20.4.19

Tại sao Pháp muốn loại Huawei khỏi thị trường mạng 5G

TẠI SAO PHÁP MUỐN LOẠI HUAWEI KHỎI THỊ TRƯỜNG MẠNG 5G
Pháp vừa thông qua một luật, mà trên thực tế, là loại nhà sản xuất thiết bị Trung Quốc khỏi thị trường mạng di động thế hệ mới.
Sau một thời gian lưỡng lự khá lâu, chính phủ Pháp vừa gia nhập danh sách những nước muốn tránh xa gã khổng lồ Trung Quốc Huawei. Ngay giữa lúc triển khai mạng di động 5G trong tương lai, Quốc hội vừa thông qua một luật bắt buộc các nhà khai thác mạng di động phải được Thủ tướng Chính phủ cấp phép để lắp đặt các thiết bị mạng vô tuyến. Nếu tên của Huawei không được đề cập đến, thì chính tập đoàn là mục tiêu nhắm đến của luật này.
Được công chúng biết đến qua các sản phẩm điện thoại thông minh của mình, mà doanh số bán ra trên toàn cầu đã vượt xa Apple vào năm ngoái, Huawei còn được biết đến là một gã khổng lồ về trang thiết bị viễn thông, từ ăng-ten cho đến bộ định tuyến. Thực vậy, hoạt động hàng đầu của Huawei là trang bị công cụ cho các nhà khai thác mạng viễn thông, vì nó chiếm 49% doanh thu của họ trong năm 2017, hay 297 tỷ nhân dân tệ (38,5 tỷ euro), so với 39% đối với sản phẩm điện thoại thông minh.
Print Friendly and PDF

18.4.19

Kinh tế học và Thực tại + Phỏng vấn Tony Lawson


KINH TẾ HỌC VÀ THỰC TẠI

Lars Pålsson Syll
Tony Lawson (1950-)

Kinh tế học hiện đại ngày càng không liên quan đến sự hiểu biết về thế giới hiện thực. Trong cuốn sách có ảnh hưởng sâu rộng Kinh tế học và Thực tại [Economics and Reality] (1997), Tony Lawson đã vạch ra sự không liên quan này với sự thất bại của các nhà kinh tế trong việc gán ghép phương pháp suy luận diễn dịch-tiên đề của họ với chủ đề của họ.
Thật là buồn khi những vấn đề đã được vạch ra từ 20 năm trước vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Trong kinh tế học dòng chính vẫn tồn tại một thực tế là người ta chỉ chú trọng tính hợp lý bên trong (internal validity)[1] mà không hề quan tâm đến tính hợp lý bên ngoài (external validity)[2]. Thật khó có thể tưởng tượng được tại sao lại có người quan tâm đến loại lý thuyết và mô hình đó. Chừng nào các nhà kinh tế dòng chính chưa đưa ra bất kỳ giấy phép-xuất khẩu nào cho các lý thuyết và mô hình của họ ra thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống, thì chừng đó họ thực sự không nên ngạc nhiên nếu mọi người nói rằng kinh tế học chẳng phải là khoa học, mà chỉ là chứng tự kỷ thôi!
Print Friendly and PDF

16.4.19

Biển Đông: tại sao thái độ của Bắc Kinh trở nên ôn hòa hơn trước

BIỂN ĐÔNG: TẠI SAO THÁI ĐỘ CỦA BẮC KINH TRỞ NÊN ÔN HÒA HƠN TRƯỚC
Điểm chiến lược đối với Bắc Kinh, bãi cạn Scarborough gần Philippines, ở Biển Đông. (Nguồn: Next Big Future)
Mặc người Mỹ đã cố thay đổi giọng điệu ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh vẫn không phản ứng. Vào hôm thứ Sáu này, ngày 29 tháng 3, Mike Pompeo đã lên tiếng khẳng định mạnh mẽ rằng dự án Con đường tơ lụa mới” gắn với chiến lược quân sự hóa các đảo nhỏ của Trung Quốc thuộc vùng biển tranh chấp này. Trước đó vào tháng 3, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã hứa hẹn Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Philippines trong trường hợp bị tấn công trong khu vực. Vào những thời điểm khác, người Trung Quốc đã làm gia tăng tình trạng căng thẳng. Nhưng năm nay, họ có nhiều lý do để đặt cược vào sự ôn hòa. Sau đây là cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Li Mingjiang, chuyên gia về an ninh châu Á-Thái Bình Dương.
Print Friendly and PDF

14.4.19

“Cám dỗ xem các khám phá trong quá khứ như những đoán trước và đóng góp vào khoa học hiện đại” (1952)

CÁM DỖ XEM CÁC KHÁM PHÁ TRONG QUÁ KHỨ NHƯ NHỮNG ĐOÁN TRƯỚC VÀ ĐÓNG GÓP VÀO KHOA HỌC HIỆN ĐẠI” (1952)
Tác giả: Alistair Cameron Crombie[*]
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Alistair C. Crombie (1915-1996)

[…] Do đó, những vấn đề chính đối với giới sử gia khoa học là: con người đã đặt ra loại câu hỏi nào, vào thời điểm cụ thể nào, về thế giới tự nhiên? Họ đã có khả năng cung cấp những giải đáp nào? Và tại sao các câu trả lời này không còn đáp ứng được sự tò mò của con người nữa? Đâu là những vấn đề mà các nhà khoa học đương thời đã thấy, và đâu là những vấn đề họ không thấy? Những giới hạn tiêu biểu của triết lý tự nhiên đương thời là gì, về phương pháp khoa học, kỹ thuật quan sát, kinh nghiệm, toán học, và những thay đổi nào ở một giai đoạn khác đã chuyển hướng các quan điểm của họ? Một hệ thống tư tưởng khoa học cũ kỹ nào đó, có vẻ rất kỳ quặc đối với chúng ta, những người nhìn xuống nó từ chiều cao của thế kỷ thứ XX ta đang đứng, sẽ trở thành dễ hiểu khi chúng ta hiểu những câu hỏi mà nó được vời ra để trả lời.

Chính những câu hỏi đã tạo nghĩa cho các câu trả lời. Khi một hệ thống thay thế một hệ thống khác, đấy không đơn giản chỉ vì người ta phát hiện ra các sự kiện mới, và chúng đã bác bỏ hệ thống cũ hoặc làm cho nó thành lỗi thời, mà bởi vì, quan trọng hơn, do một lý do nào đó, đôi khi là hệ quả của các quan niệm lý thuyết mới, các nhà khoa học bắt đầu suy nghĩ lại toàn bộ quan điểm của mình, đặt ra những câu hỏi mới, đưa ra các giả thuyết khác, nhìn vào các chứng liệu từ lâu quen thuộc với một nhãn quan mới [...]
Print Friendly and PDF

12.4.19

Căn nguyên của những bất ổn kinh tế của trung quốc là gì ư? Là chính trị đấy, đồ ngốc!


BÙI MẪN HÂN: CĂN NGUYÊN CỦA NHỮNG BẤT ỔN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC LÀ GÌ Ư? LÀ CHÍNH TRỊ ĐẤY, ĐỒ NGỐC!
Bùi Mẫn Hân
Đánh giá về phản ứng của thị trường tài chính trước hàng loạt tin không tốt gần đây [năm 2015] về tình hình kinh tế của Trung Quốc, rõ ràng là cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu không hề nghĩ rằng “phép màu kinh tế” của Trung Quốc sẽ mau chóng hiện nguyên hình. Nhưng đối với những người quen thuộc với cơ sở lý thuyết kinh tế chính trị về các chế độ chiếm đoạt, sự vấp ngã của Trung Quốc là chuyện không chỉ có thể dự đoán mà còn không thể tránh khỏi.
Douglass North (1920-2015)

Hầu hết các giám đốc điều hành và nhà đầu tư có thể quá bận rộn để đọc một công trình nghiên cứu lý thuyết kinh điển dày cộm như cuốn “Institutions, Institutional Change and Economic Performance” [Thể chế, Thay đổi Thể chế và Thành tựu Kinh tế] của sử gia kinh tế, khôi nguyên giải [tưởng nhớ] Nobel [năm 1993] Douglass North, hay một cuốn sách dễ đọc hơn, “Tại sao các Quốc gia Thất bại” của nhà kinh tế giảng dạy tại Viện Công nghệ Massachusetts, Daron Acemoglu, và nhà kinh tế giảng dạy tại Đại học Harvard, James Robinson. Những nhận thức sâu sắc từ các học giả - những người đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế - là đáng để ta chú ý.
Print Friendly and PDF

10.4.19

Từ việc sinh kế đến đời sống hạnh phúc, Zola và các nhà kinh tế học cổ điển

TỪ VIỆC SINH KẾ ĐẾN ĐỜI SỐNG HẠNH PHÚC, ZOLA VÀ CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC CỔ ĐIỂN

Émile Zola (1840-1902)

Bằng cách đề cập đến các chủ đề về lao động, tư bản, sinh kế, ở một mức độ nào đó, tiểu thuyết của Zola đã minh họa các khái niệm của kinh tế học cổ điển. Nhưng bằng cách đưa hành vi cá nhân lên thành các phân cảnh tiểu thuyết, chúng cũng đã làm xuất hiện những điểm mù không được các nhà kinh tế đề cập đến.
Các lý thuyết kinh tế của thế kỷ XIX có thể giúp hiểu được diễn ngôn về kinh tế của Emile Zola trong tác phẩm hư cấu của ông hay không? Ngược lại, việc đọc Zola có thể thay đổi việc đọc các văn bản kinh tế của chúng ta hay không? Đến mức độ nào thì việc đọc sẽ minh họa các khái niệm của kinh tế học cổ điển, và ở mức độ nào nó cho thấy những điểm mù không được tra vấn và thậm chí còn không được các nhà kinh tế đề cập đến? Để cố gắng trả lời những câu hỏi này, chúng tôi sẽ đề cập đến hai hệ tác phẩm, Les Rougon-Macquart [Nhà Rougon – Macquart] và Les quatre évangiles [Bốn chân lý] (đặc biệt là trong cuốn tiểu thuyết thứ hai mang tên Travail [Lao động]). Với Les Rougon-Macquart, Zola đã minh họa xã hội thế kỷ 19 bằng cách miêu tả hai gia đình tương phản: Rougons, phía tư sản, và Macquart, bên lao động. Ông làm rõ sự điên rồ của Đế chế thứ hai và mô tả một xã hội đang trên đường tan rã. Trong Les quatre évangiles, ông đã sử dụng thể loại văn mới, dạng văn không tưởng, đặc biệt lấy nhiều cảm hứng từ Charles Fourier[*].
Print Friendly and PDF

8.4.19

Hệ thống động trong kinh tế học


HỆ THỐNG ĐỘNG TRONG KINH TẾ HỌC
Dynamical systems in economics
Giải Nobel: ARROW, 1972 SAMUELSON, 1970
Henri Poincaré (1854-1912)
Thường Poincaré được xem như là người khởi xướng việc nghiên cứu những hệ thống động, nghĩa là cách tiếp cận định tính những phương trình vi phân. Do đó không phải là điều ngạc nhiên khi trong nửa đầu thế kỉ XX, ta thấy xuất hiện trong một số mô hình kinh tế việc sử dụng những kết quả cơ bản của lí thuyết này; đặc biệt đó là trường hợp của việc nghiên cứu tính ổn định của cân bằng chung. Ví dụ, trong những mô hình walrasian, động thái của giá cả, bị qui luật cung cầu chi phối, có thể được biểu trưng bằng phương trình vi phân p'(t) = Z(p, t) với p'(t) là đạo hàm của vectơ giá p(t) nZ tượng trưng cho hàm dư cầu. Dưới những giả thiết chuẩn, tồn tại một giá cân bằng = p* cho mọi t, và vấn đề dò dẫm walrasian qui lại là phải biết là những nghiệm của điều kiện ban đầu p0 bất kì nào gần với p* có hội tụ về p* không. Nếu có một sự hội tụ như thế thì cân bằng được gọi là ổn định. Arrow và Hurwitz (1958) đã chứng minh được những điều kiện đủ của tính ổn định. Mặt khác những mô hình kinh tế vĩ mô chịu ảnh hưởng của tư tưởng keynesian, đặt cơ sở trên cơ chế số nhân-gia tốc, đã đề nghị những điều kiện xuất hiện của những biến động. Đó là trường hợp của mô hình Samuelson (1939), mô hình tuyến tính trong đó cân bằng là một trung tâm (nghĩa là những quĩ đạo là những đường đóng bao quanh cân bằng). Kaldor (1940), Goodwin (1947) đã mở rộng những kết quả này ra những mô hình phi tuyến tính.
Print Friendly and PDF

6.4.19

Thuật toán nào cho dữ liệu nào?


THUẬT TOÁN NÀO CHO DỮ LIỆU NÀO?
Florent Krzakala, Đại học Sorbonne,
Lenka Zdeborová, CNRS
Làm thế nào để tìm kiếm thông tin thích đáng trong một tập hợp lớn các dữ liệu thoạt nhìn có vẻ lộn xộn? Vấn đề nan giải này, mang tính quyết định trong thời đại của dữ liệu lớn, được nhìn nhận theo một cách mới, nhờ sự tương tự với các giai đoạn chuyển pha, được nghiên cứu trong vật lý thống kê.
Một phần quan trọng của thế giới chúng ta bị các thuật toán chi phối, thứ đang kiểm soát những cơ sở hạ tầng lớn và đưa ra những quyết định tối ưu. Tuy nhiên, những lý do cơ bản cho sự thành công của chúng ngày càng bí ẩn, khi nhiệm vụ, mà các thuật toán này phải hoàn thành, ngày càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Chúng ta cũng đang bước vào một kỷ nguyên mà những phương pháp phát hiện bằng thuật toán, từ một lượng lớn các dữ liệu, chắc chắn sẽ đóng một vai trò trội nhất trong các khám phá khoa học. Nhưng chúng ta cần phải có một lượng dữ liệu lớn cỡ nào để tìm ra một cách hiệu quả một tín hiệu thích đáng trong một tập hợp lớn các dữ liệu thoạt nhìn có vẻ hỗn độnCâu hỏi này về tính phức hợp của thuật toán nằm ở trung tâm của lý thuyết phức hợp tính toán.
Print Friendly and PDF

4.4.19

Giới thiệu sách ĐẠI HỌC của Nguyễn Xuân Xanh

GIỚI THIỆU SÁCH
ĐẠI HỌC
của NGUYỄN XUÂN XANH


Chức năng quan trọng nhất của các trí thức Nhật Bản là đã truyền được tri thức của thế giới phương Tây vào Nhật Bản.
NAGAI MICHIO
Giáo sư, nhà nghiên cứu, nguyên Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Nhật Bản
Đại học là một trường, nhưng là một trường loại đặc biệt duy nhất. Ở đó không phải chỉ có dạy, nhưng người sinh viên tham gia vào nghiên cứu, và qua đó đạt một sự giáo dục khoa học quyết định cho cuộc đời. Theo tinh thần đại học, các sinh viên là những nhà tư tưởng độc lập, tự trách nhiệm và lắng nghe thầy mình một cách phê phán. Họ có tự do trong sự học.
Đại học là nơi ở đó xã hội và nhà nước để cho ý thức sáng sủa nhất về thời đại phát triển. Ở đó thầy và trò có thể đến với nhau như những con người chỉ có tiếng gọi là đi tìm và nắm bắt chân lý. Vì rằng đâu đó việc đi tìm chân lý vô điều kiện (phải) diễn ra, bởi đó là một nhu cầu của con người với tư cách là con người.
Các quyền lực trong nhà nước và xã hội tuy nhiên cũng chăm lo cho đại học, vì đại học đem lại nền tảng cho việc thực hành các nghề (thuộc) nhà nước, điều đòi hỏi phải có tri thức khoa học và giáo dục tinh thần. […]
Chỉ có ai mang trong mình ý niệm đại học, người đó mới có thể tư duy và hành động đúng theo sự việc cho đại học. Ai không như thế, người ấy chỉ nhìn thấy một bộ máy… Bộ máy này được cải trang bằng những lời lẽ hùng hồn truyền thống.
KARL JASPERS
Bác sĩ tâm thần học, nhà triết học và giáo dục đại học Đức
Thế hệ chúng ta thừa hưởng di sản được truyền lại bởi thế hệ trước. Chúng ta thường biết nhiều hơn, không phải vì chúng ta đã tiến lên bằng năng lực tự nhiên của chúng ta, mà bởi vì chúng ta được nâng đỡ bởi sức mạnh tinh thần của những người khác, và sở hữu tài sản được thừa hưởng từ ông cha ta. Bernard ở Chartres thường so sánh chúng ta với những người lùn bé bỏng được đặt trên vai những người khổng lồ. Ông chỉ ra rằng chúng ta nhìn thấy nhiều hơn và xa hơn những người đi trước chúng ta, không phải vì chúng ta có tầm nhìn sắc sảo hay chiều cao lớn hơn, mà bởi vì chúng ta đã được nâng lên và đứng cao trên tầm vóc khổng lồ của họ.
JOHN ở Salisbury
Nhà triết học và giáo dục, linh mục Anh ở nhà thờ Chartres, Pháp (1176), trong tác phẩm Metalogicon bảo vệ giáo dục khai phóng
[1]
Đại học là một định chế giáo dục cao bền vững phát triển tri thức của châu Âu Kitô giáo Trung cổ, một hiện tượng rất đặc thù không nền văn minh nào khác có, đánh dấu sự thức tỉnh tinh thần của một nền văn minh mới của thế giới sau đêm dài một nghìn năm vắng bóng học thuật. Đại học tiếp nối truyền thống trí thức Hy Lạp cổ đại, đưa tư duy logic, khoa học sáng sủa trở lại con người một cách hệ thống và, một cách không ý thức, làm bệ phóng tinh thần cho khoa học hiện đại phát triển. Đại học Trung cổ, rồi Đại học Đức thế kỷ 19, là những innovation then chốt của lịch sử có tác động quyết liệt lên sự định hình nền văn minh phương Tây và thế giới.
Print Friendly and PDF

2.4.19

Hồi kết của kinh tế học?


HỒI KẾT CỦA KINH TẾ HỌC?
Con người hiếm khi duy lý – vì vậy đã đến lúc tất cả chúng ta cần dừng lại việc giả vờ là người duy lý.
Bức tượng Cô gái can đảm đứng nhìn tác phẩm điêu khắc Bò tót của Phố Wall ở New York vào ngày 29 tháng 3 năm 2018. (Volkan Furuncu/Anadolu Agency/Getty Images)
Năm 1998, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á tàn phá một số nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, thì tạp chí New Yorker đã cho đăng một bài báo mô tả các nỗ lực giải cứu quốc tế. Bài báo mô tả nhà siêu ngoại giao của thời đó, một người đàn ông với ý tưởng lớn mà tạp chí The Economist, gần đây, đã so sánh với Henry Kissinger. Tạp chí New Yorker còn đi xa hơn khi chú thích rằng khi người đàn ông đó đến Nhật Bản vào tháng 6, vị quan chức người Mỹ này được đối xử “như thể ông ấy là Tướng [Douglas] MacArthur”. Khi hồi tưởng lại, sự tôn sùng đó có vẻ đáng ngạc nhiên, vì người đàn ông đó, Larry Summers, dáng vẻ lôi thôi, là một chuyên gia vụng về, khi đó đang làm Thứ trưởng Bộ Tài chính Hoa Kỳ. Địa vị phi thường của ông ta, một phần, nhờ vào thực tế là Hoa Kỳ vào lúc đó (và nay vẫn là) siêu cường duy nhất của thế giới và vào thực tế là Summers là (và vẫn là) con người cực kỳ thông minh. Nhưng lý do lớn nhất cho việc chào đón Summers như vậy là hình ảnh phổ biến về ông ta như người có một kiến ​​thức đặc biệt có thể cứu vãn châu Á khỏi sự sụp đổ. Summers là một nhà kinh tế.
Print Friendly and PDF