11.10.20

Mầm mống của những bất bình đẳng

 MẦM MỐNG CỦA NHỮNG BẤT BÌNH ĐẲNG

Về cuốn sách Tuổi thơ ấu ở các giai cấp. Về những bất bình đẳng giữa các đứa trẻ của Bernard Lahire, NXB Seuil

Georges Felouzis[1] & Barbara Fouquet-Chauprade[2]

Sự nghèo khổ và những bất bình đẳng xã hội quan trọng nhất trong tương lai được xây dựng ngay từ bây giờ trong những lề thói của các đứa trẻ nhất. Nói, ăn, tự hoà đồng trong xã hội, tự chăm sóc, tắm, mặc áo quần, vâng lời, học hỏi: tương lai xã hội của chúng được sắp xếp từ những thói quen nhỏ nhặt nhất.

Bernard Lahire (1963-)

Trong tác phẩm quan trọng này do sự sâu rộng của những câu hỏi cũng như bề dày của cuốn sách (1230 trang), Bernard Lahire và những đồng nghiệp của ông đặt ra một câu hỏi trung tâm cho xã hội học và mang tính sáng lập cho các xã hội dân chủ đương đại của chúng ta: câu hỏi về những nguồn gốc xã hội và gia đình của những sự bất bình đẳng. Tính độc đáo, thích đáng và tính thời sự của nó nằm trong nội dung của câu hỏi được đặt và trong quy mô của bộ phương pháp thực nghiệm của nó. Chống lại một xã hội học dựa trên những điều mang tính đại cương, thường thỏa mãn với sự lặp đi lặp lại của cùng một điều, và chống lại những sự lệch lạc của các cách tiếp cận theo thuyết chủ quan tóm gọn vấn đề bất bình đẳng trong sự cảm nhận của các tác nhân về sự bất bình đẳng, công trình nghiên cứu do Bernard Lahire làm chủ biên thuộc về xu hướng của xã hội học phê phán, thực nghiệm mà mục tiêu là vạch trần những tiến trình thông qua đó những điều kiện sống và sự xã hội hóa của gia đình là nguyên lý của các bất bình đẳng ngay từ những tiền đề của tiến trình học tập. Để thực hiện việc này, nó được thực hiện trong cái khung của một khoa học luận mà ta có thể gọi là “cổ điển”, khi nêu bật ngay từ đề từ của những chương đầu Émile Durkheim, Charles Darwin, Pierre Bourdieu và Jean-Claude Passeron, Auguste Comte, trong viễn tưởng sản xuất ra một khoa học về các sự kiện xã hội (trang 46). Vì “các nhà xã hội học không phải là những nhà tư tưởng mà là những người sản xuất ra những sự thật về thế giới xã hội, trong đó có những sự thật về những bất bình đẳng và những sự thống trị” (trang 49).

Print Friendly and PDF

9.10.20

Apple thuê hẳn một triết gia riêng nhưng không để anh ta nói chuyện với báo giới

Điều gì đang diễn ra bên trong Đại học Apple? AP PHOTO/MARCIO JOSE SANCHEZ

Olivia Goldhill

Vào năm 2014, trong n lc to ra công ngh tt nht, Apple đã quyết đnh tuyn dng mt triết gia toàn thi gian. Công ty đã thuê Joshua Cohen, trước đây là giáo sư triết hc chính tr ti Đi hc Stanford về làm vic cho Đi hc Apple, mt hc vin do Steve Jobs thành lập vào năm 2008 đ cung cp cho nhân viên loi hình đào to thông thường các chương trình đi hc. Các chi tiết c th ca trường đi hc này được giấu kín dưới những lp v bc; Apple đc bit cm Cohen trao đổi v công vic ca mình vi Quartz.

Print Friendly and PDF

7.10.20

Sự thành công đáng kinh ngạc của các nhà kinh tế Pháp tại Hoa Kỳ

 SỰ THÀNH CÔNG ĐÁNG KINH NGẠC CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC PHÁP Ở HOA KỲ

Arnaud Leparmentier

Duflo, Saez, Zucman, Piketty, Philippon đều đã nhận được giải thưởng nhà kinh tế trẻ tuổi xuất sắc do báo Le Monde và Câu lạc bộ các nhà kinh tế học trao tặng. Cùng với Blanchard, các “Frenchies [người Pháp]”, qua các công trình của mình, là mốt thời trang bên kia bờ Đại Tây Dương. Hãy quay lại “khoảnh khắc Pháp” này.

Thomas Philippon, giáo sư tài chính tại Đại học New York, trong một cuộc phỏng vấn dành cho kênh truyền hình Bloomberg, ngày 24 tháng 8 năm 2018. BLOOMBERG VIA GETTY IMAGES

Khi cựu đại diện của Đảng Cộng hòa, bà Nan Hayworth, vào đầu tháng 10, trên Twitter, đã gọi Gabriel Zucman và Emmanuel Saez là “những người xã hội chủ nghĩa không nghiêm túc”, thì Zucman, 33 tuổi, đã đáp lại một cách hóm hỉnh: “Bà đã bỏ sót chữ ‘Pháp’. Những người Pháp xã hội chủ nghĩa không nghiêm túc.” Hai nhà kinh tế học người Pháp tại Đại học Berkeley (California) luôn được các báo đưa lên “trang nhất”, kể từ khi họ tiết lộ rằng 400 người Mỹ giàu nhất, với cuộc cải cách [thuế] của Donald Trump, đã trả tiền thuế thu nhập, tính theo tỉ lệ, thấp hơn mức trung bình của người Mỹ. Tệ hơn nữa, đó là những người đã du nhập sự “không nghiêm túc của họ vào đất nước của chủ nghĩa tư bản: Elizabeth Warren, ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ, đã sử dụng lại đề xuất của họ về việc đánh thuế những tài sản vượt quá 50 triệu US$ (44,7 triệu euro).


Gabriel Zucman và Emmanuel Saez đang đi một vòng miền Đông nước Mỹ để quảng bá cho cuốn sách của họ, Le Triomphe de l’injustice [Chiến thắng của sự bất công] (W. W. Norton & Company, 288 trang, sẽ ra mắt ở Pháp vào tháng 2 năm 2020 ở NXB Seuil). Khoảng mười ngày trước, họ đã nói chuyện, ở Manhattan, với Paul Krugman, người đoạt giải Nobel. Một tuần trước đó, họ đã trình bày với các cộng sự của Quốc hội, thuộc đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, công cụ mô phỏng mới của họ về cải cách thuế (TaxJusticeNow.org, “công bằng thuế là giờ đây”).

Print Friendly and PDF

5.10.20

Dữ liệu (phân tích)

 DỮ LIỆU (PHÂN TÍCH)

Données (Analyse des)

Thống kê mô tả nhiều chiều với sự hỗ trợ của máy tính. Chính ngay thuật ngữ phân tích dữ liệu, chuyển từ tiếng Anh data analysis không hẳn đã là một lựa chọn tốt: kết quả của một phân tích dữ liệu là một tổng hợp, nhiều hơn là một phân tích (Diday, 1977, 16) và các nhà xã hội học thường cho rằng dữ liệu không phải là “được cho trước” (données) nhưng chúng được kiến tạo (Cibois, 1984, 10-11). Ch trong phần phân tích thứ yếu, lĩnh vực mà phân tích dữ liệu tỏ ra đặc biệt hữu ích, thì các dữ liệu mới thật sự là “được cho trước” vì chúng không được nhà nghiên cứu khai thác chúng thiết kế.

Sự xuất hiện của thuật ngữ trong những năm 1960 thể hiện một thay đổi sâu sắc trong việc sử dụng thống kê, thay đổi chủ yếu do sự phát triển của tin học. Bốn mươi năm sau sự ra đời của phân tích dữ liệu, diễn tiến này vẫn chưa chấm dứt; hơn nữa, những thay đổi về mặt khoa học luận mà phân tích dữ liệu khơi lên vẫn tiếp tục là đối tượng của những cuộc tranh luận.

Print Friendly and PDF

4.10.20

Trích dịch: “Quan chức thời 2.0. Một bộ máy quan liêu của Trung Quốc được đào tạo theo phong cách Mỹ”

TRÍCH DỊCH: “QUAN CHỨC THỜI 2.0. MỘT BỘ MÁY QUAN LIÊU CỦA TRUNG QUỐC ĐƯỢC ĐÀO TẠO THEO PHONG CÁCH M

Alessia Lefébure[1]

Phố Đông, Thượng Hải.

Trung Quốc của Tập Cận Bình thể hiện mình trên trường quốc tế như một mô hình hiện đại hóa cạnh tranh với mô hình hiện đại hóa của thế giới Phương Tây. Tuy nhiên, phần lớn bộ máy quan liêu của nó đã được đào tạo từ đầu thế kỷ này bằng cách áp dụng các phương pháp lấy cảm hứng từ Mỹ. Trong cuốn “Quan chức thời 2.0. Một bộ máy quan liêu của Trung Quốc được đào tạo theo phong cách Mỹ/ Les Mandarins 2.0. Une bureaucratie chinoise formée à l’américaine”, được xuất bản vào ngày 20 tháng 8 năm 2020 bởi Presses de Sciences Po, Alessia Lo Porto-Lefébure xem xét trường hợp của bằng thạc sĩ hành chính công, một chương trình được thúc đẩy bởi Trường Harvard Kennedy, đã du nhập vào Trung Quốc với thế kỷ mới. Nó cho chúng ta thấy cách mà giai cấp thống trị điều hòa hàng ngày sự hiện đại hóa kinh tế của đất nước và sự duy trì một chế độ chuyên quyền. Trích sách.

===================================

Từ năm 1999 đến năm 2010, vào thời điểm cải cách sâu sắc trong hệ thống đại học và hành chính, một loại hình đào tạo đại học mới về quản lý công, MPA (Master in Public Administration/Thạc sĩ Hành chính Công) đã được thành lập tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bằng thạc sĩ này thoạt nhìn có vẻ như là một sáng tạo đáng kinh ngạc do lấy cảm hứng từ nước ngoài trong một lĩnh vực mà sự không tương thích giữa các thể chế và hệ thống chính trị của Trung Quốc và Mỹ dường như rõ ràng nhất.

Trong quá trình thực hiện tiểu luận này, tôi muốn tìm lại con đường phát triển của dự án giáo dục này, như vậy mô tả một trường hợp cụ thể, được phân định trong thời gian và không gian. Lợi ích của lịch sử cụ thể của MPA là cho thấy một trong những khía cạnh của sự thay đổi thể chế ở Trung Quốc hiện nay. Sự xâm nhập ở quy mô “vi mô” vào ba trường đại học (hai ở Bắc Kinh và một ở Thượng Hải) làm sáng tỏ hai chuyển đổi đang diễn ra ở quốc gia đó: giáo dục đại học và bộ máy quan liêu.

Tôi mở đầu tiểu luận này với một sự hoài nghi nhất định về khả năng chuyển giao một mô hình giáo dục và một văn hóa hành chính giữa các hệ thống và bối cảnh khác biệt một cách rõ ràng với nhau như Hoa Kỳ và Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của phiên bản MPA Trung Quốc cho thấy việc cấy ghép đã thành công. Giống như tất cả các loài thích nghi trong quá trình biến đổi hệ sinh thái, một đột biến đã xảy ra. Giống như một sinh vật biến đổi gen, MPA lấy cảm hứng từ Hoa Kỳ đã trở nên bền vững và có thể thích ứng với bối cảnh địa phương bằng cách trải qua một quá trình biến đổi được mô tả trong cuốn sách này.

Print Friendly and PDF

3.10.20

Lịch sử khoa học là lịch sử của hoạt động khoa học (B. Suchodolski, 1968)

LỊCH SỬ KHOA HỌC LÀ LỊCH SỬ CỦA HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC (B. SUCHODOLSKI, 1968)

Tác giả: Bogdan Suchodolski[*]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa
*
Bogdan Suchodolski (1903-1992)

Khái niệm khoa học thường được kết hợp với niềm tin rằng khoa học chứa đựng chân lý. Ngay cả nếu chúng ta thừa nhận rằng ta không thể đạt đến chân lý hoàn toàn đi nữa, ta cũng không rút ra kết luận rằng những ý kiến ​​sai trt thuc v khoa hc. Ngược li, ta cho rng ch nhng ý kiến đối lp vi cái sai, nghĩa là đúng mt cách nào đó, mới có quyền tồn tại trong ​​khoa hc. Chúng ta đặc trưng hóa khoa học bằng cách lấy quy chiếu về cái đúng làm khởi điểm, nói rằng nội dung của nó là sự khắc phục mọi giả trá, sai trật, viển vông và hoang tưởng.
Từ quan điểm này, lịch sử của khoa học phải được hiểu như lịch sử của chân lý. Tuy nhiên, ta chỉ cần lướt mắt qua bất kỳ một quyển giáo trình về lịch sử khoa học nào cũng đủ để tự thuyết phục rằng thực tế không phải như vậy; trên thực tế, chúng bao gồm cả những sai trật và giả mạo. Như vậy, nếu lịch sử của khoa học không phải là lịch sử của chân lý, thì nó không phải là lịch sử của những gì cấu thành nội dung cốt yếu của khoa học; nó là lịch sử của những gì chính xác không phải là khoa học, cái mà khoa học không muốn là như vậy, cái mà khoa học chống lại. Như vậy, phải chăng lịch sử của khoa học sẽ đúng hơn là lịch sử của cái phản khoa học - để sử dụng một lối nói thời thượng? [...]
Thật ra, sự thật như chân lý nằm ngoài thời gian, vì nó nằm ngoài sự trở thành, dòng biến dịch. Điều lịch sử kể lại không liên quan tới chân lý; cái là chân lý không có lịch sử. Nếu chúng ta có thể, nói về “lịch sử của chân lý” trong một nghĩa nào đó, thì nó chỉ có thể trong nghĩa đấy là lịch sử của con đường dẫn tới chân lý; nhưng một lịch sử như vậy sẽ thuật lại chúng ta đã vượt qua những cái sai, cái giả như thế nào. Những sai trật và giả mạo có lịch sử của chúng, trong khi sự thật như chân lý không hề có.
Print Friendly and PDF

1.10.20

Từ virus đến khí hậu

  Hồ sơ: Những khuôn mặt của đại dịch


TỪ VIRUS ĐẾN KHÍ HẬU

Alexandre Gajevic Sayegh[*]

Khủng hoảng đại dịch và khủng hoảng sinh thái có nhiều điểm chung, trước tiên là nguy cơ gây tử vong mà hàng triệu người phải đối mặt. Giải thích thế nào khi giới chính trị tập trung hành động đối phó với virus, thế nhưng họ không biết đến những khuyến nghị của các nhà khoa học đối với vấn đề khí hậu?

Nhiều người sẽ mất người thân. Nhiều người khổ sở vì lo lắng. Lao động ăn lương hay lao động tự do, tiểu thương và những doanh nghiệp lớn phải chịu mất thu nhập. Một số người sẽ mất việc, thậm chí mất chỗ ở. Khủng hoảng y tế do đại dịch Covid-19 gây ra sẽ có những hậu quả bi đát cho nhiều người, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội chúng ta.

Sự lo lắng, những hậu quả bi đát, thu nhập bị mất cũng là những hậu quả của biến đổi khí hậu. Tại sao, trong khi những nguy cơ do khủng hoảng sinh thái gây nên ít ra cũng quan trọng như những nguy cơ gắn với khủng hoảng y tế hiện nay, ta lại thấy có sự khác biệt lớn trong cách đáp trả về mặt chính trị đối với mỗi cuộc khủng hoảng?

Virus corona và khí hậu nóng lên có bốn điểm chung: (a) cái giá của sự không hành động là vô cùng lớn, (b) sự gia tăng của hai hiện tượng là theo cấp số nhân, (c) sự tàn phá thiên nhiên là một trong những nguyên nhân của đại dịch, cũng là nguyên nhân của suy thoái khí hậu, và (d) trong cả hai trường hợp, đáp trả khủng hoảng bao hàm một sự thay đổi đáng kể những lối sống của chúng ta, của tổ chức công việc và nền kinh tế. Những mối liên hệ này thúc đẩy chúng ta suy nghĩ cùng lúc về cả hai vấn đề này.

Phân tích này có mục đích làm sáng tỏ điều mà các nhà chính trị đáp trả khủng hoảng Covid-19 có thể chỉ dẫn cho chúng ta trong cuộc chiến khí hậu. Bằng cách khảo sát những điểm chung cũng như những tương phản về kinh tế, tâm lý và chính trị của hai cuộc khủng hoảng, ta có thể suy ra một cấu trúc lập luận hỗ trợ cho hành động bảo vệ khí hậu khởi đi từ sự đáp trả khủng hoảng y tế của nhiều nước công nghiệp phát triển.

Print Friendly and PDF

30.9.20

Lợi nhuận bị mất của các quốc gia

 LỢI NHUẬN BỊ MẤT CỦA CÁC QUỐC GIA

Ba nhà kinh tế học, Thomas Tørsløv (Københavns Universitet), Ludvig Wier (UC Berkeley) và Gabriel Zucman (UC Berkeley), đã công bố những số liệu ước tính chưa từng công bố về tỷ phần lợi nhuận của các công ty đa quốc gia được chuyển đến các thiên đường thuế. Bằng cách đề xuất những độ lớn khác nhau trong cuộc tranh luận sôi nổi này, giữa sự khó khăn trong việc hài hòa thuế và vấn đề về tính hiệu quả của cơ quan điều tiết, họ đã mang đến một viễn cảnh mới lạ về phạm vi rộng lớn của hiện tượng tránh thuế và những hậu quả của nó.

Tác giả: Thomas Tørsløv, Ludwig Wier, Gabriel Zucman

Người dịch: Thomas Belaich

Ngày 9 tháng 9 năm 2020


Vai trò của các thiên đường thuế trong áp lực giảm thuế toàn cầu

Có lẽ diễn biến nổi bật nhất của chính sách thuế trên thế giới trong những thập kỷ gần đây là việc giảm một nửa mức thuế bình quân đánh trên doanh nghiệp. Thực vậy, từ năm 1985 đến năm 2018, thuế suất theo luật định của thuế thu nhập doanh nghiệp đã biến động bình quân từ 49% xuống 24% trên toàn thế giới.

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng các dữ liệu kinh tế vĩ mô mới để chỉ ra rằng các vụ chuyển lợi nhuận là một nhân tố chính dẫn đến mức giảm thuế rất ấn tượng này: gần 40% lợi nhuận của các công ty đa quốc gia đã được chuyển, một cách giả tạo, đến các thiên đường thuế trong năm 2015, và sự tránh thuế to lớn này, cũng như sự bất lực trong việc kiểm soát nó, đang khiến ngày càng có nhiều nước từ bỏ việc đánh thuế các công ty đa quốc gia.

Cách giải thích cổ điển cho xu hướng giảm thuế là do sự toàn cầu hóa đã đẩy các nước ngày càng cạnh tranh nhiều hơn về tư bản sản xuất, và do đó phải thắt chặt sự cạnh tranh về thuế. Bằng cách giảm thuế, một nước có thể thu hút thêm nhiều máy móc hơn, nhiều nhà máy và trang thiết bị hơn, và điều này làm cho người lao động làm việc có năng suất cao hơn và cuối cùng làm tăng lương họ, v.v.. Lý thuyết này đặc biệt phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách, và là cơ sở thông tin cho hầu hết các cuộc thảo luận trong nghị trình về chính sách thuế, như được minh họa bằng quyết định giảm thuế doanh nghiệp của Mỹ từ 35% xuống 21% vào năm 2018 (CEA 2017).

Print Friendly and PDF

29.9.20

Một nhà kinh tế học kéo còi báo động

MỘT NHÀ KINH TẾ HỌC KÉO CÒI BÁO ĐỘNG

Về cuốn sách “Il faut dire que les temps ont changé... Chronique (fiévreuse) d’une mutation qui inquiète (Phải nhận thấy thời thế đã thay đổi …”, Bản thời luận bồn chồn về một sự đột biến gây lo lắng) của Daniel Cohen[1], NXB Albin Michel.
Christian Baudelot[2]

Daniel Cohen (1953-)
Daniel Cohen đề cập những thay đổi trong thế giới toàn cầu hóa của chúng ta với một mối quan tâm hiếm khi nhận thấy nơi các nhà kinh tế học. Sự ra đời của homo digitalis/con người số hóa, mạng xã hội và sự robot hóa các nền kinh tế đòi hỏi tìm kiếm các cách thức làm chủ tập thể những biến động đang diễn ra.
Rất hiếm khi một nhà kinh tế bày tỏ cảm xúc của mình. Tuy nhiên, đây là điều mà Daniel Cohen thể hiện ngay từ tựa đề cuốn sách của mình. Có những sự chuyển dịch kỳ lạ diễn ra đã đưa chúng ta từ thế giới này sang thế giới khác, hoàn toàn xa lạ với cái thế giới đã sinh ra nó”. Thật vậy, biến đổi là chủ đề chính của cuốn sách này. Và đó là một sự biến đổi có cường độ to lớn vì nó liên quan đến sự chuyển dịch “từ thế giới này sang thế giới khác”. Đó là cái tối thiểu. Lấy cảm hứng từ sự phân kỳ được Fourastié xác lập năm 1948 (Le grand espoir du XXe siècle/Hy vọng to lớn của thế kỷ XX), Cohen cho rằng sau thời đại nông nghiệp, rồi đến thời đại công nghiệp, xã hội của chúng ta đã bước sang thời đại thứ ba, thời đại của kỹ thuật số và con người số hóa. Ông không phải là người đầu tiên phân tích những biến đổi sâu sắc mà các công nghệ mới đang ghi lại trong lối sống, tâm trí và cách sử dụng không gian và thời gian của chúng ta. Nhận thức được rằng mọi thứ đang chuyển động, nhà kinh tế học cũng là người đọc thông tin sành sỏi về một loạt các nghiên cứu tất cả những biến động này trong các lĩnh vực đa dạng nhất, bắt đầu từ các cơ sở kinh tế của xã hội chúng ta. Mục đích của cuốn sách này là cung cấp cho người đọc phương tiện để đạt đến một cái nhìn tổng thể về những gì đang xảy ra với chúng ta. Đây là lý do tại sao, nhân rộng các góc độ của cách tiếp cận, ông kết nối không những cái nhìn của các nhà kinh tế học, xã hội học, nhân khẩu học, tâm lý học trước đây và hiện nay, mà còn của các nhà triết học, phân tâm học, và các chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, các nhà vật lý, sinh học và không bỏ qua sự đóng góp rất quan trọng của các nhà văn, nhà làm phim và ca sĩ, đặc biệt là Bob Dylan. Sự tập hợp các yếu tố tạp nham này rất bổ ích và độc đáo. Ông tạo nên một bức tranh làm cho các động lực phức tạp của tất cả các đột biến này trở nên dễ hiểu và đáng lo ngại. Chúng đang đảo lộn thế giới của chúng ta đến mức làm cho cả một số thành phần dân chúng... và chính nhà kinh tế học bị mất phương hướng. Tình hình thực sự nghiêm trọng! Sự đánh mất ý nghĩa nằm ở trung tâm của cuốn sách.
Print Friendly and PDF

28.9.20

Việc không làm gì đối với khí hậu cũng sẽ tốn kém như đại dịch trong một năm

VIỆC KHÔNG LÀM GÌ ĐỐI VỚI KHÍ HẬU CŨNG SẼ TỐN KÉM NHƯ ĐẠI DỊCH TRONG MỘT NĂM

Một chiến lược kinh tế tốn kém
Các nhà khoa học, các nhà bảo vệ môi trường, giới trẻ tuổi quan tâm đến tương lai của họ, tất cả các nhà quan sát về biến đổi khí hậu đều đã lên tiếng trong nhiều năm qua. Sự bất động về chính trị và sợ trách nhiệm trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu đang đẩy chúng ta thẳng đến một thế giới không thể sống nỗi. Điều mà chúng ta ít biết hơn, và vừa được tiết lộ trong một nghiên cứu quốc tế được công bố trên tạp chí danh tiếng Nature, đó là sự bất động trong cuộc chiến chống lại sự biến đổi khí hậu có một tác động kinh tế khổng lồ, chưa từng được đo lường. Các nhà nghiên cứu cho rằng cái giá của việc không làm gì đối với khí hậu có thể so sánh với cái giá của đại dịch hiện tại, điều sẽ tái diễn hàng năm cho đến năm 2100. Nói cách khác, thảm họa khí hậu được dự đoán sẽ đi đôi với một thảm họa kinh tế không thể khắc phục. Điều làm cho tất cả các nhà lãnh đạo bị cám dỗ bởi các chính sách tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa phải suy nghĩ.
Một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Mỹ và Thụy Điển đã hợp lực để thực hiện một phép tính to lớn: chi phí của những biện pháp cần thực hiện để đưa tình trạng khí hậu nóng lên toàn cầu xuống dưới mức 1,5°C, do Thỏa thuận Paris thiết lập, là bao nhiêu? Một câu hỏi kèm theo một câu hỏi khác, theo hướng ngược lại: Cái giá phải trả là bao nhiêu, nếu không thực hiện các biện pháp nói trên, và nếu để cho khí hậu tiếp tục diễn biến như bình thường?
Print Friendly and PDF