23.1.15

Quản trị tri thức để tránh bẫy tri thức: liên hệ so sánh giữa vài quốc gia Đông Nam Á



QUẢN TRỊ TRI THỨC ĐỂ TRÁNH BẪY TRI THỨC: LIÊN HỆ SO SÁNH GIỮA VÀI QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

1. Đặt vấn đề: Tri thức cho sự phát triển

Giữa thế kỷ 20 diễn ra một bước ngoặt trong chính sách phát triển. Câu hỏi đặt ra là: quốc gia nghèo tài nguyên làm thế nào để phát triển trong một thế giới mà nhu cầu và giá cả của nguyên liệu thô, nhất là nhiên liệu hóa thạch, ngày càng tăng? Làm thế nào để mua được năng lượng hóa thạch và kim loại nặng với giá ngày càng cao trong quá trình phấn đấu lên vị trí một nước công nghiệp hóa? Trong khu vực Đông Nam Á, câu hỏi này được đặt ra đối với Việt Nam, Malaysia và Thái Lan, trong khi không hề được đặt ra ở Brunei Darussalam (một quốc gia nhiều dầu lửa).
Cần sử dụng nguồn lực con người như thế nào để đất nước vượt khỏi mức thu nhập thấp? Báo cáo Phát triển của Ngân hàng Thế giới năm 1998 - 1999 đã tổng kết ý tưởng khi nhận diện “tri thức” là nhân tố mới của sản xuất. So sánh con đường phát triển của Hàn Quốc và Ghana, Ngân hàng Thế giới kết luận rằng các yếu tố đầu vào truyền thống cho sản xuất như đất đai, vốn, lao động cơ bắp, chỉ giải thích được một phần nhỏ sự khác nhau trong trình độ phát triển giữa hai quốc gia. Phần còn lại được quy cho đầu vào/đầu ra cao hơn của “tri thức” trong những nỗ lực phát triển của Hàn Quốc. Đây cũng là điều giải thích vì sao Hàn Quốc đã vươn lên thành một trong những nước công nghiệp hàng đầu thế giới, còn Ghana thì tụt hậu. Lập luận này thực ra hơi đơn giản, nhưng kể từ đó đến nay nó đã thúc đẩy sự tăng cường đầu tư nghiên cứu đối với “tri thức cho phát triển” (knowledge for development, K4D) và cho một loạt các chương trình phát triển.
Nhiều người thường dẫn chứng Singapore như là hình mẫu về một quốc gia từ chỗ không có tài nguyên thiên nhiên trở thành một quốc gia công nghiệp công nghệ cao do quyết liệt thực hiện liên tục một chính sách tri thức và khoa học nhất quán. Phương pháp đánh giá tri thức (Knowledge Assessment Method, KAM) của Ngân hàng Thế giới và ngân hàng dữ liệu này đã trở thành công cụ giá trị cho các nhà lập kế hoạch phát triển trên toàn thế giới. Ý tưởng này tự nó không phải là mới. Ngay từ đầu những năm 1930, khi chứng kiến Đế chế Anh đang tan rã, Winston Churchill trấn an “những đế chế của tương lai sẽ là những đế chế của tinh thần”. Lịch sử thế giới sau đó cho thấy điều tự an ủi này đã thành một lời tiên tri.
Print Friendly and PDF

21.1.15

BECKER Gary (1930-2014)



BECKER Gary (1930-2014)

Gary Becker
Gary Becker sinh tại Pottsville, bang Pennsylvania, Hoa Kì, năm 1930. Sau khi tốt nghiệp cử nhân đại học Chicago năm 1953, ông dạy tại đây năm 1954 trước khi đỗ tiến sĩ kinh tế năm 1955. Ông là giáo sư đại học Columbia từ 1957 đến 1969 để rồi trở về làm giáo sư đại học Chicago kể từ 1969. Thành viên của Viện Hoover, năm 1967 ông được huy chương John Bates Clark dành cho một nhà kinh tế dưới 40 tuổi. Ông là chủ tịch American Economic Association năm 1987 và là phó chủ tịch Hội Mont-Pèlerin năm 1989. Ông được Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển biểu dương năm 1992.
Luận án tiến sĩ của Becker chứng minh rằng việc phân biệt đối xử (nhất là phân biệt chủng tộc) là tốn kém đối với những ai thực hiện nó vì phải trả cao hơn cho người được thụ hưởng sự phân biệt này (1957). Không hề có tư tưởng hám lợi, ông đưa vào phân tích kinh tế một cách tiếp cận những hành vi con người (1975), với tham vọng đưa khoa học kinh tế trở thành một bộ môn về toàn thể những hành vi con người và những quyết định gắn với những hành vi này. “Điều định nghĩa kinh tế học không phải là tính hàng hoá của vấn đề phải xử lí mà bản chất của vấn đề này: mọi vấn đề đặt ra một vấn đề phân bổ các nguồn lực và những lựa chọn trong khuôn khổ của một tình thế khan hiếm được đặc trưng bởi những cứu cánh cạnh tranh nhau đều thuộc về kinh tế học và có thể được xử lí bằng phân tích kinh tế” (1957).
Print Friendly and PDF

19.1.15

Human Capital: A Theoretical and Empirical Anlaysis, with Special Reference to Education



Becker Gary S.
Human Capital: A Theoretical and Empirical Anlaysis, with Special Reference to Education
Journal of Law and Economics, New York, Columbia University Press for the NBER
[2nd ed., 1975, 3rd ed, 1993, Chicago University Press]
[http://www.nber.org/chapters/c3730.pdf]
Vốn con người là toàn bộ những năng lực lâu dài mà việc sở đắc và sở hữu khiến con người có năng suất hơn trong những hoạt động khác nhau của mình. Những năng lực này, một phần là bẩm sinh và một phần là sở đắc nhờ những đầu tư của con người để tự nguyện huy động những nỗ lực và phí tổn cá nhân. Bản chất những đầu tư con người này là vô cùng đa dạng và bao gồm kiến thức, kĩ năng, sức khỏe, sự dịch chuyển và động cơ của các tác nhân. Một thời gian dài bị xem nhẹ vì những lí do ý thức hệ, vốn con người đã được lí thuyết kinh tế công nhận, rồi dần dần đi vào ngôn ngữ thông thường, kể từ lần xuất bản đầu tiên tác phẩm của Becker: Human Capital [Vốn con người] (1964).  
Gary Stanley Becker được 34 tuổi vào lúc tác phẩm này được xuất bản, từ đó quyển sách được tái bản hai lần, năm 1975 và 1993, và mỗi lần đều có bổ sung. Bảy năm trước đó, ông đã thể hiện mối quan tâm đối với những vấn đề “xã hội”, thoát ra khỏi một quan niệm hạn hẹp về phạm vi của phân tích kinh tế do truyền thống áp đặt khi cho xuất bản luận văn tiến sĩ của mình, The Economics of Discrimination [Kinh tế học về sự phân biệt đối xử] (1957). Trong suốt sự nghiệp của mình, phong cách rất dễ nhận diện của Gary Becker mang một dấu ấn kép: ông không ngừng mở rộng trường của phân tích kinh tế và tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên lí kinh tế của học thuyết chính thống về tính duy lí của các tác nhân và về sự cân bằng của các thị trường. Đặc biệt, ta gặp lại phong cách này trong tác phẩm chủ yếu thứ hai của ông là A Treatise on the Family [Chuyên luận về gia đình] (1981).
Print Friendly and PDF

17.1.15

Công lợi (học thuyết)



Công lợi (học thuyết)
Utilitarianism
® Giải Nobel: BECKER, 1992 – HARSANYI, 1994 – HAYEK, 1974 – HICKS, 1972 – SAMUELSON, 1970 – SEN, 1998 – STIGLER, 1982. 

Thuật ngữ này chỉ một trào lưu tư tưởng ra đời ở Anh vào thế kỉ XVIII, theo sáng kiến của Jeremy Bentham; trào lưu này đã thống trị tư tưởng kinh tế, triết học đạo đức, chính trị và luật pháp cũng như xã hội học ở Anh trong thế kỉ XIX và có những bước tiếp nối quan trọng đến tận thế kỉ XX. Ba nhân vật đã đặc biệt để lại ấn tượng trong lịch sử của trào lưu này: Jeremy Bentham (1748-1832), James Mill (1773-1836) và John Stuart Mill (1806-1873).
Jamery Bentham phát triển trong nhiều tác phẩm một học thuyết mà tinh tuý kết tinh trong những mệnh đề sau: a) Một hành động là đạo đức nếu đề nghị lấy phúc lợi cá thể làm cứu cánh. b) Không có cá nhân nào là quan trọng hơn một cá nhân khác; do đó mỗi cá nhân chỉ được tính như một đơn vị. c) Mục đích của hành động tập thể là làm cực đại lợi ích của cộng đồng hay, theo cách nói của ông, “tìm kiếm hạnh phúc lớn nhất cho số đông”. Một học thuyết như thế do đó có những hệ quả không chỉ kinh tế: tầm với của nó lan tới lĩnh vực đạo đức học, pháp lí và triết học chính trị. Điều này giải thích là trào lưu tư tưởng này trong thế kỉ XIX ở Anh có tên gọi đầy tham vọng là triệt để luận triết học. Phần trình bày dưới đây chỉ đề cập đến trường ứng dụng kinh tế của học thuyết này.
Print Friendly and PDF

14.1.15

Bernard Maris


(Cập nhật ngày 14/01/15)
Bìa báo Charlie Hebdo số đầu tiên ra mắt sau vụ thảm sát

Tout est pardonné

(Tha thứ tất cả)
Đấng tiên tri Mahomet cầm tấm bảng “Je suis Charlie”
 

Bernard Maris

Bernard Maris (1946-2015)
PTKT: Một trong số 12 nạn nhân của cuộc ám sát khủng bố tại Paris ngày 7.01.2015, chống tờ tuần báo trào phúng Charlie Hebdo là nhà kinh tế Bernard Maris. PTKT giới thiệu dưới đây ba chứng từ về Bernard Maris của ba đồng nghiệp và một bài của Bernard Maris viết sau cái chết của Gilles Dostaler (tác giả bài Giải Nobel kinh tế: một sự huyễn hoặc khéo léo và loạt chân dung về các nhà tư tưởng lớn được lần lượt dịch trong chuyên mục Những nhân vật lớn trong tư tưởng kinh tế).
Print Friendly and PDF

11.1.15

Có một phép màu Hy Lạp không?

Có một phép màu Hy Lạp không?
Phép màu Hy Lạp. Đó là cụm từ Ernest Renan đặt ra để nói về sự phát triển văn hoá thần kỳ mở ra ở Hy Lạp vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên. Trong vài thành quốc ở bán đảo Hy Lạp, một cuộc cách mạng văn hoá chưa từng có đã nổ ra. Các nhà kiến trúc, nhà điêu khắc, hoạ sĩ tạo ra những tác phẩm đẹp lạ thường: đền Parthénon và tượng Người ném đĩa là những tuyệt phẩm được biết đến nhiều nhất trong số đó. Văn học cũng nở rộ không kém với giai đoạn hoàng kim của sân khấu bi kịch (Eschyle, Sophocle, Euripide) hay hài kịch (Aristophane). Về phần mình, Herodote và Thucydide sáng tạo ra thể loại sử ký: Herodote bằng những câu chuyện kể trong Những cuộc điều tra về phong tục của những người nước ngoài và lịch sử các cuộc chiến tranh với Mèdes[1], còn Thucydide nổi tiếng với tác phẩm Cuộc chiến tranh ở Péloponèse.
Cùng thời, một chuyên ngành học thuật xuất hiện: triết học. Theo chính những người Hy Lạp thì triết học đã nảy sinh ở Ionie, với Thalès Milet. Nhưng phải đợi một thế kỷ sau, cũng vào đúng thời kỳ thiết yếu này, thì ngành học mới này mới thực sự được phát triển, với những triết gia tiền-Socrate (Heraclite, Parménide, Zénon ở Elée, Empédocle, Anaxagore, v.v.), rồi Socrate và Platon. Triết học là một cách mới để tìm hiểu thế giới. Nó đặt ra những câu hỏi về những nguyên tắc tiên khởi của mọi vật – con người, xã hội, vũ trụ – và đưa ra phương pháp dựa trên sự lý luận và sự tìm kiếm những bằng chứng.
Ở thời đại đó, triết học không thực sự tách rời cái mà người ta bây giờ gọi là khoa học. Vì triết gia cũng là một học giả quen thuộc với hình học, với toán và thiên văn học. Truyền thuyết nói rằng Platon đã muốn ghi trên cửa vào Học viện của ông: “Nếu bạn không biết hình học thì đừng bước vào đây”.
Print Friendly and PDF

7.1.15

Nhận thức của bộ não về kinh tế học



Nhận thức của bộ não về kinh tế học

Về Ricardo Haussman
Ricardo Haussman, người từng giữ chức Bộ trưởng Bộ kế hoạch Venezuela và từng là Kinh tế trưởng Ngân hàng phát triển liên châu Mỹ, là Giáo sư thực hành phát triển kinh tế tại trường Đại học Harvard, nơi mà ông kiêm chức Giám đốc Trung tâm phát triển quốc tế.
Nắm bắt kinh tế học theo kiểu của bộ não con người
CAMBRIDGE – Trong tác phẩm mở đường xuất bản năm 2005 mang tựa đề On Intelligence (tạm dịch: Trên Nền Trí Tuệ), Jeff Hawkins đã đưa ra một mẫu hình khoa học khác về cách thức mà não người hoạt động. Theo quan điểm của tác giả, bộ não không phải là một cỗ máy Turning dùng để xử lý các ký tự tuân theo một bảng quy tắc, vốn là mô hình nền tảng của máy tính và trí tuệ nhân tạo. Thay vào đó, não người là bộ nhớ khổng lồ có phân cấp không ngừng ghi nhận những gì nó cảm nhận được và dự báo điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Não dự báo bằng cách tìm ra những điểm tương đồng giữa các mô thức dữ kiện thu nhận được bằng giác quan và những kinh nghiệm đã tích lũy trước đó và được lưu trữ trong bộ nhớ khổng lồ của nó. Não phối chọn các âm thanh rời rạc trong biển tiếng ồn với một bản nhạc đã từng nghe, hoặc gương mặt một người đang ngụy trang với gương mặt của con cái bạn. Ý tưởng tương tự như chức năng tự hoàn chỉnh trong hộp tìm kiếm của Google – liên tục dự đoán ký tự nào bạn sẽ nhập kế tiếp dựa trên những gì bạn đã gõ trước đó.
Print Friendly and PDF

5.1.15

Vốn con người


VỐN CON NGƯỜI
Về tác giả
Gary S. Becker là giáo sư kinh tế học và xã hội học tại trường Đại học Chicago, giáo sư tại trường Đào tạo Sau đại học về Kinh doanh, là thành viên cao cấp giữ ghế của Rose-Marie & Jack R. Anderson tại Viện Hoover thuộc trường Stanford. Ông là người tiên phong trong nghiên cứu về vốn con người và đã được trao giải Nobel năm 1992 về Khoa học Kinh tế.
Đối với hầu hết mọi người, vốn có nghĩa là một tài khoản ngân hàng, một trăm cổ phiếu của IBM, dây chuyền sản xuất, hay các nhà máy thép ở khu vực Chicago. Tất cả đều là các dạng thức của vốn theo nghĩa chúng là tài sản tạo ra thu nhập và những đầu ra có ích khác trong thời gian dài.
Tuy nhiên, những dạng thức hữu hình đó không là loại vốn duy nhất. Việc đi học ở trường, khóa đào tạo về máy tính,  chi tiêu cho chăm sóc y tế, và những bài giảng về giá trị của thói quen đúng giờ và đức tính trung thực cũng chính là vốn. Bởi vì chúng góp phần cải thiện thu nhập, tăng cường sức khỏe, hay trang bị thêm những thói quen tốt cho cá nhân trong phần lớn cuộc đời của anh ta. Do vậy, các nhà kinh tế xem chi tiêu cho giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế, và v.v… là đầu tư vào vốn con người. Chúng được gọi là vốn con người vì con người không thể tách rời khỏi kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, hay những giá trị khác của bản thân tương tự như kiểu tách rời con người khỏi tài sản tài chính và tài sản vật chất của họ.
Print Friendly and PDF

31.12.14

CHÚC MỪNG NĂM MỚI, 2015 !


Xin chào quý bạn! Chỉ còn ít phút giây nữa thôi là bước sang năm mới 2015 và trang nhà PTKT đúng tròn 1,5 tháng tuổi kể từ ngày ra mắt. Nhóm chúng tôi bồi hồi nhớ lại chặng đường ngắn ngủi vừa qua và thấy rằng mình vô cùng may mắn. May mắn đầu tiên là PTKT nhận được sự yêu mến của bạn đọc vượt ngoài mong đợi vì cho đến nay đã có hơn 5000 lượt truy cập đến từ mọi nơi trên thế giới và nhận được rất nhiều đóng góp ý kiến xây dựng quý báu cho trang nhà, chúng tôi vô cùng cảm kích và biết ơn. May mắn thứ hai là thông qua Fanpage, PTKT đã có được một cộng đồng hơn 500 người đọc, trong đó có nhiều bạn đọc thường xuyên, một tín hiệu rất đáng vui và đầy khích lệ. May mắn hơn nữa là những loạt bài mà chúng tôi đã chuẩn bị từ trước khi đưa lên PTKT lại trùng với các sự kiện thời sự kinh tế nóng bỏng đang diễn ra, như Tirole với giải khoa học kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel năm 2014 hay Gary Becker, một khôi nguyên khác qua đời tháng năm vừa qua, ... "Thật hay không bằng hên!", chúng tôi đã bảo với nhau như vậy! 
PTKT tròn một tháng rưỡi là vô cùng non trẻ, nếu không nhận được sự quan tâm từ cộng đồng thì chẳng thể nào phát triển được. Do vậy, trước thềm năm mới, thay lời tri ân đối với quý bạn đọc gần xa, chúng tôi:

XIN CHÚC QUÝ BẠN CÙNG GIA QUYẾN SANG NĂM 2015 DỒI DÀO SỨC KHỎE, MỌI SỰ HẠNH THÔNG VÀ NHIỀU SỰ NHƯ Ý !

PTKT
Print Friendly and PDF

10.12.14

GIỚI THIỆU RA MẮT TRANG PHÂN TÍCH KINH TẾ


Xin chào quý bạn!

Bức xúc trước vấn nạn của việc học và dạy kinh tế ở Việt Nam, nhưng không cam chịu bó tay bất lực, trang Phân tích kinh tế ra đời với mong muốn chia sẻ và trao đổi, trong tinh thần tự do học thuật, những thông tin cần thiết giúp người dạy cùng người học ưa thích kinh tế tự đào tạo, cập nhật, củng cố, hệ thống hóa và bổ sung kiến thức để tự tin hội nhập thế giới.
Hướng đến người học, trang cung cấp bản dịch những bài ngắn, nhẹ nhàng và có minh họa, trang bị những kiến thức nền. Tuy thích kinh tế học nhưng bạn ngần ngại bước vào lĩnh vực này do nghe đồn đó là một “khoa học buồn thảm”? Vậy xin mời bạn lướt qua bài Lời kêu gọi vì tính đa nguyên trong kinh tế học của sinh viên quốc tế hay hai bài đầu trong mục Những nhân vật lớn trong tư tưởng kinh tế, rồi chắc bạn sẽ xét lại nhận định trên khi thấy những vấn đề đề cập trong đó không những mang tính thời sự mà đôi lúc rất sát sườn với những vấn đề bạn từng trăn trở, và những nhà tư tưởng lớn không phải lúc nào cũng suy nghĩ trên trời mà còn quan tâm đến những chuyện cơm áo gạo tiền trong cõi nhân sinh.
Print Friendly and PDF