AI ĐÃ ĐÁNH MẤT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA NƯỚC MỸ?
30 tháng 4 năm 2026 | Jan-Werner Mueller
Trong tất cả các cuộc tranh luận về việc liệu nền giáo dục đại học Hoa Kỳ có đang thực hiện đúng chức năng của mình hay không, động cơ của chính những nhà phê bình bảo thủ đã bị bỏ quên. Lợi dụng sự mất lòng tin rõ ràng của công chúng đối với các trường cao đẳng và đại học, phe cánh hữu Mỹ đã chuyển hướng cuộc thảo luận từ tự do học thuật sang tự do ngôn luận, sử dụng cái sau để làm suy yếu cái trước.
PRINCETON – Công chúng đã mất niềm tin vào các trường đại học, và việc khôi phục niềm tin đó là một nhiệm vụ cấp bách. Đó là kết luận được đưa ra trong một báo cáo được bàn luận rộng rãi mới của Ủy ban Yale về Niềm tin vào Giáo dục Đại học. Báo cáo này phản ánh quan điểm phổ biến ở Hoa Kỳ, bao gồm cả lời phàn nàn thường thấy rằng các trường đại học đã trở nên thiên về một phía về mặt tư tưởng, làm xa lánh những người bảo thủ.
Nhưng diễn ngôn này bỏ qua một thực tế quan trọng: chính phe cánh hữu Mỹ đã làm suy yếu một cách có hệ thống niềm tin vào giáo dục đại học. Trong nhiều thập kỷ, phe bảo thủ không tìm cách củng cố sự đa dạng về “quan điểm” trong các trường đại học–kiểu câu chuyện mà những người phe tự do cả tin rất sẵn lòng chấp nhận–mà là cách để gia tăng quyền lực của chính họ. Đó là lý do tại sao các đảng cực hữu ở các nền dân chủ khác đã cố gắng bắt chước mô hình của Mỹ.
Thoạt nhìn, bằng chứng về sự thiên lệch về mặt tư tưởng dường như vừa rõ ràng vừa đáng báo động. Năm 2024, chỉ có 36% công dân Mỹ bày tỏ sự tin tưởng “rất nhiều” hoặc “khá nhiều” vào giáo dục đại học. Trong một cuộc khảo sát tháng 9 năm 2025, cứ mười người Mỹ thì có bảy người tin rằng các trường cao đẳng và đại học đang đi sai hướng. Vì toàn bộ khu vực này–bao gồm cả các tổ chức tư nhân giàu có nhất–phụ thuộc vào nguồn tài trợ và kiểm định của chính phủ, nên giáo dục đại học dường như đang phá vỡ khế ước xã hội.
Nhưng việc công chúng tin tưởng vào các thể chế này có ý nghĩa gì? Nhiều nhà khoa học xã hội sẽ trả lời rằng khái niệm này chỉ có ý nghĩa trong điều kiện không chắc chắn hoặc hoàn toàn thiếu hiểu biết; nếu một tình huống hoàn toàn minh bạch, thì không cần đến sự tin tưởng. Nếu một cơ quan hoặc tổ chức được cho là vừa có năng lực vừa có thiện chí [goodwill], thì người ta có lý do chính đáng để tin tưởng vào nó.
Tại Mỹ, rất ít người nghi ngờ năng lực của những người đang làm về giáo dục đại học. Ngay cả ở phía cánh hữu, chỉ có 32% người được hỏi cho rằng giáo dục đại học không làm tốt vai trò thúc đẩy nghiên cứu và tri thức. Mối quan ngại thực sự dường như nằm ở "thiện chí": các giáo sư được cho là đang áp đặt quan điểm cực tả của mình lên những sinh viên còn ngây ngô và dễ bị tác động, thậm chí có thể khiến họ trở nên thiếu lòng yêu nước.
Đây là luận điểm mà phe cánh hữu đã sử dụng ít nhất từ những năm 1950, khi nhà trí thức bảo thủ có ảnh hưởng sâu rộng William F. Buckley, Jr., xuất bản cuốn sách nổi tiếng chỉ trích ngôi trường cũ của ông, "God and Man at Yale" (tạm dịch: Chúa và Con người tại Yale). Những tuyên bố tương tự sau đó được tái sử dụng trong các làn sóng hoảng loạn đạo đức tiếp theo về "sự đúng đắn chính trị" và "tư tưởng woke" (ý thức về các vấn đề xã hội mà điển hình là bất bình đẳng, ở đây dùng với ý mỉa mai – ND).
Bằng chứng về sự đồng nhất về tư tưởng là, trong số các giảng viên, số người theo đảng Dân chủ dường như nhiều hơn số theo đảng Cộng hòa ít nhất gấp mười lần. Từ đó, người ta đơn giản cho rằng, dù không có thêm bằng chứng nào khác, mọi người đều giảng dạy theo quan điểm chính trị của mình. Nhưng ta không nên mặc định điều đó.
Hơn nữa, cần đặt sự mất cân bằng căn bản này trong bối cảnh Đảng Cộng hòa đã thay đổi ra sao trong những thập kỷ gần đây. Ngay cả khi so sánh với các đảng cực hữu khác đang hoạt động trong các nền dân chủ hiện nay, Đảng Cộng hòa vẫn là một ngoại lệ khi nói đến việc bác bỏ khoa học–bắt đầu từ sự đồng thuận về biến đổi khí hậu. Liệu có gì đáng ngạc nhiên khi những người trong giới đại học ít có khả năng đứng về phía một đảng phản đối đại học?
Dĩ nhiên, nhiều người phía cánh hữu sẽ phủ nhận rằng mình phản đối đại học (mặc dù một số người ủng hộ Đảng Cộng hòa ở Thung lũng Silicon dường như đã kết luận rằng đại học chỉ cản trở tài năng kinh doanh). Thay vào đó, điều họ muốn là thêm nhiều "tranh luận" và "sự đa dạng quan điểm". Nhưng người ta có thể đẩy lập luận này theo nhiều hướng khác nhau. Mặc dù đúng là một số khoa có thể tỏ ra rập khuôn đến nghẹt thở, không chào đón các quan điểm bảo thủ, nhưng ngược lại thì cũng chẳng dễ gì tìm được nhiều người theo chủ nghĩa Mác trong các khoa kinh tế.
Trong mọi trường hợp, cam kết cốt lõi của trường đại học là tự do học thuật – quyền được giảng dạy và nghiên cứu trong khuôn khổ các chuẩn mực chuyên ngành được công nhận – chứ không phải là tối đa hóa quyền tự do ngôn luận. Mục đích không phải là phản ánh xã hội, cũng không phải là trình bày nhiều quan điểm nhất có thể, hay khuyến khích tranh luận chỉ để tranh luận. Tất nhiên, học thuật phát triển mạnh nhờ sự tranh biện và hiệu chỉnh tri thức, dựa trên bằng chứng và những ý tưởng độc đáo; nhưng lý tưởng của giáo dục không đơn thuần là bắt chước hình thức của các câu lạc bộ tranh luận.
Phe cánh hữu Mỹ đã thành công trong việc đẩy trọng tâm cuộc thảo luận từ tự do học thuật sang tự do ngôn luận, dùng tự do ngôn luận để bào mòn tự do học thuật. Quyền tự chủ của các trường đại học trong việc lựa chọn nhân sự và cơ cấu tổ chức của mình hiện đang bị các quan chức nhà nước và các nhà tài trợ đe dọa, những người khăng khăng đòi hỏi “đa dạng quan điểm hơn (theo định nghĩa của chúng tôi), nếu không thì…”. Rõ ràng, Đại học Harvard đang trong quá trình gây quỹ 10 triệu đô la để tăng cường “sự đa dạng quan điểm” – một nỗ lực gần như chắc chắn là nhằm chiều lòng chính quyền Trump và những người ủng hộ ông ta.
Không ai phủ nhận rằng các trường đại học nên tự phê bình hoặc chú ý đến một số lý do khiến công chúng mất lòng tin. Hai lý do rõ ràng nhất là học phí ngày càng tăng và quy trình tuyển sinh bí ẩn dường như được dàn xếp để ưu ái người giàu (chính xác thì Jared Kushner đã vào Harvard bằng cách nào?).
Trong trường hợp các truyền thống trí thức có liên quan (tới ngành học) đang có nguy cơ ít được hiện diện, giảng viên nên làm hết sức mình để giúp sinh viên tự đưa ra những đánh giá thấu đáo của riêng họ. Nhưng hiệu trưởng các trường đại học không nên nhượng bộ trước những luận điệu sai lệch mà phe cánh hữu đang rao giảng vì lợi ích riêng của họ. Nếu chủ động cúi đầu trước những người ủng hộ Trump, bạn đã thất bại trước trọng trách của mình.
![]() |
| Jan Werner Mueller |
Jan-Werner Mueller, Giáo sư Chính trị tại Đại học Princeton, có tác phẩm mới nhất là cuốn Democracy Rules (tạm dịch: Các quy tắc của nền dân chủ, Farrar, Straus and Giroux, 2021; Allen Lane, 2021).
Huỳnh Thị Thanh Trúc dịch
Nguồn: Who Lost America’s Universities? by Jan-Werner Mueller, Project Syndicate, Apr 30, 2026.
