyết với Nga.
Ngoài những sự kiện đương thời như khủng hoảng di dân năm 2015, thì luôn luôn là tình trạng của châu Âu đã gợi cho Habermas những bình luận, lời ta thán hoặc cảnh báo. Liên quan đến Liên minh châu Âu, ông đã nhiều lần phê phán giới “tinh hoa chính trị” và lên tiếng ủng hộ một sự tham gia mạnh mẽ hơn của các công dân trong tiến trình hội nhập châu Âu.
Đọc thêm: Jürgen Habermas: “Reformulons les principes de la démocratie” - Jürgen Habermas – “Hãy định hình lại những nguyên tắc của dân chủ”
Truyền thông và chính trị như là trục suy tư của ông
Jürgen Habermas chào đời ngày 18 tháng sáu năm 1929 tại Düsseldorf, bị dị tật sứt môi. Qua hai lần phẫu thuật, ông vẫn còn di chứng là khó khăn về khả năng diễn đạt khiến ông bị các bạn học xa lánh. Từ đó, nảy sinh trực giác về bản chất xã hội sâu sắc của đời sống con người và mối quan tâm của ông đối với truyền thông, trung tâm của tất cả những suy tư của ông. Tín điều của ông, được diễn đạt dưới tất cả các khía cạnh triết học của ông: điểm xuất phát của triết học không còn là chủ thể và ý thức tự chủ của nó nữa, mà là truyền thông và môi trường trong đó triết học diễn ra, là ngôn ngữ. Yếu tố cơ bản của thực tại con người không phải là cá nhân, mà là mối quan hệ tương giao cho phép mỗi người tự xây dựng cá nhân duy nhất và hoàn chỉnh của mình. Từ đó phát sinh tất cả phần còn lại, đáng chú ý là lý thuyết về dân chủ được xây dựng không phải dựa trên sự bảo vệ các quyền cá nhân mà là sự tương giao giữa tất cả những thành phần liên quan.
Không khí chính trị trong đó ông lớn lên là một cơ sở khác của tư duy triết học và xã hội học của ông. Gia nhập tổ chức thanh thiếu niên của Đảng Quốc xã (NSDAP) ở Đức, nhưng ông còn quá trẻ để tham gia tích cực chiến tranh, người thiếu niên là ông bị tác động sâu sắc bởi sự sụp đổ của chủ nghĩa phát xít. “Xã hội và chế độ mà chúng ta đã sống trong đó với một ý thức có phần bình thường – điều mà có thể nói là đã xảy ra một cách đột ngột – đã bị vạch trần vì thực chất của chúng: một xã hội và một chế độ bệnh hoạn và tội phạm”, ông đã kể như vậy.
Từ sự đoạn tuyệt khốc liệt này nảy sinh một sự “lo âu” vốn đã định hướng hai mươi năm đầu những nghiên cứu của ông: liệu dân chủ có thể bám rễ bền vững ở nước Đức?
Đọc thêm: Jürgen Habermas, un demi-siècle d’une pensée en action - Jürgen Habermas, nửa thế kỷ của một suy tư bằng hành động
Nổi bật với sự phát triển trí thức sớm
Từ năm 1949, Habermas theo học triết học, lịch sử, kinh tế, tâm lý học và văn học Đức ở Göttingen, Zurich và Bonn. Là cha của ba đứa con, người thanh niên tỉnh lẻ này gây chú ý vì sự phát triển sớm những trực giác triết học quan trọng, và ông đã nhanh chóng tạo được sự ngưỡng mộ của những bậc đàn anh - Theodor W. Adorno và Hans-Georg Gadamer là những người được biết đến nhiều nhất. Năm 1956, Theodor W. Adorno mời ông làm phụ tá tại Viện nghiên cứu xã hội, trụ cột chính về thể chế của Trường phái Frankfurt vừa mới được mở lại. Thừa kế trường phái tư tưởng này, ông vượt qua nó bằng cách tích hợp những yếu tố của chủ nghĩa thực dụng Mỹ, của lý thuyết ngôn ngữ.
Vào cuối những năm 70, ông thiết kế nền tảng cốt lõi của công trình của ông, “lý thuyết về hành động tương giao”. Đối với Habermas, lập luận mạo xưng là uy quyền là không thể chấp nhận được, từ đó ông liên tục bác bỏ quyền lực của các “chuyên gia”. Cũng hoàn toàn không thể chấp nhận được là diễn ngôn về các giá trị, vốn xuất phát từ tính chủ thể văn hoá.
Một nhà tư tưởng hướng về tương lai
Trong sự nghiệp của ông, ông kế vị Max Horkheimer – một trong những sáng lập viên Trường phái Frankfurt – với vị trí chủ nhiệm ngành triết học của đại học Frankfurt (1964 – 1971), điều hành Viện Max Planck các khoa học xã hội ở Starnberg (1971 – 1983), sau đó giảng dạy triết học ở Frankfurt cho đến khi nghỉ hưu năm 1994.
Sau khi đã là đại diện cho tiếng nói phản kháng của sinh viên Đức trong những năm 60, ông trở thành mục tiêu của sự phản kháng 30 năm sau, vì đã tố cáo những nguy cơ của một “chủ nghĩa phát xít cánh tả” đối với Nhà Nước pháp quyền. Vào giữa những năm 80, ông là một trong số những người phản biện gay gắt nhất nhà sử học bảo thủ Ernst Nolte, ông cáo buộc ông này muốn tầm thường hoá những tội ác của phát xít. Năm 1989, ông phê phán các phương thức thống nhất nước Đức, chủ yếu được dẫn dắt bởi những yêu cầu của thị trường, và biến “đồng mark của Đức thành ngọn cờ của thống nhất”.
Trong suốt cuộc đời của ông, Habermas đã gắn liền triết học và chính trị, tư tưởng và hành động. Uy tín về tinh thần của ông đã mang lại cho ông nhiều sự ngưỡng mộ trên toàn thế giới. Ông lý thuyết hoá một “chủ nghĩa ái quốc lập hiến”, cho rằng các cá nhân không nên cảm thấy gắn bó với một Nhà Nước-Dân tộc, nhưng là với các thể chế dân chủ.
Đọc thêm: Le mystère Habermas – Bí ẩn Habermas
Ngoài những cuộc thảo luận mang tính triết học và kỹ thuật mà ông đã nêu ra, một điều nổi bật, nếu xét trong toàn bộ quá trình trí thức to lớn của Habermas là: tư duy của ông luôn hướng về tương lai, về những điều cần theo đuổi và xây dựng. Đó là của một nhà tư tưởng “cho/vì một điều gì”. “Rất thông thường ông viết cho một điều gì: cho các quyền con người, cho một xã hội công bằng, để cho các báo tiếp tục sống, cho lý trí được thực hiện, cho châu Âu”, Stefan Müller-Doohm đã nêu ra như vậy năm 2018, ông là tác giả của một quyển tiểu sử dành cho triết gia nổi tiếng này.
Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư
Bài có liên quan: Jürgen Habermas đã định hình trật tự thời hậu chiến – cái chết của ông không nên là dấu chấm hết cho trật tự này
Nguồn: “Décès de Jürgen Habermas, grand penseur de deux siècles et imtellectuel engagé”, Le temps, 14.3.2026.