Những tiêu chí của tính khoa học trong kinh tế học
Giả định là đã giải quyết xong vấn đề kinh tế học có phải là một khoa học không. Ví dụ, chúng tôi mời bạn tham khảo những nhận xét cuối cùng của G. G. Granger trong bài “Khoa học luận kinh tế” trong bộ Bách khoa kinh tế[2] này. Hay là ta chấp nhận rằng bản thân câu hỏi trên là thứ yếu. Dù sao thì trong công việc nghiên cứu của nhà kinh tế, vẫn phải có một số quyết định về phương pháp luận hay khoa học luận để có thể tiến triển trong quá trình nhận thức. Những quyết định này bị những câu trả lời cho câu hỏi sau chi phối: đâu là những công cụ cho phép xác định rằng một lí thuyết, một lối giải thích là đúng hay sai? Đó là vấn đề đánh giá (appraisal) hay là vấn đề những tiêu chí của tính khoa học.
Bằng cách này đương nhiên là ta gặp vấn đề tính khoa học hay không của những diễn ngôn kinh tế, vì chỉ có thể mượn những “tiêu chí” trong phương pháp luận khoa học, do chỉ có phương pháp này mới có, ít ra là trên nguyên tắc, những phương tiện để phân biệt giữa chân lí và sai lầm.
Mục tiêu này, bề ngoài đơn giản và đương nhiên, thật ra là đầy tham vọng. Nếu ta lướt nhìn trạng thái của kinh văn thì ta thấy nhiều dấu hiệu của một bộ môn không hoạt động như một khoa học. Trước hết bộ môn này có nhiều rạn nứt ý thức hệ: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa marxist, thể chế luận ... , những rạn nứt đó có vẻ làm cho những người có cảm tình với những chủ nghĩa này miễn nhiễm đối với mọi ý muốn thảo luận.
Vả lại ngay cả cộng đồng khoa học những nhà kinh tế dường như cũng chia thành nhiều trường phái cạnh tranh nhau, không quyết định được kết cuộc của những cuộc tranh luận lớn: đó là trường hợp của cuộc tranh luận giữa học thuyết trọng tiền và học thuyết Keynes. Còn cuộc tranh luận giữa những người bảo vệ và chống lại lí thuyết kinh tế vi mô về doanh nghiệp tuy đã không còn gay gắt nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Có nhiều trường phái đối lập với nhau hoặc khác nhau: có một học thuyết Keynes chính thống (hay đúng hơn là - ND) phiên bản thủy động lực học của học thuyết này[*], một học thuyết Keynes về mất cân bằng, một kinh tế học tân cổ điển (hay cổ điển “mới”), một trường phái tân Áo, v.v ... Tất nhiên trong khoa học luôn có những cuộc tranh luận, và sự thống nhất tư tưởng chỉ đạt được sau nhiều cuộc đối đầu lâu dài và chỉ trong một thời gian giới hạn. Nhưng dường như trong kinh tế học, các nhà nghiên cứu có xu hướng từ bỏ sự đối nghịch để tự giam mình trong những quan điểm của bản thân, bằng cách đi vào chi tiết tinh vi hay trình bày hình thức mà không thật sự quan tâm đến những phản bác có thể nêu lên đối với họ. Như thế đôi lúc người ta có thể đi đến một kết luận làm nản lòng và thật sự phản khoa học là trong kinh tế học có thể bảo vệ đồng thời những ý kiến trái ngược nhau, và những nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng có những phương tiện để quyết định ý kiến nào là đúng đắn nhất (ví dụ xem Klamer, 1988). Tuy nhiên không có bộ môn nào lại có thể không cần đến những tiêu chí phân biệt cái sai và cái đúng nếu không muốn trở thành không nhất quán. Do đó ta phải điểm qua những phương pháp khác nhau hoặc được các nhà kinh tế vận dụng hoặc được các nhà triết học hay những sử gia của các khoa học thiết kế nhằm liệt kê những tiêu chí rõ ràng hay ngầm ẩn về tính khoa học và xem xét sự tương thích của những tiêu chí này với những vấn đề đặc biệt của kinh tế học.







.jpg)



