15.6.23

Trong mớ bòng bong toàn cầu hóa

TRONG MỚ BÒNG BONG TOÀN CẦU HÓA

Tác giả: Jens Glüsing, Laura Höflinger, Heiner Hoffmann, Ralf Neukirch, Michael Sauga, Bernhard Zand (Tuần báo Spiegel số 21/2023)

Người dịch: Nguyễn Phú Lộc

G7, câu lạc bộ của những nước không-còn-quan-trọng-lắm: Với cuộc tấn công của Nga vào Ukraine, trật tự thế giới trước đó đã kết thúc. Các quốc gia như Ấn Độ và Brazil đang thể hiện một phong cách tự tin mới. Sự trỗi dậy của các nước trước đây còn nghèo, cuộc đấu tranh với Trung Quốc, sự phân mảnh của nền kinh tế thế giới – trật tự thế giới của thế kỷ 20 đã kết thúc bằng cuộc chiến của Nga. Các nước G7 đang mất dần ảnh hưởng, đặc biệt là châu Âu đang bị đẩy sang bên lề.

***

Vài năm trước, kiến trúc sư Nhật Bản Hajime Narukawa đã nhận được một trong những giải thưởng thiết kế uy tín nhất của đất nước mình. Ông đã thành công trong việc tạo ra một bản đồ chính xác về thế giới – ít nhất là chính xác hơn so với cách quy chiếu thông thường cố gắng mô tả tỷ lệ của quả đất theo hai chiều.

Như trên hầu hết các bản đồ thế giới ở châu Á, Narukawa không đặt Đại Tây Dương vào trung tâm mà là Thái Bình Dương. Bắc bán cầu nhỏ hơn và Nam bán cầu lớn hơn đáng kể so với bản đồ truyền thống. Các quốc gia Bắc Mỹ, Bắc Á và Châu Âu dường như bị nén lại một cách kỳ lạ, trong lúc Châu Phi, Đông Nam Á và Nam Mỹ như được kéo rộng ra – nhưng đó là tỷ lệ thực sự. Greenland gần như biến mất ở rìa trên cùng của hình ảnh, làm cho Nam Cực hiển hiện rõ ràng hơn.

Hajime Narukawa (1971-)

Tuần này, các nhà lãnh đạo của các nước G7 gặp nhau tại Nhật Bản trong hội nghị thượng đỉnh lần thứ 49, và giống như bản đồ của Narukawa, họ cũng phải đối mặt với một thế giới xem ra khác hẳn so với những gì họ còn nhớ trước đây.

Cuộc xâm lược Ukraine của Nga đã thay đổi quy mô xa hơn so với dự đoán tại hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất của bảy quốc gia công nghiệp lớn của phương Tây. Vào tháng 6 năm 2022, “thời khắc Kiev” vẫn còn kéo dài, sự thống nhất được tái lập của phương Tây toàn cầu, đằng sau đó thế giới dường như đang tập hợp lại: Sau cuộc xâm lược của Putin, 141 quốc gia bỏ phiếu thuận nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, được đưa vào nghị sự bởi Ukraine, G7 và các quốc gia khác. Chỉ có bốn quốc gia bỏ phiếu cho Nga. Một sự khẳng định rõ ràng, thậm chí áp đảo, trên cơ sở trật tự thế giới tự do dựa trên quy tắc?

Print Friendly and PDF

13.6.23

Khoa học bị thiệt hại vì thiếu tính tái lập các kết quả nghiên cứu

KHOA HỌC BỊ THIỆT HẠI VÌ THIẾU TÍNH TÁI LẬP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tác giả: Valentin Weber

Nghiên cứu sinh tiến sĩ về khoa học nhận thức tại ENS-PSL

(Ecole Normale supérieure - Université Paris Sciences et Lettres)

Tóm tắt

  • Hiện nay, các khoa học xã hội, nhưng ngay cả nghiên cứu y sinh và các bộ môn khoa học khác đều đang trải qua “một cuộc khủng hoảng về tái lập các kết quả”.
  • 1/3 các kết quả nghiên cứu trong khoa học xã hội là không thể tái lập – và thế là có sai lạc tiềm tàng, vì tính tái lập là một yếu tố quyết định chính yếu của tính khoa học của các công trình.
  • Đáng chú ý là khủng hoảng này là do nhu cầu cung cấp những kết quả sáng tạo đổi mới và có ý nghĩa để được công bố trên những tạp chí khoa học có uy tín.
  • Như vậy, giải pháp có thể được thể hiện bởi các “báo cáo đã đăng ký quy ước nghiên cứu”, chúng bảo đảm rằng việc công bố nghiên cứu dựa trên nền tảng duy nhất của các giả thuyết ban đầu, ngay trước khi được biết các kết quả cuối cùng.

Tính tái lập hay khả năng tái lập – có nghĩa là những nhà khoa học khác có thể đạt được những kết quả tương tự như kết quả của một thí nghiệm gốc nếu họ thực hiện thí nghiệm trong những điều kiện giống nhau – là một điều bắt buộc của phương pháp khoa học. Tóm lại, nó có nghĩa là các kết quả của một thí nghiệm phải giống nhau, bất kể tác giả là ai. Và thường thường đó là trường hợp xảy ra. Tuy nhiên, trong nhiều bộ môn khác nhau của các khoa học xã hội, và ngay cả trong nghiên cứu y sinh, một số kết quả nghiên cứu khoa học đã không thể được tái lập sau đó bởi các nhà khoa học khác, điều này đã đặt lại vấn đề các nghiên cứu gốc[1],[2],[3].

Được biết đến với tên gọi “cuộc khủng hoảng của khả năng tái lập”, vấn đề không chỉ liên quan đến một vài nghiên cứu được công bố trên những tạp chí trình độ thấp. Thực ra, nó liên quan đến một phần ba các nghiên cứu trong các khoa học xã hội, kể cả những nghiên cứu được công bố trên những tạp chí có uy tín tương đương với Science hay Nature.[4] Các nghiên cứu được đề cập đến bao gồm nhiều hiện tượng khác nhau đã được biết rất rõ, nhiều hiện tượng đã tìm được chỗ đứng trong đại bộ phận công chúng. Trong số này, có những khái niệm đã lan truyền rộng rãi chẳng hạn như mối đe dọa của sự rập khuôn[5], những thiên kiến ngầm[6] hay hiệu ứng mồi xã hội[7]. Đó chỉ là ba kết luận nổi tiếng nhất, chúng đã là đối tượng của những phê phán nghiêm túc, đến mức chúng có thể không còn tồn tại sau một sự khảo sát về phương pháp luận kỹ lưỡng hơn. Nhưng chúng ta đã đi đến cuộc khủng hoảng này như thế nào, và chúng ta có thể làm gì để cứu chữa tình trạng này?

Print Friendly and PDF

11.6.23

Triển vọng và hiểm họa của AI tạo sinh

TRIỂN VỌNG VÀ HIỂM HỌA CỦA AI TẠO SINH


Mặc dù các công cụ như ChatGPT có thể thay thế hàng triệu người lao động, nhưng chúng cũng có thể đem lại mức tăng năng suất cần thiết để nâng cao thu nhập và mức sống. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng công nghệ mạnh mẽ này mang lại những lợi ích được san sẻ rộng rãi, chúng ta phải lưu ý đến các bài học từ làn sóng đổi mới kỹ thuật số vừa qua.

CAMBRIDGE – Kể từ khi OpenAI phát hành chatbot ChatGPT vào năm ngoái, ngày càng có nhiều nhà phân tích dự đoán rằng trí tuệ nhân tạo tạo sinh sẽ thay thế hàng triệu người lao động và gây ra biến động kinh tế trên diện rộng. Nhưng chính xác AI sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào?

Print Friendly and PDF

10.6.23

Adam Smith như thể bạn chưa bao giờ đọc ông

ADAM SMITH NHƯ THỂ BẠN CHƯA BAO GIỜ ĐỌC ÔNG

Nhân kỉ niệm ba trăm năm ngày sinh của triết gia và kinh tế gia xứ Scotland, xin được quay lại nhanh chóng với tư tưởng của ông, một tư tưởng xa lạ với việc tụng ca thị trường dù điều đó thường được gán cho ông.

Christian Chavagneux

Một hôm Adam Smith (1723-1790) có viết là ông đã sống một cuộc đời “cực kì đơn điệu”. Thật vậy, phần lớn cuộc đời của người độc thân thâm căn cố đế này trong nỗi ám ảnh bị bệnh đã trải qua bên mẹ mình thoạt nhìn không có gì hấp dẫn. Dù sao ta có thể kể việc ông bị những kẻ du cư bắt lúc ba tuổi như một cuộc phiêu lưu khó tin. May cho ông, họ đã chọn bỏ rơi ông lại hơn là phải đối mặt với với đông đảo người rượt đuổi đằng sau[1].

Sau khi theo học tại đại học Glasgow, ông tiếp tục ở đại học nổi tiếng Oxford. Không rõ ông có giữ kí ức không tốt ở đây không? Thế nào đi nữa thì ông cũng viết trong Của cải của các dân tộc (Quyển V, chương 1) là các đại học có ngân sách dồi dào có xu hướng trở thành “những thành trì mà các hệ thống bị phê phán và những thành kiến lỗi thời còn tìm được nơi trú ẩn và sự bảo vệ sau khi đã bị đuổi ra khỏi bất kì ngõ ngách nào trên thế giới”...

Ông chuộng các đại học ít nổi tiếng hơn, như đại học Glasgow, nơi ông sẽ giảng dạy triết học đạo đức trong mười ba năm. Trái với các cây đa cây đề trong kinh tế học ngày nay, ông sẽ tham gia nhiều vào việc quản lí đại học, không chỉ giới hạn công việc của ông vào lĩnh vực thuần tuý hàn lâm.

Mối quan tâm đầu tiên của ông là thiên văn học và những lí thuyết khác nhau của khoa học này. không phải vì thích để đầu óc trên trời hay vì bị khoa học hút hồn. Thật ra ông tìm cách nắm bắt cảm xúc của con người khi phải đối mặt với nhiều quan niệm khác nhau về thế giới. Ông bị quyến rũ bởi tình yêu tự phát và ý chí của chúng ta muốn tìm hiểu bằng mọi giá những gì bao quanh mình khiến chúng ta chấp nhận mọi hình thức giải thích, miễn là các hình thức này đề xuất “một cuộc trình diễn chặt chẽ cho sự tưởng tượng”. Ta bắt đầu hiểu rõ hơn vì sao các nhà kinh tế đã chọn ông làm người sáng lập bộ môn của họ!

Print Friendly and PDF

9.6.23

Năm thế giới của Trí tuệ nhân tạo

NĂM THẾ GIỚI CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Scott Aaronson - Boaz Barak[*]

(Doãn Minh Đăng dịch)

Trí tuệ nhân tạo đã đạt được những tiến bộ đáng kinh ngạc trong thập kỷ qua, nhưng ở một khía cạnh quan trọng, nó vẫn lệch nhịp so với lý thuyết khoa học máy tính của những năm 1990: cụ thể là, không có bài luận nào mô tả năm thế giới tiềm năng mà chúng ta có thể sống và đặt tên ấn tượng cho từng thế giới đó. Nói cách khác, chưa ai làm được cho AI những gì mà Russell Impagliazzo đã làm cho lý thuyết độ phức tạp vào năm 1995, khi ông định nghĩa “năm thế giới” Algorithmica, Heuristica, Pessiland, Minicrypt và Cryptomania, tương ứng với năm cách giải quyết có thể có của bài toán P so với NP cùng các vấn đề trung tâm chưa được giải quyết của mật mã học.[1]

Scott Aaronson (1981-)
Boaz Barak (1974-)

Trong bài đăng trên blog này, chúng tôi —Scott và Boaz— muốn lấp khoảng trống này. Cụ thể, chúng tôi xem xét 5 kịch bản có thể xảy ra về cách AI sẽ phát triển trong tương lai. (Tình cờ thay, tại một hội thảo năm 2009 kỷ niệm “năm thế giới” của Impagliazzo do Boaz đồng tổ chức, Scott đã gặp người vợ hiện tại của mình, nhà lý thuyết về độ phức tạp Dana Moshkovitz. Chúng tôi hy vọng nền văn minh sẽ tiếp tục đủ lâu để ai đó trong tương lai có thể gặp bạn tâm giao, hoặc bạn thần kinh giao (neuron-mate) của họ, tại một hội thảo trong tương lai về “năm thế giới” của chúng tôi.)

Giống như trong bài báo năm 1995 của Impagliazzo về năm thế giới tiềm ẩn của độ khó của các bài toán NP, chúng tôi sẽ không cố gắng kể hết mọi thứ mà tập trung vào các trường hợp cực đoan. Có thể chúng ta sẽ kết thúc ở một hỗn hợp của nhiều thế giới hoặc một tình huống không được mô tả bởi bất kỳ thế giới nào. Thật vậy, một điểm khác biệt quan trọng giữa bối cảnh của chúng ta và bối cảnh của Impagliazzo, đó là trong trường hợp về độ phức tạp, các thế giới tương ứng với các phỏng đoán toán học cụ thể (và loại trừ lẫn nhau). Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, câu hỏi không phải là “chúng ta sẽ sống trong thế giới nào?” mà là “thế giới nào chúng ta luôn luôn sống ở đó mà không nhận ra?” Ngược lại, tác động của AI sẽ là sự kết hợp phức tạp giữa các giới hạn toán học, khả năng tính toán, phát minh của con người cùng các vấn đề xã hội và pháp lý. Do đó, các thế giới mà chúng ta mô tả không chỉ phụ thuộc vào các khả năng và hạn chế cơ bản của trí tuệ nhân tạo, và loài người cũng có thể chuyển từ thế giới này sang thế giới khác theo thời gian.

Không chần chừ gì nữa, chúng tôi đặt tên cho năm thế giới của mình là “AI-Fizzle,” “Futurama,” “AI-Dystopia,” “Singularia,” và “Paperclipalypse.” Trong bài tiểu luận này, chúng tôi không cố gắng gán xác suất cho các tình huống này; chúng tôi chỉ phác thảo các giả định cùng những hệ quả kỹ thuật và xã hội của chúng. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách đưa ra các giả định rõ ràng, chúng tôi có thể giúp tạo nền tảng cho cuộc tranh luận về các rủi ro khác nhau xung quanh AI.

Print Friendly and PDF

7.6.23

Toàn cầu hoá các chuỗi giá trị: phỏng vấn Ariel Reshef và Gianluca Santoni

TOÁN CẦU HOÁ CÁC CHUỖI GIÁ TRỊ: PHỎNG VẤN ARIELL RESHEF VÀ GIANLUCA SANTONI

Anne Châteauneuf-Malclès

Phân tích sự phân đoạn quốc tế của sản xuất trong các chuỗi giá trị toàn cầu là điều cần thiết ngày nay để hiểu được sự toàn cầu hóa. Nếu hiện tượng này không phải là mới, thì sự tăng cường của nó kể từ những năm 1990 đã góp phần vào sự phát triển, tái cấu hình của thương mại quốc tế, và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của các nền kinh tế quốc gia. Trong cuộc phỏng vấn dưới đây, các nhà kinh tế Ariell Reshef[*] và Gianluca Santoni[**] xem xét diễn tiến chính của các quan hệ thương mại quốc tế, các động lực và tác động kinh tế của chúng. Họ cũng nêu bật những thách thức mới do tiến trình toàn cầu hóa các chuỗi giá trị tạo ra, mà bằng chứng là sự thử nghiệm gần đây trong cuộc khủng hoảng y tế.

Để có bản trình bày chi tiết về ấn bản Kinh tế Thế giới năm 2021, bạn có thể đọc bài của Isabelle Bensidoun và Jézabel Couppey-Soubeyran trên blog CEPII (Que nous réserve l'économie mondiale en 2021?/Nền kinh tế thế giới năm 2021 sẽ dành cho chúng ta những điều gì?, 02/09/2020) và xem hội nghị trực tuyến trình bày tác phẩm được tổ chức vào tháng 9 năm 2020.

“Kỷ nguyên của các chuỗi giá trị toàn cầu có thể chưa kết thúc, nhưng cuộc khủng hoảng này đã đưa nó sang một giai đoạn mới.” (S. Jean, A. Reshef, G. Santoni, trong Kinh tế thế giới 2021/ L'économie mondiale 2021, NXB La Découverte, 2020).

Bạn có thể nhắc lại cho chúng tôi ý nghĩa của ý niệm “chuỗi giá trị toàn cầu” không?

Gianluca Santoni
Ariell Reshef

Để hiểu khái niệm này, cần bắt đầu với khái niệm tổng quát hơn về “chuỗi giá trị”. Đó là cách các công đoạn sản xuất khác nhau tạo thêm giá trị cho thành phẩm cuối cùng hoặc ngược lại, cách mà tổng giá trị của một sản phẩm được quy cho từng công đoạn. Các chuỗi giá trị toàn cầu có nghĩa là các công đoạn sản xuất, từ việc thiết kế sản phẩm đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng, được thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Cách tổ chức này được thúc đẩy bởi các công ty của các nền kinh tế tiên tiến được sự cạnh tranh toàn cầu khuyến khích để nhằm tới sự tối ưu hóa quy trình sản xuất của họ bằng cách chuyển sản xuất ra nước ngoài (externalisation/outsourcing) và dịch chuyển ra nước ngoài vài hoạt động sản xuất nhất định (offshoring). Hiện tượng phân đoạn và phân tán về mặt địa lý các hoạt động này chắc chắn không phải là mới, nhưng, theo một số thước đo đáng tin cậy, nó đã trở nên quan trọng kể từ năm 1990, vừa về mặt tỉ trọng trong nền sản xuất và thương mại thế giới, và vừa về mặt số lượng các quốc gia tích cực tham gia vào các chuỗi giá trị này.

Các chuỗi giá trị toàn cầu là biểu hiện của sự phân đoạn quốc tế của nền sản xuất. Cụm từ “chuỗi giá trị toàn cầu”, được các nhà kinh tế học sử dụng, nhấn mạnh thực tế rằng sự phân đoạn này là nguồn gốc của lợi ích kinh tế, ở mỗi công đoạn sản xuất tiếp nối nhau. Do đó, nó có hàm ý tích cực hơn các thuật ngữ phân tách hoặc phân công quốc tế các quy trình sản xuất.

Print Friendly and PDF

5.6.23

Làm sao phân biệt hoài nghi đúng và hoài nghi sai

LÀM SAO PHÂN BIỆT HOÀI NGHI ĐÚNG VÀ HOÀI NGHI SAI

Tác giả: Agnès Vernet

Phóng viên khoa học

Jean-Gabriel Ganascia

Giáo sư tin học khoa Khoa học Đại học Sorbonne và là triết gia

Jean-Gabriel Ganascia

Tóm tắt

·  Hoài nghi là một yếu tố chính yếu của khoa học, và trong cộng đồng khoa học, sự thiếu vắng đồng thuận là chuẩn mực.

·   Nhưng đối diện với sự ngờ vực cố hữu của nhà khoa học, hiện nay xã hội đang trải qua một dạng hoài nghi khác: một sự hoài nghi chung đang đặt lại vấn đề các kết quả của khoa học. Tuy nhiên, để có hiệu quả hơn, sự hoài nghi phải được bao gồm trong phương pháp tiến hành khoa học.

·  Do đó, đối với Jean-Gabriel Ganascia, rất cần thiết phải trả lại vị trí trung tâm trong giáo dục cho giảng dạy khoa học, và nhất là cho phương pháp khoa học.

Khoa học không có sự hoài nghi…

Khoa học mà không có ý thức chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, Rabelais đã báo trước như vậy. Ta cũng có thể diễn giải là “Khoa học mà không có sự hoài nghi chỉ là sự hủy hoại tâm hồn”, vì hoài nghi là một động lực của khoa học; không có hoài nghi các kiến thức sẽ khô cứng, không tiến triển. Khoa học bao hàm sự nghi ngờ về những chân lý hiển nhiên nhất. Bản tính của nhà khoa học là ưu tư – với nghĩa gốc là “không ngơi nghỉ”. Nhà khoa học sẵn sàng đặt lại vấn đề tất cả, và để làm điều đó, họ nuôi dưỡng một sự hoài nghi “đúng”, có tính xây dựng và có tổ chức.

Print Friendly and PDF

4.6.23

Năm nguy cơ của trí tuệ nhân tạo

NĂM NGUY CƠ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) THEO GEOFFREY HINTON, MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI TIÊN PHONG TRONG LÃNH VỰC AI

Là người tạo ra những thứ “nhảm nhí”, “rô-bốt giết người… “người đỡ đầu” hối tiếc này đã rời khỏi Google để cảnh báo về những nguy cơ mà công nghệ này gây ra cho tương lai.

Jenifer Bitar

Tiến sĩ Geoffrey E. Hinton năm 2019. © MASAHIRO SUGIMOTO / Yomiuri / The Yomiuri Shimbun theo AFP

Geoffrey Hinton, người tiên phong trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, đã từ chức tại Google vào hôm thứ Hai ngày 1 tháng 5 sau 10 năm phục vụ cho gã công nghệ khổng lồ Mỹ. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Times, ông cho biết đã rời Google để nói chuyện mà không bị ràng buộc về AI sản sinh như ChatGPT, mà không gây ảnh hưởng đến công ty. Ông bày tỏ sự hối tiếc về việc tham gia vào quá trình phát triển ChatGPT, và cố gắng tự an ủi bằng cách nào đó “với lý do phổ biến này: nếu tôi không làm thì cũng có người khác làm”.

Tốt nghiệp ngành tâm lý học thực nghiệm và là tiến sĩ về trí tuệ nhân tạo, người gốc London này đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về AI. Dù với tư cách là nhà nghiên cứu tại Carnegie Mellon, thuộc Đại học Toronto hay tại Google – công ty mà ông đã tham gia khi gia nhập nhóm Google Brain vào năm 2013 – Geoffrey Hinton đã phát triển các mạng thần kinh nhân tạo – những hệ thống toán học biết tiếp thu những kĩ năng mới bằng cách phân tích các dữ liệu mà chúng được tiếp cận. Năm 2018, ông đã được trao tặng Giải thưởng Turing vì sự phát triển các mạng mà ông đã sáng tạo. Được coi là một nhân vật quan trọng trong lĩnh vực AI, ông đã truyền cảm hứng cho các công trình của Yann Le Cun và Yoshua Bengio.

Với sự hối tiếc, ông quay trở lại bàn đến sự nguy hiểm của AI, mà theo ông, sẽ tượng trưng cho “những rủi ro nghiêm trọng đối với xã hội và nhân loại”, theo lời giải thích của ông trong cuộc phỏng vấn của New York Times. Dưới đây là năm mối lo lớn nhất của ông.

Print Friendly and PDF

3.6.23

“Cần phải học cách chung sống với Trung Quốc”, trò chuyện với Joseph Borell

“CẦN PHẢI HỌC CÁCH CHUNG SỐNG VỚI TRUNG QUỐC”, TRÒ CHUYỆN VỚI JOSEP BORRELL

Về Trung Quốc, Hoa Kỳ có Học thuyết Sullivan. Liên Minh châu Âu đang tìm kiếm học thuyết của riêng mình. Trong cuộc phỏng vấn độc quyền này mà Josep Borrell[*] dành cho chúng tôi sau cuộc tranh luận tại Hội đồng các Bộ trưởng (ngoại giao) tổ chức ở Stockholm và một G7 dường như tái khẳng định quan điểm của ông, Đại diện cấp cao của Liên Minh châu Âu xác định một cấu hình mới từ góc độ địa chính trị. Để tiếp cận mối quan hệ với Trung Quốc, Liên Minh châu Âu phải bắt đầu từ các giá trị và lợi ích của chính mình để đề xuất một chân trời an ninh chiến lược chung.

Tác giả: Gilles Gressani[1], Mathéo Malik

Trong bài phát biểu của ông trước các bộ trưởng ngoại giao châu Âu ở Stockholm, ông đã chỉ ra rằng Trung Quốc không phải là Nga - ông có thể giải thích điều đó có nghĩa là gì không?

JOSEP BORRELL - Thật vậy, Nga và Trung Quốc có hệ thống chính trị độc tài và phản tự do. Nhưng trọng lượng mang tính hệ thống của họ là không thể so sánh được. Nga chiếm khoảng 2% tổng sản phẩm (GNP) của thế giới. Đối với Trung Quốc, tỷ lệ GNP là khoảng 20% ​​và nhằm mục đích ngang bằng với Hoa Kỳ. Để hiểu đầy đủ động năng này, cần biết rằng vào năm 1995, GNP của Nga bằng với GNP của Trung Quốc. Ngày nay, GNP của Trung Quốc cao hơn gần 20 lần so với GNP của Nga. Do đó, hai nước không còn chơi trong cùng một hội, ngay cả khi việc sở hữu vũ khí hạt nhân mang lại cho Nga vẻ ngoài của một cường quốc. Và rõ ràng là một thất bại của Nga ở Ukraine sẽ chỉ làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng có lợi cho Trung Quốc này.

Ông sẽ mô tả hệ thống quốc tế ngày nay như thế nào?

Tôi không sáng tạo bất cứ điều gì. Chúng ta đang ở trong một cấu hình địa chính trị đã được các nhà lý thuyết về quan hệ quốc tế nghiên cứu kỹ lưỡng: đó là một quá trình chuyển tiếp trong đó một cường quốc đang lên tìm cách tranh chấp quyền lãnh đạo với một cường quốc thống trị. Tham vọng của Trung Quốc rõ ràng là xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó nước này sẽ đặt mình vào trung tâm bằng cách trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, một cách tượng trưng là vào năm 2049, năm kỷ niệm một trăm năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tham vọng này được hỗ trợ không chỉ bởi các diễn ngôn, mà còn bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ và khoa học dồi dào của Trung Quốc. Thực tế của thách thức này đã được chính Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ nhìn nhận rất rõ ràng khi bà nói rằng “sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không nên xung khắc với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ”.

Print Friendly and PDF

1.6.23

Trực quan trong toán học (G. Bouligand, 1944)

TRỰC QUAN TRONG TOÁN HỌC (1944)

Tác giả: Georges Bouligand[1]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Các chân lý toán học không hoàn toàn là những sáng tạo thuần túy ý tưởng; Émile Boutroux[2] từng nói rằng tư tưởng toán học là “một sự thích nghi tự nguyện và thông minh của tư duy vào sự vật”.

Trong trích đoạn dưới đây, Georges Bouligand cho rằng chúng ta có thể tìm thấy ở cơ sở, cũng như xuyên suốt quá trình phát triển của toán học, một số trực giác nhất định.

*

Các khía cạnh trực quan của Toán học được liên kết với những ấn tượng khác nhau của các giác quan mà chúng ta có, và với những ký ức về chúng. Điều quan trọng cho sự nảy nở của hoạt động tiền-toán-học là ký ức về những đối tượng, ở đó một tính chất chung có thể được cảm nhận, cho dù tính chất ấy chỉ được thực hiện một cách sơ sài. Hơn nữa, sự không hoàn hảo của các giác quan của ta đôi khi còn tạo ra ảo tưởng rằng tính chất ấy là biểu hiện trung thành của hiện thực. [...]

Có những trực giác được liên kết với ký ức về những sự vật cụ thể: đấy là trường hợp của những trực giác khơi dậy các ý niệm về tính liên tục, ý niệm đường thẳng, ý niệm đường thẳng góc với một mặt phẳng, cũng như một lượng lớn các ý niệm khác bắt nguồn từ địa vật lý học chẳng hạn. Chúng ta có thể bao gồm chúng trong thuật từ: trực quan tức thời (intuition immédiate). [...]

Print Friendly and PDF