XỨ SỞ CỦA SỰ GIÁM SÁT CÔNG NGHỆ, “GIÁM SÁT VÀ TRỪNG PHẠT Ở TRUNG QUỐC”
Tác giả: Pierre-Antoine Donnet
![]() |
| Ảnh bìa: Jean-Philippe Béja tại nhà riêng. DR. |
Trong cuốn sách mới nhất của mình, “Giám sát và Trừng phạt ở Trung Quốc: Trại lao động cải tạo và Giám sát công nghệ từ năm 1946 đến nay”, do nhà xuất bản La Découverte phát hành, nhà Hán học người Pháp Jean-Philippe Béja đã tiết lộ mức độ mà công nghệ cho phép chính quyền Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự hiện diện khắp nơi của việc giám sát người dân. Ông nhấn mạnh: “Các trại không biến mất cùng với cái chết của Mao Trạch Đông. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, trại lao động cải tạo (Laogai) đã được sử dụng ở Tân Cương để biến người Duy Ngô Nhĩ thành ‘công dân kiểu mẫu’. Được hỗ trợ bởi một hệ thống giám sát công nghệ quy mô lớn, nó vẫn là một công cụ thiết yếu của Đảng trong suốt tám mươi năm qua.”
Lý do sâu xa nào khiến Tập Cận Bình coi xã hội dân sự và mọi thứ cấu thành nên nó là mục tiêu ưu tiên ngay từ năm 2012?
Jean-Philippe Béja: Để hiểu điều này, chúng ta cần quay trở lại bối cảnh của thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Ban lãnh đạo Đảng tương đối yếu, và nhất là bị chia rẽ giữa các phe phái khác nhau, điều không thể chấp nhận được đối với một Đảng theo chủ nghĩa Lênin. Sự chia rẽ này đã cho phép xã hội dân sự lên tiếng. “Xã hội dân sự” có thể hơi quá lời, nhưng hãy nói rằng, nó đã cho phép xã hội lên tiếng. Như mọi khi trong lịch sử nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khi có một mức độ đấu tranh nhất định giữa hai đường lối, các khoảng trống sẽ mở ra, và xã hội tận dụng chúng để cố gắng biểu lộ những đòi hỏi của mình. Đây chính xác là những gì đã xảy ra trong nhiệm kỳ thứ hai của Hồ Cẩm Đào.
Các tổ chức phi chính phủ cơ sở bắt đầu phát triển và lên tiếng. Chắc chắn, đã có một làn sóng đàn áp trong Thế vận hội với việc bắt giữ Lưu Hiểu Ba[1], nhưng điều này không chấm dứt sự trỗi dậy của các không gian tự trị xuất hiện cùng với sự phát triển của internet, dẫn đến cái có thể được gọi là xã hội dân sự trên mạng.
Đối với một chế độ cộng sản, một xã hội bắt đầu tự tổ chức đại diện cho một mối nguy hiểm nghiêm trọng. Đây là điều đã xảy ra vào năm 1989, và Tập Cận Bình mong muốn lập lại trật tự, trước hết bằng cách giành lại quyền kiểm soát Đảng và, một khi ông ta lên đến đỉnh cao của tổ chức, bằng cách tấn công những không gian này, những nơi có nguy cơ thách thức quyền lực. Đó là lý do tại sao ông ta nhắm mục tiêu vào xã hội dân sự. Nghịch lý thay, một trong những tổ chức nổi bật nhất thời bấy giờ là Phong trào Công dân Mới, mà một trong những yêu cầu chính là công khai tài sản của các quan chức và chống tham nhũng - điều cốt lõi trong chính sách do Tập Cận Bình khởi xướng. Nhưng chính sách phải vẫn là độc quyền của Đảng, và không thể nào chấp nhận để xã hội chủ động thực hiện bất kỳ sáng kiến nào. Đây chắc chắn là lý do tại sao ông ta tấn công xã hội dân sự ngay khi lên nắm quyền.
Liệu chúng ta có thể nói rằng với sự lên nắm quyền của Tập Cận Bình, Trung Quốc đã bước vào một mùa đông chính trị trong mười bốn năm qua?
Chúng ta có thể gọi đó là một mùa đông chính trị, chúng ta cũng có thể gọi đó là, như tôi đã gọi, một bước thụt lùi lớn. Nhất là, chúng ta có thể gọi đó là sự tái toàn trị hóa chế độ. Không phải là chế độ đã từ bỏ bản chất toàn trị của mình, nhưng dưới sự lãnh đạo của Hồ Văn, nó đã nới lỏng sự kiểm soát đối với xã hội. Tập Cận Bình đã phản ứng với hiện tượng này theo hai cách.
Một mặt, ông tiến hành một cuộc chỉnh đốn hoàn toàn Đảng bằng cách đàn áp các phe phái đã hình thành và dựa vào các phương pháp cũ như sử dụng hệ tư tưởng. Mặt khác, ông tái khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội - lặp lại câu nói của Mao: “Bắc, Nam, Đông, Tây, Đảng cai trị tất cả.” Đây là một biểu hiện của sự tái toàn trị hóa chế độ. Tuy nhiên, đó không phải là chủ nghĩa toàn trị theo kiểu Stalin: thị trường vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định. Nhưng, tất nhiên, đó là một sự cứng rắn hóa cực kỳ rõ rệt của chế độ. Vậy sao không gọi đó là mùa đông, vì sau mùa đông là mùa xuân? Cứ xem như là chúng ta đang chờ đợi mùa xuân.
Hậu quả của việc Trung Quốc bước vào “mùa đông chính trị” này, hay như ông nói, một bước thụt lùi lớn là gì?
Chúng ta đang bắt đầu thấy những hậu quả này, dù vẫn còn quá sớm để thấy hết tất cả. Ở một mức độ nào đó, hiệu quả của chế độ là có thể nhận thấy. Về mặt bề ngoài, khi một mệnh lệnh được ban ra từ trung ương, nó phải được áp dụng trên toàn quốc. Điều này vừa đúng vừa sai, bởi vì một trong những hậu quả mà có lẽ chế độ đã không lường trước được là không còn ai dám chủ động nữa.
Một trong những đặc điểm của cái gọi là “phép màu Trung Quốc” trong lĩnh vực kinh tế là sự năng động của đội ngũ cán bộ địa phương, tầm quan trọng của các sáng kiến địa phương; các tỉnh thành đã tận dụng lợi thế so sánh của mình. Với chiến dịch trấn áp mạnh mẽ của Đảng và cuộc chiến chống tham nhũng, các cán bộ không còn dám chủ động nữa. Điều này đã dẫn đến sự suy giảm đáng kể về tính năng động của nền kinh tế. Nếu bạn chủ động, bạn có nguy cơ bị buộc tội tham nhũng, trong khi nếu bạn không làm gì, bạn chắc chắn sẽ không phạm bất kỳ sai phạm nào. Tất cả những điều này đã dẫn đến hiện tượng được gọi là “tangping/bất động”[2], nghĩa đen là nằm im và không chủ động.
Hơn nữa, không gian cho sự thể hiện độc lập xuất hiện trong thời kỳ [cựu Chủ tịch] Hồ Cẩm Đào đang bị thu hẹp nhanh chóng: ví dụ, trước đây từng có các diễn đàn thảo luận trong các hiệu sách. Chúng đã biến mất. Sự kiểm soát của Đảng đối với việc xuất bản và dư luận hiện nay mạnh mẽ hơn nhiều, và một loại lồng sắt đang được áp đặt.
Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc vừa thông qua luật mới về ngôn ngữ và sự đồng hóa những gì chế độ gọi là “các dân tộc thiểu số”. Tại sao lại có sự siết chặt mới này?
Bất cứ điều gì tạo điều kiện cho việc thể chế hóa sự đa dạng xã hội đều bị chế độ của Tập Cận Bình coi là mối nguy hiểm. Điều này thậm chí còn đi xa hơn cả thời Mao. Khi bàn về Tập Cận Bình, chúng ta luôn phải nhớ đến ví dụ về Liên Xô. Ông ta lên nắm quyền bằng cách chiếu cho toàn thể cán bộ xem một bộ phim về sự sụp đổ của Liên Xô, mà ông ta giải thích là do sự xói mòn vai trò của hệ tư tưởng và thực tế là không có ai thực sự mạnh mẽ để đứng lên bảo vệ nó. Ngay từ khi lên nắm quyền, ông ta đã đặt hệ tư tưởng (tư tưởng của bản thân ông) trở lại vị trí trung tâm.
Nhưng hãy nhớ rằng sự sụp đổ của Liên Xô cũng do sự phát triển của các phong trào dân tộc chủ nghĩa trong các “dân tộc thiểu số” gây ra. Tập Cận Bình đã rút ra những hệ quả và quyết định rằng không thể dành bất kỳ không gian nào cho các dân tộc thiểu số này, vốn mang bản chất ly khai. Do đó, họ phải bị Hán hóa. Đây là cách Đảng tiến hành với việc giam cầm người Duy Ngô Nhĩ, người Kazakh và các dân tộc thiểu số khác ở Tân Cương, cũng như một chính sách cứng rắn hơn ở Tây Tạng. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là việc tái khẳng định quyền kiểm soát đối với Nội Mông, nơi lệnh cấm dạy học bằng tiếng Mông Cổ đã gây ra bạo loạn ở một khu vực vốn tương đối yên bình từ cuộc Cách mạng Văn hóa.
Chính sách đồng hóa các dân tộc thiểu số song hành với việc tái khẳng định quyền kiểm soát đối với xã hội người Hán [dân tộc gốc Hoa chiếm đa số ở Trung Quốc]: Đảng muốn có những thần dân tuân phục mình vô điều kiện. Để đạt được điều này, Đảng phải loại bỏ những thực tiễn, bao gồm cả tập quán văn hóa, không phù hợp với hệ tư tưởng của mình.
Xét đến các hành động chính trị của Tập Cận Bình, liệu chúng ta có thể nói rằng chế độ Trung Quốc đang theo đuổi một hình thái chủ nghĩa phát xít?
Cá nhân tôi đã viết rằng Tập Cận Bình đã thiết lập một chủ nghĩa phát xít kiểu Trung Quốc. Thật vậy, có nhiều khía cạnh theo hướng đó: sự sùng bái cá nhân, tất nhiên, nhưng cũng là chủ nghĩa dân tộc và sự khẳng định rằng nhà lãnh đạo vĩ đại là người thừa kế trực tiếp của hoàng đế. Khi Mussolini nói về “mare nostrum (biển của chúng ta, tức là Địa Ttrung Hải - ND)”, tự xưng là người kế thừa Đế chế La Mã, Tập Cận Bình không ngần ngại nói về văn hóa truyền thống Trung Quốc và tự coi mình là người tiếp nối văn hóa này. Tất nhiên, chúng ta phải thêm vào đó chế độ độc đảng, một đặc điểm khác của chủ nghĩa phát xít. Trên thực tế, với những phương tiện mà ông ta có trong tay để kiểm soát cá nhân và xã hội, đối với tôi, điều này dường như vượt xa chủ nghĩa phát xít. Đó là điều mà tôi gọi là một hình thức tân toàn trị. Nhưng đồng thời, chúng ta đang đối mặt với tầm quan trọng chưa từng có của hệ tư tưởng kể từ thời Mao. Quyền lực của Tập Cận Bình vừa là chủ nghĩa phát xít vừa là chủ nghĩa tân Stalin. Nhưng sự tồn tại của các công ty tư nhân hoạt động dưới sự kiểm soát của Đảng lại gợi nhớ đến chủ nghĩa phát xít hơn là chủ nghĩa Stalin. Tân toàn trị, chủ nghĩa phát xít kiểu Trung Quốc, tại sao không?
Liệu vẫn còn có thể thoát khỏi sự giám sát ở Trung Quốc không?
Lịch sử cho thấy luôn có những kẽ hở. Luôn có thể thực hiện các chiến lược chống giám sát. Không có sự kiểm soát tuyệt đối, cũng như không có sự kiểm soát hoàn hảo. Tất nhiên, việc né tránh kiểm soát là vô cùng khó khăn do sự hiện diện khắp mọi nơi của camera. Nhưng về cơ bản, việc thoát khỏi sự kiểm soát của các ủy ban khu phố vốn đã rất khó khăn. Hơn nữa, hãy nhớ rằng: camera giám sát cũng phải do con người vận hành. Và ở đâu có con người, ở đó có sự không hoàn hảo. Việc thoát khỏi sự kiểm soát rất khó, nhưng không phải là không thể. Chúng ta đã thấy trong phong trào Tờ Giấy Trắng vào tháng 11 năm 2022[3] rằng, bất chấp việc kiểm soát internet và các phương tiện liên lạc khác, một phong trào biểu tình đã lan rộng đến nhiều thành phố gần như đồng thời. Điều này chứng tỏ rằng đã có những sự tiếp xúc liên lạc thoát khỏi sự giám sát. Vì vậy, đúng là ngày càng khó khăn, nhưng không bao giờ là không thể.
Việc Tập Cận Bình thực thi quyền lực một mình tiềm ẩn những nguy hiểm. Những nguy hiểm nào?
Nguy hiểm đầu tiên hiển nhiên là chứng hoang tưởng, khi nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi ngay cả trong số những người thân cận nhất: bạn thăng chức cho ai đó chính xác vì họ đáng tin cậy, và sau một thời gian bạn lại nghĩ, “Không, họ sẽ âm mưu chống lại tôi,” và bạn loại bỏ họ. Một ví dụ gần đây là Tướng Trương Diều Hạ. Vào cuối triều đại của mình, điều này cũng xảy ra với Stalin, người nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi và quay lưng lại với những người ông đã thăng chức. Điều này lại đang xảy ra với Tập Cận Bình. Nguy hiểm khác của việc nắm quyền một mình là không ai dám đặt ta trước thực tế và nói cho ta biết điều gì sai. Điều này dẫn đến việc đưa ra quyết định trong một thế giới ảo tưởng, và ta có nguy cơ mắc phải những sai lầm nghiêm trọng. Ở một mức độ nào đó, phản ứng trước đại dịch Covid-19 đã minh họa cho tình trạng này. Nó không đủ để hạ bệ Tập Cận Bình, cũng giống như cuộc Đại nhảy vọt không đủ để lật đổ Mao. Tuy nhiên, đây vẫn là một mối nguy hiểm lớn khác liên quan đến việc nắm quyền một mình.
Đây không phải là chủ đề của cuốn sách của ông, nhưng ông đánh giá như thế nào về sự xa cách ngày càng tăng giữa Đảng và giới trẻ ở Trung Quốc, và giới trẻ này sẽ đóng vai trò gì trong Trung Quốc của ngày mai?
Vấn đề phức tạp hơn là một sự chia tay đơn giản. Một bộ phận thanh niên tán thành dự án của Đảng. Tôi thấy điều này ở các sinh viên, những người nhìn chung ít phản kháng hơn dưới thời Tập Cận Bình so với trước đây. Ví dụ, nhiều người trong số họ tham gia phong trào tố giác. Một bộ phận thanh niên khác tin rằng việc huy động là vô ích, trái với yêu cầu của Đảng, nhưng họ tập trung vào cuộc sống hàng ngày mà không thực sự phản đối. Chắc hẳn, hiện tượng “tangping” mà tôi đã đề cập đang phát triển và có thể trở nên nguy hiểm đối với Đảng, bởi vì Đảng cần huy động toàn xã hội, và tất nhiên, một thế hệ thanh niên từ chối làm như vậy. Do đó, thế hệ thanh niên này đại diện cho một sự kìm hãm, nhưng liệu thế hệ này có thực sự là phe đối lập? Điều đó không rõ ràng. Tôi nghĩ còn quá sớm để nói về một thế hệ thanh niên đã đoạn tuyệt với Đảng. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng vào năm 1988-1989, tôi đã không lường trước được những gì sẽ xảy ra ở Quảng trường Thiên An Môn[4]. Vào thời điểm đó, giống như nhiều nhà quan sát, tôi nghĩ rằng giới trẻ hoàn toàn không quan tâm đến chính trị. Bây giờ, có vẻ như họ không quan tâm nhiều đến chính trị, nhưng ta không bao giờ biết được. Tuy nhiên, sự rạn nứt này không phải là mối đe dọa lớn nhất đối với chế độ.
Một câu hỏi cuối cùng mà ông, người hiểu rõ đất nước này như vậy, chắc hẳn thường được hỏi: triển vọng của Trung Quốc trong thập kỷ tới sẽ như thế nào?
Bạn ơi, tôi cũng giống như bạn thôi: càng hiểu rõ đất nước này, ta càng khó dự đoán được những gì sẽ xảy ra ở đó! Có một điều mà nhà nữ đạo diễn cùng tôi làm bộ phim tài liệu này[5] luôn nhắc nhở chúng ta: “Trong trại Goulag, người ta luôn nói, ‘Điều cuối cùng chết đi là hy vọng.’” Tôi tin rằng điều này không chỉ đúng với Goulag, mà còn đúng với tình hình ở Trung Quốc ngày nay: điều cuối cùng chết đi là hy vọng. Những chế độ dường như cực kỳ vững chắc và cực kỳ mạnh mẽ này cho đến ngày chúng sụp đổ. Và ta không bao giờ biết khi nào điều đó có thể xảy ra.
Phỏng vấn do Pierre-Antoine Donnet thực hiện
Người dịch: Phạm Như Hồ
Về tác giả:
![]() |
| Pierre-Antoine Donnet (1953-) |
![]() |
Cựu tổng biên tập của AFP, Pierre-Antoine Donnet là tác giả của khoảng mười lăm tác phẩm tập trung vào Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Ấn Độ và những thách thức lớn của Châu Á. Năm 2020, cựu phóng viên này tại Bắc Kinh đã xuất bản cuốn “Le leadership mondial en question, L’affrontement entre la Chine et les États-Unis/Vấn đề lãnh đạo toàn cầu, Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ” tại NXB Éditions de l’Aube. Ông cũng là tác giả của tác phẩm “Tibet mort ou vif/Tây Tạng chết hay sống”, do Gallimard xuất bản. Sau cuốn “Chine, le grand prédateur/Trung Quốc, kẻ săn mồi vĩ đại”, xuất bản năm 2021 (l’Aube), ông chủ biên tác phẩm tập thể “Le Dossier chinois/Hồ sơ Trung Hoa” (Cherche Midi) vào cuối năm 2022. Đầu năm 2023, ông xuất bản cuốn “Confucius aujourd’hui, un héritage universaliste/Khổng Tử ngày nay, di sản phổ quát” (l’Aube) rồi năm 2024 “Chine, l’empire des illusions/Trung Quốc, đế chế ảo tưởng” (Saint-Simon) và “Japon, l’envol vers la modernité/Nhật Bản, sự bay lên thời hiện đại” (l’Aube). Cuốn sách mới nhất của ông, “Taïwan, survivre libres/Đài Loan, sống đời tự do” (Nhà xuất bản Nevicata, bộ sách Linh hồn của các dân tộc), được xuất bản vào ngày 14 tháng 11 năm 2025.
Nguồn: “Au pays de la technosurveillance, ‘Surveiller et punir en Chine’”, Asialyst, 26.3.2026.
Chú
thích: [1]
Nhà bất đồng chính kiến người Trung Quốc, người đoạt giải Nobel Hòa bình, Lưu Hiểu Ba, qua đời trong tù ngày 13 tháng 7 năm 2017. [2]
(躺平) hay “nằm phẳng” là một thuật ngữ xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 2021 và biểu thị một hình thức phản văn hóa. Đối với một số thanh niên và cán bộ Trung Quốc, điều này có nghĩa là thách thức những áp lực xã hội liên quan đến văn hóa làm việc và phản đối Đảng cùng các chỉ thị của Đảng. [3]
Trong thời điểm chiến dịch chống lại đại dịch Covid-19 lên đến đỉnh điểm, chính quyền đã áp đặt lệnh phong tỏa nghiêm ngặt đối với dân cư thành thị, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra ở các thành phố lớn như Bắc Kinh và Thượng Hải, nơi những người biểu tình trẻ tuổi giơ cao những tờ giấy trắng để phản đối sự đàn áp, kiểm duyệt và giám sát. [4]
Ám chỉ vụ thảm sát Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, dẫn đến cái chết của khoảng 2.000 người biểu tình ôn hòa đòi hỏi nền dân chủ lớn hơn ở Trung Quốc, bị quân đội hạ sát một cách lạnh lùng. [5]
Nhà nữ đạo diễn Tania Rakhmanova đã cùng thực hiện bộ phim tài liệu Trại Lao cải, bí mật của quyền lực Trung Quốc được đài Arte trình chiếu.


.jpg)
