16.5.26

Bước ngoặt mang tính chiến lược của Nhật Bản: xuất khẩu vũ khí, tập trận ở Philippines

BƯỚC NGOẶT MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC CỦA NHẬT BẢN: XUẤT KHẨU VŨ KHÍ, TẬP TRẬN Ở PHILIPPINES

Tác giả: Sébastien Raineri

Bộ trưởng quốc phòng Úc Richard Marles và bộ trưởng quốc phòng Nhật Shinjiro Koizumi bắt tay nhau sau khi ký kết một hiệp định quân sự quan trọng. DR

Trong vòng một tuần lễ, Nhật Bản đã cùng lúc vượt qua nhiều ngưỡng lịch sử. Ngưỡng đầu tiên, ngày 21, tháng tư, Văn phòng Thủ tướng Sanae Takaichi đã chính thức gỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương, đảo ngược một trụ cột của chính sách ngoại giao Nhật Bản đã tồn tại hơn nửa thế kỷ nay.

Vài ngày trước đó, hai bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản và Úc đã ký tại Melbourne một hợp đồng quy mô lớn về việc Nhật cung ứng ba khinh hạm lớp Mogami trị giá 7,15 tỷ đô la cho Úc, là một trong những hợp đồng xuất khẩu quân sự lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản kể từ năm 1945. Song song đó, hơn 1400 binh sĩ của Lực lượng phòng vệ (tên chính thức được đặt cho các lực lượng quân sự Nhật Bản) lần đầu tiên tham gia với tư cách chiến sĩ thực thụ vào cuộc tập trận quân sự Balikatan ở Philippines, cùng với Mỹ và sáu quốc gia khác.

Ba sự kiện khác nhau, cùng một logic. Tokyo thực hiện một biến đổi sâu sắc và cố ý tăng tốc vị thế chiến lược của mình, dưới áp lực của một môi trường khu vực được các nhà lãnh đạo hết sức nhấn mạnh là “càng ngày càng trầm trọng”, một cụm từ từ nay trở thành hầu như nghi thức quen thuộc trong diễn ngôn công khai của Nhật Bản.

Sự phát triển sức mạnh quân sự Trung Quốc, những căng thẳng dai dẳng chung quanh Đài Loan, những yêu sách của Bắc Kinh ở vùng biển phía Nam, những bất ngờ không dự đoán được ngày càng tăng của Washingon của chính phủ Trump: bấy nhiêu là nhân tố thúc đẩy Nhật Bản phải gấp rút xác định lại quan hệ với cường quốc quân sự Trung Quốc.

KẾT THÚC MỘT ĐIỀU HUÝ KỴ

Để hiểu tầm ảnh hưởng của quyết định ngày 21 tháng tư, phải trở lại nguồn gốc của một chính sách từ lâu đã được xem như một điểm vô cùng độc đáo trong liên minh các quốc gia công nghiệp. Ngay từ năm 1967, chính phủ Nhật Bản đã thông qua giới hạn đầu tiên về xuất khẩu vũ khí. Nhưng phải đến năm 1976 khi Thủ tướng Takeo Miki có một bước quyết định bằng cách thiết lập thực sự một lệnh cấm vận toàn bộ: Nhật Bản sẽ không bán vũ khí, chấm hết.

Quyết định này, được đưa ra trong một bối cảnh dư luận xã hội rất nhạy cảm với mọi sự hồi phục của chủ nghĩa quân phiệt, phù hợp với lập luận của điều 9 Hiến pháp năm 1947, được chấp bút đưới sự giám sát của Mỹ sau khi Nhật đầu hàng. Trong gần bốn mươi năm, chính sách này vẫn đứng vững.

Sự rạn nứt đáng kể đầu tiên diễn ra vào năm 2014 dưới thời của Thủ tướng Shizo Abe với “Ba nguyên tắc mới về chuyển giao trang thiết bị và công nghệ quốc phòng” cho phép xuất khẩu, nhưng với duy nhất mục đích không gây chết người, được tổ chức chung quanh năm loại sử dụng được định nghĩa chặt chẽ (cứu hộ, vận chuyển, cảnh giác, giám sát và rà phá mìn).”

Sự thay đổi chủ yếu là huỷ bỏ quy định về năm loại sử dụng. Thay vào đó, chính phủ đưa vào một cách xếp loại nhị nguyên: một bên là các “vũ khí” theo nghĩa chính xác (máy bay tiêm kích, khu trục hạm, tàu ngầm) và một bên là “không phải vũ khí” (hệ thống radar, áo giáp chống đạn) từ nay có thể xuất khẩu không hạn chế nơi đến.

Đối với các trang thiết bị sát thương, từ nay cho phép chuyển giao đến 17 nước mà Nhật Bản đã ký kết các hiệp định phòng thủ hỗ tương, trong đó có Philippines, Indonesia và Úc. Mọi chuyển giao phải được phê chuẩn bởi Hội đồng an ninh quốc gia, là một tổ chức hạn chế gồm chín bộ trưởng tập trung những quyết định quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng.

Nguyên tắc vẫn là cấm xuất khẩu đến những nước đang có chiến tranh, nhưng khuôn khổ mới dự kiến là những chuyển giao có thể được chấp thuận nếu Nhật Bản nhận thấy an ninh quốc gia của mình đang bị đe doạ. Cách diễn đạt là mơ hồ có chủ ý và những hệ quả cụ thể về an ninh quốc gia của Nhật Bản trong một kịch bản khủng hoảng vẫn còn nguyên.

Chính phủ đã rất quan tâm nêu ra nhiều cơ chế như những “rào chắn an toàn”: bộ lọc của Hội đồng an ninh quốc gia và nghĩa vụ phải thông báo cho Quốc Hội sau mỗi lần xuất khẩu được phê duyệt. Nhưng những rào chắn này khơi dậy những vấn đề nghiêm trọng. Thông báo cho Quốc Hội đến sau quyết định, các nghị sĩ được thông báo, họ không có quyền phủ quyết.

Trong một hệ thống mà phe hành pháp chiếm đa số vững chắc, cơ chế này gần với một sự minh bạch hình thức hơn là một sự kiểm soát dân chủ thực sự. Hơn nữa, đàng sau những ngôn từ về an ninh, quyết định ngày 21 tháng tư còn bao gồm một chiều kích công nghiệp mà các văn bản chính thức xác nhận với một sự thẳng thắn khác thường.

Những đường lối chủ đạo mới chỉ ra một cách rõ ràng rằng duy trì một nền công nghiệp quốc phòng mạnh mang một tầm quan trọng to lớn để bảo đảm an toàn cho năng lực sản xuất nội địa vốn hỗ trợ cho khả năng theo đuổi cuộc chiến đấu trong trường hợp khẩn cấp.”

Bắc Kinh không để chờ lâu, đã phản ứng: Trung Quốc đã cáo buộc Nhật Bản đã gây nguy cơ làm mất ổn định của khu vực và phản bội những cam kết hoà bình của họ. Tokyo đã bác bỏ những phê phán này, khẳng định rằng các quyết định của họ nhắm đến tăng cường răn đe để tránh “chiến tranh và xung đột”.

KHINH HẠM MOGAMI, BIỂU TƯỢNG CỦA MỘT LIÊN MINH KHÔNG CHÍNH THỨC

Ngày 18 tháng tư 2026, trên chiếc tàu JS Kumano, một khinh hạm lớp Mogami của Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản, neo đậu ở cảng Melbourne, hai bộ trưởng Quốc phòng của Nhật Shinjiro Koizumi và của Úc Richard Marles đã ký một hợp đồng mà nhiều nhà quan sát đã đánh giá là có tính lịch sử.

Tập đoàn công nghiệp khổng lồ Mitsubishi Heavy Industries của Nhật Bản sẽ giao ba khinh hạm lớp Mogami cho Royal Australian Navy (Hải quân Hoàng gia Úc) trị giá 7,15 tỷ đô la, đợt giao đầu tiên được dự kiến vào tháng 12/2029. Sự lựa chọn nơi chốn và cơ sở hỗ trợ tổ chức buổi lễ không phải là điều đơn giản: ký kết trên một chiếc tàu chiến của Nhật Bản neo đậu trong một cảng của Úc, vài ngày sau khi tàu JS Kumano của Nhật tham gia tập trận hải quân đa phương Kakadu cho thấy rõ rằng từ nay Nhật Bản là một đối tác quân sự toàn phần, có khả năng phóng chiếu các thiết bị cũng như độ tin cậy trong tác chiến của mình.

Năm 2016, Nhật Bản đã gặp một thất bại cay đắng khi Úc gọi chào thầu các tàu ngầm, Nhật Bản đã thua nhóm DCNS (Direction des Constructions Navales et Services) của Pháp. Một thập kỷ sau, MHI (Mitsubishi Heavy Industries) đã thắng trở lại trên thị trường Úc, lần này là đối mặt với Thyssenkrupp Marine Systems của Đức. Thắng lợi càng có ý nghĩa khi hợp đồng liên quan đến tổng cộng 11 con tàu, 8 con tàu sau sẽ được xây lắp ngay tại Úc, tại xưởng đóng tàu Henderson ở Perth, thuộc hãng đóng tàu Austal.

MHI đã thắng không chỉ vì duy nhất các lý do địa chính trị. Những ưu điểm nội tại của khinh hạm lớp Mogami đã là một nhân tố quyết định. Khinh hạm này nổi bật nhờ khả năng tàng hình và cường độ của các năng lực của nó: hệ thống phóng thẳng đứng 32 ô, tên lửa chống hạm và tên lửa đất đối không, khả năng vận hành máy bay trực thăng chiến đấu.

Nhưng lập luận mạnh nhất có lẽ thuộc về con người, vì khinh hạm lớp Mogami chỉ cần một đoàn 90 thuỷ thủ, nghĩa là chỉ bằng một nửa quân số cần thiết cho khinh hạm ANZAC mà nó sẽ thay thế. Trong bối cảnh khó tuyển dụng thuỷ thủ ở phương Tây, lợi thế này mang tính quyết định. Hơn nữa, bán kính hoạt động của nó đem lại một sức bền hoàn toàn thích hợp với vùng biển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng lớn.

Tuy nhiên có những tiếng nói hoài nghi về năng lực của Úc trong việc xây lắp 8 khinh hạm còn lại trên đất Úc, một chương trình đòi hỏi việc chuyển giao công nghệ phức tạp và một sự biến đổi căn bản của xưởng đóng tàu Henderson. Marles đá xoá tan những nghi ngờ này, khẳng định rằng chương trình Mogami sẽ là “xương sống” của hoạt động đóng tàu của Úc cho đến những năm 2030.

Tài liệu được ký kết tại Melbourne, được đặt tên là “Mogami Memorandum”, khẳng định lại cam kết của hai quốc gia ủng hộ một sự hợp tác công nghiệp quốc phòng và đặt những cột mốc cho một nền tảng công nghiệp “liên thông” giữa Tokyo và Canberra. Khi vận hành những phương tiện hải quân như nhau, hải quân của hai nước sẽ cải thiện khả năng tương tác, đơn giản hoá cơ sở hậu cần chung, tăng cường năng lực phối hợp hành động, trong trường hợp khủng hoảng. Đó chính xác là điều mà Tokyo ấn định trong đường lối chủ đạo mới về xuất khẩu, hội tụ công nghệ như là vectơ của hội tụ chiến lược.

Quan hệ Úc – Nhật Bản đã đi qua một quãng đường dài. Từ lâu bị gò bó trong một quan hệ hợp tác kinh tế bền chặt, quan hệ này đã biến đổi thành quan hệ đối tác toàn diện, được hỗ trợ bởi sự hội tụ những nhận thức chung về mối đe doạ Trung Quốc và cùng thuộc về Quad[*] (Quadrilateral Security Dialogue - Đối thoại An ninh Tứ giác), cùng với Mỹ và Ấn Độ.

Đối với Canberra, hợp tác này nằm trong khuôn khổ của tái vũ trang từ mọi góc độ. Úc tìm cách gia tăng hơn gấp đôi hạm đội các tàu chiến lớn trong thập kỷ sắp tới, với mục tiêu ngân sách quốc phòng đạt 3% tổng sản phẩm nội địa từ nay đến 2033. Cùng nhau, hai quốc gia hiện thực hoá một tầm nhìn về khu vực được xây dựng trên lực lượng răn đe tập thể giữa các nền dân chủ, một tầm nhìn mà Bắc Kinh nhận thức không sai là trực tiếp chống lại Bắc Kinh.

NHẬT BẢN THAM GIA KHIÊU VŨ CHIẾN ĐẤU

Gần như cùng lúc với các ký kết ở Melbourne, một sự kiện đầu tiên khác trong lịch sử đã diễn ra trên đảo Luzon thuộc Philippines. Ngày 20 tháng tư đã khai mạc tập trận quân sự Balikatan (thuật ngữ tagalog nghĩa là “vai kề vai”) quy tụ 17.000 quân nhân của bảy quốc gia dưới sự bảo trợ của Mỹ và Philippines.

Nhật Bản đã tham gia lần đầu tiên không còn là với tư cách quan sát viên, mà như một lực lượng chiến đấu toàn diện, với 1400 binh sĩ, ba tàu chiến và hai máy bay. Song song, cuộc tập trận Salaknib, lúc đầu là Mỹ và Philippines, đã quy tụ khoảng 7000 nhân lực của 5 nước, với 420 quân nhân Nhật Bản, lần đầu tiên thực hành phối hợp điều khiển và tập trận bắn đạn thật cùng với các đối tác Mỹ và Philippines.

Tuỳ viên quốc phòng Nhật Bản, sĩ quan cấp tá Yamashita Hideki, đã tóm tắt lập luận làm cơ sở cho sự xoay chuyển này: Môi trường an ninh bao quanh Nhật Bản ngày càng trở nên nghiêm ngặt. Trong bối cảnh này, chúng tôi có nhiều sáng kiến khác nhau để duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương.” Một ngôn ngữ tiết chế cần thiết, được cân nhắc để không gây hốt hoảng trong dư luận xã hội Nhật Bản đồng thời biện hộ cho những quyết định có những hệ quả quan trọng.

Chiều kích có ý nghĩa nhất của Balikatan 2026 nằm ở địa lý của nó. Các cuộc tập trận cố tình được tổ chức trong phạm vi các không gian bị tranh chấp nhất trong khu vực. Lần đầu tiên, các tập trận tấn công trên biển được tổ chức trên đảo Itbayat, điểm cực bắc của Philippines, cách Đài Loan 155 cây số. Các  cuộc tập trận đổ bộ bắn đạn thật được dự kiến trong tỉnh Zambales, cách đảo đá ngầm Scarborough 230 cây số, đảo này do Trung Quốc kiểm soát.

Bản đồ này gián tiếp phác hoạ những kịch bản mà các bên tham gia muốn chuẩn bị. Cũng cần ghi nhận là một tuần trước khi Balikatan khai mạc, một khu trục hạm của Nhật Bản đã thực hiện một chuyến băng qua eo biển Đài Loan, đó cũng là lần đầu tiên và đã khiến Trung Quốc phản kháng mạnh mẽ. Tokyo theo nhiều tấm gương của các nước khác và Bắc Kinh về phần mình đã đưa ra lời phản kháng mang tính nghi thức nhưng Trung Quốc có thể đo lường tầm quan trọng của sự thay đổi phương hướng của Nhật Bản.

Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Guo Jiakun, đã cảnh báo Nhật Bản và khuyến cáo nước này nên “thận trọng” trong lĩnh vực an ninh. Bắc Kinh cũng đã thông báo sẽ thực hiện tập trận bao gồm bắn đạn thật trong vùng biển phía đông đảo Luzon, chính xác là nơi diễn ra Balikatan.

Trung Quốc đáp trả các cuộc tập trận quân sự này bằng các cuộc tập trận quân sự, trong cùng một vùng biển, trong cùng một thời điểm. Đó là một cuộc phô diễn sự có mặt, nhưng cũng là một thông điệp gửi đến các nước tham gia, đặc biệt là Nhật Bản, việc tham gia của Nhật Bản vào nhóm các quốc gia thực hiện các cuộc tập trận trong vùng này tạo nên, dưới mắt Bắc Kinh, thêm một hành động vượt lằn ranh đỏ.

MỘT SỰ BIẾN ĐỔI NHẤT QUÁN, NHỮNG MÂU THUẪN CÓ THỰC

Logic kết nối các sự kiện này là logic của khả năng tương tác như là một chiến lược răn đe. Trong một môi trường khu vực bị thống trị bởi Trung Quốc đang phát triển mạnh, không một quốc gia đơn độc nào có thể tự bảo đảm an ninh cho mình. Câu trả lời của Nhật Bản được đặt trong khuôn khổ xây dựng một mạng lưới dày đặc các đối tác quân sự tác chiến được dựa trên chia sẻ trang thiết bị, huấn luyện chung và hội tụ các học thuyết.

Thế là trong vòng vài ngày Nhật Bản đã xác định lại một cách dứt khoát mối quan hệ của mình với cường quốc quân sự. Bãi bỏ phủ quyết về vũ khí sát thương, hợp đồng về khinh hạm lớp Mogami và sự tham gia chiến đấu Balikatan là ba thành phần của bước ngoặt chiến lược, được thực hiện có phương pháp bởi một chính phủ đã lựa chọn chính thức thừa nhận sự kết thúc giai đoạn một nước Nhật Bản theo chủ nghĩa hoà bình một cách bắt buộc, việc từ bỏ sức mạnh quân sự không phải là một lựa chọn được đồng thuận trong tự do mà là một sự bắt buộc bị áp đặt do bị thua trận, sự bắt buộc này được duy trì bởi mặc cảm tội lỗi trong lịch sử và có thể chấp nhận được dưới sự bảo hộ của Mỹ.

Từ nay, vấn đề trung tâm được đặt ra không hẳn là biết sự biến đổi này là chính đáng hay không mà là đánh giá liệu nó có đóng góp vào sự ổn định của khu vực hay nó dung dưỡng một vòng xoáy trôn ốc của tình trạng quân sự hoá mà không ai kiểm soát được kết cục.

Tokyo trả lời là tăng cường răn đe tập thể là bảo đảm tốt nhất chống lại chiến tranh, Bắc Kinh vặn lại là logic này mang tính tự thực hiện và đương nhiên dẫn đến tình trạng leo thang.

Vài nét về tác giả

Sébastien Raineri hiện cư trú tại Tokyo, ông đã giới thiệu văn hoá và nghệ thuật Nhật Bản cho nhiều kênh truyền thông, bao gồm Pen Magazine, Metropolis, Time Out Tokyo, Yokogao và Deeper Japan.

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn: Le tournant strategiwur fu Japon: exportaation d’armes, manœuvres aux Philippines, Asialyst, 28.4.2026.




Chú thích:

[*] Đối thoại an ninh tứ giác, tiếng Anh là Quadrilateral Security Dialogue (Quad) là một hợp tác không chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ. Hợp tác này bao gồm những gặp gỡ ngoại giao, các tập trận quân sự cũng như chia sẻ thông tin có tính chất quân sự. Hợp tác này được xem như là một phản ứng chống lại cường quốc ngày càng mạnh là Trung Quốc.

Print Friendly and PDF