MỘT LÝ THUYẾT THẦN HỌC CHÍNH TRỊ NGẮN GỌN VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Tác giả: Nicolas Guilhot (Nhà sử học)
|
Với việc công bố Magnifica Humanitas, thông điệp đầu tiên của Giáo hoàng Leo XIV, một cuộc xung đột chưa từng có từ nhiều thế kỷ nay giữa quyền lực thế tục và quyền uy mục vụ đã nổ ra. Qua việc đặt các mô hình ngôn ngữ lớn dưới quyền uy/auctoritas của Thần Ngôn Thần Thánh, nền Đại Công Nghệ/Big Tech không chỉ tạo ra một hệ tư tưởng phản động - mà còn đang xây dựng một cơ sở hạ tầng đạo đức thay thế, đặt Giáo hội vào nghĩa vụ giáo lý phải chống lại nó. |
Hình minh họa của PTKT (do A.I. tạo)
Năm 1245, trong khi các nhà tư tưởng của Đế quốc La Mã German Thần thánh công kích Giáo hoàng Innocent IV, Hoàng đế Frédéric II đã buộc tội Giáo hoàng khuyến khích tội lỗi và can thiệp vào chính trị đế chế. Đúng là Innocent đã gọi vị vua này là tiền thân của kẻ chống Chúa/prenuntius Antichristi, và Giáo hoàng tiền nhiệm đã rút phép thông công vị vua này. Kể từ đó, vẻ bề ngoài chắc chắn đã thay đổi - hoàng đế trần truồng và Giáo hoàng đi giày thể thao Nike - nhưng kịch bản về cơ bản vẫn không thay đổi.
Mới đây, Trump tuyên bố trên các mạng xã hội rằng Giáo hoàng Leo XIV “yếu đuối trong vấn đề tội phạm và gây tai họa cho chính sách đối ngoại”. Trong sự phản đối ồn ào và dữ dội sau đó, các nhà bình luận đã bỏ qua một điểm đáng lẽ phải được nhấn mạnh: Trump hoàn toàn có lý. Nhưng nếu vị Giáo hoàng người Mỹ này thực sự khoan hòa với tội phạm, thì chắc chắn không phải do tính khí ôn hòa đặc trưng của vùng Trung Tây Mỹ (Midwest) (quê hương của Giáo hoàng -ND), mà là do một ràng buộc hiến pháp. Nhiệm vụ của Giáo hoàng không phải là phán xét và trừng phạt, điều đó sẽ tương đương với việc chiếm đoạt các đặc quyền thiêng liêng. Sứ mệnh của Giáo hoàng không phải là đẩy nhanh sự xuất hiện của Ngày Phán Xét Cuối Cùng, mà ngược lại là biến thời gian trước đó thành một chân trời rộng mở để truyền bá Phúc Âm và thực hành các đức tính Kitô giáo.
Cuộc khủng hoảng âm ỉ giữa chính quyền Trump và Giáo hoàng có liên quan đến chức năng kiềm chế này vốn là chức năng của Giáo hội với tư cách là một quyền lực lịch sử. Trong khi các Giáo phụ, đặc biệt là Tertullian và John Chrysostom, nhìn thấy trong Đế chế La Mã sức mạnh bí ẩn *katechon*, sức mạnh kìm hãm mà Thánh Phaolô trong Thư thứ hai gửi các tín hữu Thessalonique ám chỉ - một sức mạnh được cho là sẽ ngăn chặn sự xuất hiện của Antéchrist và tình trạng vô chính phủ báo hiệu ngày tận thế - sự sụp đổ của Đế chế đã khiến những người kế nhiệm họ, bắt đầu từ thánh Augustin, đồng nhất sức mạnh kìm hãm này với sứ mệnh truyền giáo của chính Giáo hội. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy điều này được khẳng định lại trong thông điệp đầu tiên của Leo XIII, *Magnifica Humanitas*, kêu gọi một sức mạnh “có khả năng làm chậm lại nơi mọi thứ đang tăng tốc” (§61). Nhưng đây chính là vấn đề: bởi vì nó làm suy yếu sự phân biệt giữa quyền lực thế tục và quyền uy mục vụ, trí tuệ nhân tạo mang trong mình mầm mống của một cuộc xung đột quyền lực giữa Giáo hoàng và hoàng đế chưa từng có từ nhiều thế kỷ nay.
Bằng cách khuyến khích sự phát triển không kiềm chế của trí tuệ nhân tạo để chống lại sự suy giảm quyền lực của Mỹ trên trường quốc tế, Washington đã phải chấp nhận thuyết tận thế nghìn năm/millénarisme của Thung lũng Silicon. Tất yếu, chính quyền Trump lại tự đặt mình trên một quỹ đạo xung đột với Giáo hội, một thể chế được thành lập để phản đối những người theo chủ nghĩa gia tốc thuộc mọi phe phái, dù họ là những người bi quan hay những người theo chủ nghĩa bảo thủ, những người từ đó bị coi là dị giáo.
Như dự đoán, thông điệp Magnifica Humanitas đã xem xét kỹ lưỡng những mối nguy hiểm tiềm tàng của AI: logic của một cuộc chạy đua vũ trang làm tăng nguy cơ xung đột; sự mở rộng của bóng ma chiến tranh thành những hình thức khó nhận biết hơn như các cuộc xung đột “lai tạp” và các chiến dịch gây ảnh hưởng nhắm vào dư luận, nay là trọng tâm của các cuộc tấn công chính xác liên tục; sự phát triển của chủ nghĩa khai thác kỹ thuật số làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng về phát triển; sự xói mòn khái niệm “lợi ích chung” thông qua việc phá bỏ sự “phụ thuộc lẫn nhau” toàn diện về kinh tế; những rủi ro đối với tương lai của lao động; sự bóc lột một lợi ích chung – ngôn ngữ – và lao động trí tuệ trong quá khứ vì lợi ích của một số ít người; những ảo tưởng vượt lên trên con người về một loài người bị thu hẹp lại thành cơ sở hạ tầng sinh học của một thực thể thông minh đặc biệt, sánh ngang với cơn ác mộng được mô tả trong phim truyện nhiều tập Pluribus… Nhưng danh sách này đã quá quen thuộc, và đó không phải là điều làm cho tài liệu này trở nên quan trọng.
Vấn đề thực sự được đặt ra trong thông điệp này là một vấn đề triệt để hơn. Lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ, Giáo hội phải đối mặt với một thế lực tự xưng là có quyền uy (auctoritas), tính chính đáng của Thần Ngôn Thần Thánh, nay được thể hiện trong các mô hình ngôn ngữ lớn, và được ban cho quyền lực/potestas của các đế chế mới, mà bù lại Giáo hội lại phụ thuộc vào. Henry Kissinger có lẽ đã không sai khi, vào cuối đời, ông gợi ý rằng, trong tương lai gần, việc “gán một loại thần tính cho chính máy móc”, vốn sẽ trở thành kẻ tạo ra các trật tự chính trị mới và là nguồn thay thế cho quyền lực thần thánh, không phải là điều không thể hình dung được.
Để duy trì tốc độ phát triển của mình, Nền Đại Công Nghệ đã lấy ngày tận thế làm chân trời lịch sử và đảm nhận vai trò cứu rỗi nhân loại bằng cách giải phóng một sức mạnh sáng tạo có khả năng đảm bảo sự sống còn của mình cũng như hủy diệt chính mình. Chủ nghĩa gia tốc vốn là bầu không khí chung của trí tuệ nhân tạo thực chất đại diện cho một đạo đức được xây dựng trên niềm tin vào một sự kiện cứu thế sắp xảy ra. Dưới danh nghĩa của chủ nghĩa vị tha hiệu quả/effective altruism - một triết lý từ thiện cho rằng khả năng mang lại lợi ích trong tương lai phải thắng thế so với những tác động tiêu cực mà nó tạo ra ở hiện tại - đạo đức đáng ngờ này chống đối bất kỳ ràng buộc điều tiết nào có thể cản trở sự phát triển mà tốc độ và quy mô được cho là sẽ đảm bảo sự cứu rỗi của nhân loại.
Vấn đề là phải lao nhanh hướng tới ngày hồi sinh (parousia) của công nghệ và lên án bất kỳ trở ngại nào có thể làm chậm cuộc đua này bằng những thuật ngữ chỉ có thể mang tính hậu sự. Đồng thời là sự tăng cường công nghệ và lời tiên tri về Đấng Cứu Thế, AI mang trong mình lời hứa về một “nhân loại tự huấn luyện để thay thế chính bản thân”, để lấy lại cụm từ của các nhà sử học Quinn Slobodian và Ben Tarnoff. Những tầm nhìn hậu nhân văn về một cuộc hành trình thay thế này đặt ra một thách thức trực tiếp đối với một thể chế giáo hội chỉ có thể tự coi mình là người bảo đảm và người giám hộ duy nhất của nhân loại. Do đó, Nền Đại Công Nghệ không thể tránh khỏi việc cạnh tranh trực tiếp với Giáo hội để giành quyền bá chủ mục vụ. Mặc dù có vẻ là không đáng kể, những tuyên bố thần học của J.D. Vance và những suy tư về tận thế của Peter Thiel lại là triệu chứng của sự cạnh tranh chưa từng có này, đang ảnh hưởng đến Giáo hội Công giáo Mỹ từ bên trong, đặc biệt là với thành phần bảo thủ mạnh mẽ của nó.
Đây là một công nghệ mà điều kiện lịch sử để triển khai đòi hỏi một phản ứng chính trị mang tính phản động.
Điều này dẫn đến nghĩa vụ giáo lý của Giáo hội La Mã phải chống đối những ảo tưởng đế quốc về quyền lực toàn cầu được trí tuệ nhân tạo nuôi dưỡng. Đây là ý nghĩa sâu sắc và không khoan nhượng của thông điệp Magnifica Humanitas. Còn quá sớm để nói lập trường này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến những người Công giáo ủng hộ Trump, hoặc liệu họ sẽ chọn cách lắp ráp thần học tạm thời, sự ly khai cá nhân, hay sự rời bỏ chính trị. Nhưng thông điệp này làm sáng tỏ cuộc xung đột thần học-chính trị đang nổi lên ngày nay giữa Giáo hoàng và các vị hoàng đế mới và làm rõ các điều khoản của xung đột này. Những điều này vượt xa những lời kêu gọi dự kiến về việc điều tiết trí tuệ nhân tạo hoặc tìm kiếm sự “phù hợp” về giá trị. Vấn đề không còn là vấn đề sử dụng, mà là vấn đề về cơ sở hạ tầng vật chất, nếu không phải là mang tính bản thể luận. Ý nghĩa thực sự của thông điệp không nằm ở những tuyên bố ngoại giao đạo đức về những lợi ích tiềm năng của công nghệ đôi khi được tìm thấy, mà nằm ở lời kêu gọi phổ quát “ngăn chặn việc xây dựng một tháp Babel khác” (§16), một biểu tượng của các đế chế mới.
Sự đối lập này cũng không thể quy giản thành một vấn đề đơn giản về hệ tư tưởng, mà công nghệ chỉ là véc tơ công cụ. Thông điệp của Giáo hoàng nhiều lần nhắc lại điểm này: trí tuệ nhân tạo không phải là “trung lập về mặt đạo đức” (§104); nó là hiện thân của các lựa chọn chuẩn tắc, của các mối quan hệ quyền lực - và đặc biệt là các hình thức lịch sử của sự phân công lao động xã hội, như Matteo Pasquinelli đã chỉ ra - và của các tương quan quyền lực; trên hết, nó tự thể hiện mình như một cơ sở hạ tầng đạo đức thay thế và khó kiểm soát.
Do đó, thật sai lầm khi chỉ coi nó như con ngựa thành Troy của một cuộc tấn công ý thức hệ đã tồn tại từ trước, ít nhiều mang tính phát xít, mà nó chỉ là phương tiện và công cụ khuếch đại. Ngược lại, đây là một công nghệ mà các điều kiện triển khai lịch sử của nó đòi hỏi sự hỗ trợ chính trị phản động, và chính thiết kế của nó củng cố sự lan rộng của logic huy động toàn diện.
Bước ngoặt ý thức hệ lớn năm 2024, khi các nhân vật chính ở Thung lũng Silicon tự điều chỉnh để phù hợp với chính quyền Trump, chủ yếu là kết quả của những hạn chế mang tính cấu trúc. Trước hết là sự tăng vọt lãi suất làm gia tăng sự phụ thuộc của ngành vào Nhà nước, sau những năm huy hoàng của chính sách nới lỏng định lượng/quantitative easing, trong đó các công ty công nghệ đã có thể phát triển cơ sở hạ tầng của mình một cách độc lập với nhu cầu và không cần phải đáp ứng yêu cầu lợi nhuận.
Tiếp theo, sự cạnh tranh địa chiến lược với Trung Quốc, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt thể hiện qua kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025”, mà vấn đề chưa ngã ngũ của Hoa Kỳ không gì khác ngoài chính sách “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”: cuộc chiến thương mại, việc tăng cường kiểm soát xuất khẩu các công nghệ tiên tiến và lời kêu gọi tái định cư sản xuất/reshoring nhằm xây dựng sự độc lập về vật chất đối với các chuỗi sản xuất toàn cầu hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực bán dẫn, tạo nên một chủ nghĩa bảo hộ trên thực tế, đẩy toàn bộ ngành hướng tới chủ nghĩa dân tộc càng ngày càng được ủng hộ khi nó phục vụ lợi ích kinh tế của ngành (chẳng hạn như sự ám ảnh với việc tích hợp sản xuất theo chiều dọc như ở một người Elon Musk).
Do đó, không thể đơn giản hóa vấn đề khi chỉ thấy trong sự áp đặt một chính sách đồng nhất/Gleichschaltung về ý thức hệ của giới tinh hoa công nghệ/tech bros ảnh hưởng của những lời lẽ khoa trương của Curtis Yarvin hay những lời nói lan man của Peter Thiel. Cũng như không thể giải thích điều này bằng cách phân tích những luận điểm cầu kỳ hơn của CEO Palantir, Alexander Karp: bằng cách kêu gọi việc tái cấu trúc tổ hợp công nghiệp quân sự chống lại những theo đuổi phù phiếm của chủ nghĩa tự do cá nhân và yếu đuối, người cựu sinh viên của Habermas này có vẻ giống người thừa kế tinh thần của Albert Speer hơn là của nhà lý thuyết hành động tương giao, nhưng sự tiến hóa này được giải thích ít hơn bởi lịch sử tư tưởng mà bởi những lợi ích ràng buộc Palantir với cánh quân sự của Nhà nước. Toàn bộ những diễn ngôn này chỉ đơn thuần đưa ra một hình thức ít nhiều mạch lạc cho các xu hướng cơ bản. Sự tập hợp của giới tinh hoa công nghệ này cũng không phải là kết quả của lòng nhiệt thành của đảng Dân chủ đối với việc điều tiết chắc chắn là quá yếu ớt để biến Marc Andreessen hay Sam Altman thành những người bảo thủ tái sinh chỉ sau một đêm. Đằng sau những hiện tượng này là chức năng tầm thường hơn nhiều của hệ tư tưởng, đó là việc diễn đạt một cách tổng quát lợi ích của một cấu hình xã hội mới nổi lên: trong trường hợp này, là sự cấu kết giữa những ông trùm mới của nền kinh tế Mỹ và một quốc gia đang ngày càng phải đối mặt với những giới hạn của quyền bá chủ của nó trên trường quốc tế. Kết quả của sự cấu kết này là một hình thức phụ thuộc lẫn nhau, trong đó Nền Đại Công Nghệ tự định vị mình như một nhà cung cấp dịch vụ cho chủ quyền quốc gia đang trải qua quá trình “nền tảng hóa/platformisation”. Hẳn là những biểu hiện về mặt hệ tư tưởng của liên minh mới nổi này vẫn chưa tìm được hình thức cuối cùng của chúng, và nếu chúng ta có thể quan sát thấy một số sự lộn xộn, đó là bởi vì logic của việc cartel hóa trong lĩnh vực này và sự cộng sinh với Nhà nước không phải là không có những căng thẳng.
Toàn bộ giá trị của thông điệp này nằm chính ở chỗ nó trực tiếp đề cập đến vấn đề trí tuệ nhân tạo về mặt cơ sở hạ tầng, tức là về loại cộng đồng mà trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra. Vấn đề không phải là giải mã những chú giải mang tính ý thức hệ trên bề mặt của chúng, mà là hiểu được logic định hình từ bên trong xã hội, quyền lực chính trị và quan hệ quốc tế trong bối cảnh xung đột gay gắt. Thật vậy, có những công trình hạ tầng, giống như Tháp Babel, hứa hẹn sẽ thống nhất nhân loại thông qua “một ngôn ngữ, một công nghệ, một hướng đi” (§7) nhưng trên thực tế lại tạo ra sự hiểu lầm, chia rẽ và xung đột.
Trong khi những công trình Babel đang được xây dựng hiện nay hướng tới không gì khác ngoài sao Hỏa và nuôi dưỡng những giấc mơ đế chế mới, thì Magnifica Humanitas không chỉ tìm cách ngăn chặn những thảm họa mới, có lẽ còn lớn hơn những gì được đề cập trong cuốn Sách Sáng Thế, mà còn kêu gọi một nghệ thuật xây dựng khác, một nghệ thuật thật sự chính trị, kiên nhẫn, dựa trên chủ nghĩa hiện thực và sự thận trọng, trên sự lao động không ngừng tạo ra cái chung, được tạo nên từ những đột phá và những bất trắc, những tiến bộ và những trở ngại, sự hợp tác và sự đa dạng.
Nghịch lý của một Giáo hội ca ngợi “chủ nghĩa hiện thực đích thực” “không từ bỏ việc thay đổi thế giới” nhưng lại tính đến “các lợi ích, nỗi sợ hãi, trở ngại và tương quan quyền lực” (§218) chỉ là bề ngoài. Chủ nghĩa hiện thực chính trị luôn là liều thuốc giải độc cho những Tháp Babel chính trị, những cám dỗ đế quốc về sự chấm dứt lịch sử. Nhưng nếu Giáo hoàng có thể bảo vệ vai trò thế tục của chính trị trước thuyết thiên niên kỷ công nghệ của các đế chế mới, thì đó cũng là bởi vì, vào thời điểm mà chiến tranh, khủng hoảng khí hậu và sự bùng nổ của các bất bình đẳng dường như đang đẩy nhanh thời gian còn lại, việc thực thi một quyền lực “có khả năng làm chậm lại” từ nay chỉ có thể đồng nghĩa với việc theo đuổi công lý và một dự án bình đẳng.
Ghi chú của biên tập viên: Bài viết này là phiên bản mở rộng (và bằng tiếng Pháp) của một bài luận được đăng trên blog Prickly Paradigm.
Bài viết này được đăng lần đầu tiên vào ngày 4 tháng 6 năm 2026 trên nhật báo AOC.
Nhà sử học, Giáo sư Lịch sử Tư tưởng tại Viện Đại học Châu Âu ở Florence
Dịch giả: Phạm Như Hồ
Nguồn: “Brève théologie politique de l’intelligence artificielle”, AOC, 28.8.2026.