PTKT: Nhân dịp Jean Tirole trở thành chủ nhân giải kinh tế học của Ngân hàng Thụy Điển để tưởng nhớ Alfred Nobel, PTKT đăng lại dưới đây bài của bloger Alexandre Delalgue tóm tắt sự nghiệp của ông. Ngoài ra, PTKT cũng đăng hai phỏng vấn Tirole, một của Nicolas Chevassus-au-Louis trên nguyệt san La Recherche, năm 2007, số 414 tại đây và một của Xavier de la Vega trên Nguyệt san Sciences Humaines, số 189, tháng giêng 2008 tại đây.
Jean Tirole, người được giải Nobel và nhà sư phạm
Jean Tirole, giải Nobel kinh tế năm 2014, trước tiên là một người lao động cật lực. Gần 200 công trình đăng trên các tạp chí quốc tế, hơn mười quyển sách, nhà đồng sáng lập cùng với Jean-Jacques Laffont – một tác giả sớm qua đời – và điều khiển Trường kinh tế Toulouse (TSE), giáo sư ở Hoa Kì lẫn ở Pháp, … Ít nhà nghiên cứu nào có khả năng làm một khối lượng lớn công việc đến thế. Vì vậy, khó mà mô tả và tóm tắt đơn giản sự nghiệp của ông.
Một nhà kĩ sư kinh tế
Jean Tirole là hậu duệ của một truyền thống đặc biệt Pháp, truyền thống kĩ sư-kinh tế. Ngay từ thế kỉ XIX, những kĩ sư như Jules Dupuit hay Antoine-Augustin Cournot phát triển một cách tiếp cận kinh tế học dựa trên việc áp dụng toán học. Những biểu đồ cung và cầu làm sinh viên ngày nay thích thú có từ thời đó. Có thể gắn kết cha con Walras và ngay cả những tác giả Pháp khác được giải Nobel kinh tế sau này (Gérard Debreu năm 1983 và Maurice Allais năm 1988) với cách tiếp cận trên mà ta có thể gọi là cách tiếp cận “toán học xã hội”.
Nhà kĩ sư xã hội Pháp là người dựa trên việc nắm vững toán học khi đề cập những vấn đề xã hội, vận dụng khoa học “thuần túy” để giải quyết những vấn đề xã hội. Có một liều lượng chủ nghĩa gia trưởng trong cách nhìn sự vật như thế: nhà kĩ sư-kinh tế theo kiểu Pháp là người vượt qua những cách biệt chính trị, tự đặt mình ở vị trí nhà kĩ trị sáng suốt, đứng trên mọi cuộc tranh chấp nhằm cung cấp một tầm nhìn duy lí có tác dụng giảm nhiệt – ngôn ngữ toán học là công cụ của việc hạ nhiệt này, vừa giới hạn sự hiểu biết chỉ trong một giới tinh hoa vừa né tránh khẩu ngữ vốn có thể chuyển tải quá nhiều lửa.








