19.2.19

Đồng cảm (khái niệm)

ĐỒNG CẢM

Tác giả: Bruno Bettelheim*
Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Từ tương đương với đồng cảm là empathy (Anh) hay empathie (Pháp). Dù xuất phát từ empatheia của Hy Lạp cổ đại (với nghĩa khác là đam mê, nhiệt tình), hay chỉ mới được nhà tâm lý học Anh-Mỹ G. G. Titchener (1867-1927) dịch từ Einfühlung của Đức trong khoảng thế kỷ XIX-XX, empathy chỉ sự hiểu biết người khác thông qua cảm thông nhờ cùng chia sẻ những tình cảm chung của con người, hay phương thức tìm hiểu kẻ khác bằng cách tự đặt mình vào chỗ của họ. Ngày nay, đồng cảm là khái niệm nền tảng của nhiều triết phái, cũng như của hầu hết các bộ môn khoa học nhân văn và xã hội.
*
Freud nói về sự cảm thông giữa cái vô thức của một người với vô thức của người khác; ông còn cho rằng chúng ta có thể hiểu cái vô thức của một bên thứ ba nữa mà chỉ cần thông qua vô thức của chính ta. Người đời không thể diễn giải thích đáng, bằng lời, thế nào là tình yêu, giận dữ, ghen tuông, lo lắng,… và ngay cả lời nói cũng không thể nào biểu đạt nổi cái gọi là “trầm cảm” và “hưng phấn” có nghĩa là gì đối với họ. Nhưng nếu ta đã trải qua các trạng thái sống ấy, chúng ta đều biết những gì kẻ khác có thể phải cảm thấy. Khi sống đồng cảm với một ai đó, chúng ta rất gần gũi với người ấy, ta hiểu rõ kẻ ấy hơn là nếu chỉ phải bằng lòng với những gì kẻ ấy nói. Ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải cầu viện đến loại ngôn ngữ biểu tượng để chuyển tải những cảm xúc sâu sắc của họ đến độc giả. Họ nói bằng ẩn dụ, phúng dụ, bởi vì không một phát biểu trực tiếp nào có đủ sức biểu nghĩa cho mục đích của họ. Để phát hiện ra ý nghĩa của chúng, ta cần phải đọc giữa các dòng, và nhận thức được điều mà ngôn ngữ biểu tượng gợi lên trong vô thức của chính ta.

Chúng ta không nên tin rằng con em của ta có khả năng nói lên những gì chúng cảm nhận từ thâm sâu, bởi vì chúng hoàn toàn không có khả năng biểu đạt những gì đang xảy ra trong vô thức. Để hiểu được những động cơ ẩn của trẻ con, chúng ta phải dựa vào loại phản ứng đồng cảm; tinh thần duy lý của ta phải vận hành như thế nào để tìm hiểu những gì chúng đang cố nói với ta, qua lời nói và động thái, trong khi vô thức của chính ta, nhờ sự “phóng chiếu vào đối tượng chiêm nghiệm của mình”, cũng nỗ lực nhận biết chúng trong quan hệ với những kinh nghiệm nội tâm của mình, hiện nay và đã qua. Bằng cách đó, chúng ta vừa hiểu con em của mình, vừa tự hiểu bản thân mình hơn. Vì vậy mà cách đây có hơn hai nghìn năm, Menandros* từng nói:  “Hãy tự biết mình” là điều rất tốt, nhưng chắc chắn không tốt cho mọi tình huống. Thường thì tốt hơn nên nói: “Hãy biết người khác”.
Bruno Bettelheim,
Pour être des parents acceptables
(Để là những cha mẹ có thể chấp nhận được),
Paris, R. Laffont, 1988,
tr. 100-101
Nguồn:  Đồng cảm (Khái niệm), Ired.Edu.Vn
Print Friendly and PDF

17.2.19

Ai thắng, ai thua trong cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ

AI THẮNG, AI THUA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI GIỮA TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ
Cảng container Thượng Hải. (Nguồn: FT)
Những “tổn thất gián tiếp” ở châu Á trong cuộc chiến thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là gì? Trong khi nhiều quốc gia đang chịu ảnh hưởng đặc biệt từ sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc, thì việc tăng thuế quan đối với các mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc ảnh hưởng đến các sản phẩm “được sản xuất tại châu Á”, do toàn khu vực đều tham gia vào các chuỗi giá trị gắn với các sản phẩm “được sản xuất tại Trung Quốc”. Tuy nhiên, một số Nhà nước đang tính cách thoát khỏi cảnh khó xử của mình, cứu vãn vốn đã bỏ ra. Ai là người chiến thắng? Ai là người thua cuộc?
Print Friendly and PDF

14.2.19

Liệu các hiệp định thương mại có thể trở thành người bạn của người lao động không


 

LIỆU CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI CÓ THỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI BẠN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHÔNG?

Cho đến nay, các điều khoản lao động trong các hiệp định thương mại vẫn là một chiếc lá vả [che đậy một điều gì đó khó nói], không hề nâng cao các tiêu chuẩn lao động ở nước ngoài cũng như bảo vệ lao động tại chính quốc. Một sự thay đổi thực sự đòi hỏi một cách tiếp cận khác biệt đáng kể bao gồm cả việc các hiệp định thương mại đã duy trì và thực thi các quyền của người lao động như thế nào.
CAMBRIDGE – Những người ủng hộ người lao động từ lâu đã phàn nàn rằng các hiệp định thương mại quốc tế được thúc đẩy bởi những chương trình nghị sự của các tập đoàn kinh tế và chúng ít chú ý đến lợi ích của người lao động. Lời nói đầu của Hiệp định về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đề cập đến mục tiêu “toàn dụng lao động”, nhưng các tiêu chuẩn lao động khác vẫn nằm ngoài phạm vi của cơ chế thương mại đa phương. Ngoại lệ duy nhất là một điều khoản còn sót lại từ Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại [GATT] năm 1947 (tiền thân của WTO), cho phép các chính phủ hạn chế nhập khẩu các sản phẩm do lao động tù nhân làm ra.
Những hiệp định thương mại khu vực, ngược lại, từ lâu đã đưa các tiêu chuẩn lao động vào. Mối liên hệ giữa việc tiếp cận thị trường ưu đãi với việc tuân thủ các quyền cốt lõi của người lao động trong các hiệp định này ngày càng hiển nhiên. Trong Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ [NAFTA] ban đầu, được kí kết vào năm 1992, các tiêu chuẩn lao động bị đẩy xuống thành một thỏa thuận bên lề. Kể từ đó, các hiệp định thương mại của Hoa Kì thường bao gồm một chương về lao động.
Theo những người ủng hộ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định này sẽ yêu cầu Việt Nam, Malaysia và Brunei cải thiện đáng kể các hành vi đối xử với người lao động của họ – và yêu cầu Việt Nam phải công nhận các nghiệp đoàn độc lập. Và chính quyền của Tổng thống Hoa Kì Donald Trump tuyên bố rằng thỏa thuận sửa đổi với Mexico có các điều khoản lao động mạnh nhất so bất kì hiệp định thương mại nào trước đây.
Print Friendly and PDF

11.2.19

Câu lạc bộ các tạp chí kinh tế học hàng đầu


CÂU LẠC BỘ CÁC TẠP CHÍ KINH TẾ HỌC HÀNG ĐẦU
Jakob Kapeller
Không đơn thuần là chất lượng nghiên cứu, mà chính định kiến và sự thông đồng quyết định lượng trích dẫn của tạp chí
Các kinh tế gia thường căn cứ vào lượng trích dẫn để đánh giá chất lượng được cho là của các nhà nghiên cứu, các tổ chức, các tạp chí, hoặc các ngành học thuật. Quan điểm như vậy rất phù hợp với những suy đoán thường trực về bản chất của quá trình khoa học phổ biến trong kinh tế học - đơn cử như suy đoán cho rằng nghiên cứu tốt nhất được thực hiện tại những cơ sở hàng đầu hoặc nghiên cứu kinh tế luôn vượt trội hơn nghiên cứu thuộc các ngành tương cận như xã hội học hay chính trị học. Tuy nhiên, cách nhìn trên đã không tính đến thực tế là các mô thức trích dẫn bị tác động bởi những hạn chế về mặt cơ chế, vấn đề danh tiếngđặc thù của ngành học thuậtnghiên cứu gần đây được INET tài trợ đã chỉ rõ.
Print Friendly and PDF

8.2.19

Liệu có thể mô hình hoá xã hội hay không? + Bảng phả hệ cái nhìn “phức hợp” về xã hội

LIỆU CÓ THỂ MÔ HÌNH HÓA XÃ HỘI HAY KHÔNG?
Pablo Jensen, phòng thí nghiệm vật lý của trường École Normale Supérieure ở Lyon
Giống như hình ảnh một đám đông khán giả, một hệ thống phức hợp được hình thành từ nhiều yếu tố tương tác lẫn nhau mà không cần sự phối hợp trung tâm.
Cả đến cấu trúc xã hội có vẻ cũng đáp ứng định nghĩa về một hệ thống phức hợp. Ví dụ các nhà tin học và các nhà khoa học xã hội đang nỗ lực sử dụng những kỹ thuật mô hình hóa toán học để giải thích và dự đoán các hành vi xã hội. Nhưng tính phức hợp của con người chống lại việc xây dựng các mô hình ổn định.
Sự tương tác “tự phát” giữa các “yếu tố” – con người – không có một kế hoạch tổng thể được hình thành trước, đã cho phép xuất hiện một cách nhìn “phức hợp” về xã hội, được xác thực bởi hai ví dụ cụ thể, một thuộc lý thuyết thuần túy và một sử dụng các dữ liệu thực.
Print Friendly and PDF

5.2.19

Chúc mừng Tết nguyên đán Kỉ Hợi

CHÚC MỪNG TẾT NGUYÊN ĐÁN KỈ HỢI!
PTKT thân chúc Quý bạn đọc, cộng tác viên cùng gia quyến đón Tết Kỉ Hợi an vui và Một năm mới nhiều năng lượng, dồi dào sức khỏe và thành công.

Print Friendly and PDF

4.2.19

Nếu nhìn lại những nhà kinh tế tân tự do, bạn sẽ phát hiện ra những người giàu ở đó: Các lí thuyết kinh tế đã phục vụ cho những doanh nghiệp lớn như thế nào

NẾU NHÌN LẠI NHỮNG NHÀ KINH TẾ TÂN TỰ DO, BẠN SẼ PHÁT HIỆN RA NHỮNG NGƯỜI GIÀU Ở ĐÓ: CÁC LÍ THUYẾT KINH TẾ ĐÃ PHỤC VỤ CHO NHỮNG DOANH NGHIỆP LỚN NHƯ THẾ NÀO
Đường về nô lệ – được các doanh nghiệp lớn tài trợ
Các tầng lớp xã hội luôn đón nhận những ý tưởng và triết lí xã hội. Không chỉ để hiểu và diễn giải thế giới thực, mà quan trọng nhất còn để thay đổi nó vì lợi ích của họ. Các lí thuyết này (chủ yếu trong khoa học xã hội) đã trở thành những ý tưởng được vũ trang – gọi là các hệ tư tưởng, vì chúng được sử dụng để gây ảnh hưởng hơn là để hiểu thế giới loài người. Tất nhiên, cả hai điều này có quan hệ với nhau: bản chất sự hiểu biết của ta, tức những gì ta xem là quan trọng và những gì ta bỏ qua từ khung lí thuyết của mình, được gọi là mô hình hóa.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu mô hình hóa chỉ là một uyển ngữ cho các hệ tư tưởng hiện đại? Hãy nghĩ về những nỗ lực của kinh tế học vĩ mô tân cổ điển – chẳng hạn như các mô hình DSGE – nhằm tìm kiếm khái niệm triết học về trạng thái cân bằng – không màng đến bản chất không cân bằng của thế giới thực – chưa kể cả về những bất bình đẳng về thu nhập. (Nhưng cũng nghĩ về nghịch lí của Mannheim rằng sự phê phán của một hệ tư tưởng – giống như bài viết này – cũng mang tính ý thức hệ.)
Print Friendly and PDF

1.2.19

Dân số học

  DÂN SỐ HỌC
Demography, Population Theory
® Giải Nobel: HAAVELMO, 1989 FOGEL, 1993
Dân số học, mà đối tượng là việc nghiên cứu định lượng các dân số, đòi hỏi phải có, một mặt, những công cụ thống kê và toán học và mặt khác, những nguồn thông tin khác nhau, chủ yếu là ba nguồn. Trước hết những nguồn này có thể là những đăng kí hành chánh về những biến cố gắn với hộ tịch (sinh đẻ, cưới hỏi, li dị, tử vong). Thứ hai là những cuộc tổng điều tra dân số, được tiến hành giữa những khoảng thời gian ít nhiều đều đặn, cũng góp phần liệt kê dân số của một nước. Sau cơ quan thống kê Pháp (SGF), được thành lập năm 1833, mà hậu thân là Phòng quốc gia thống kê (SNS) tiếp đến là Viện quốc gia thống kê và nghiên cứu kinh tế (INSEE), thành lập năm 1946, được giao nhiệm vụ tổng điều tra dân số. Thứ ba, kể từ sau thế chiến, những cuộc điều tra chọn mẫu bổ sung cho những cuộc tổng điều tra. Do Sauvy thành lập năm 1945, Viện quốc gia nghiên cứu dân số (INED), hợp nhất những nghiên cứu về dân số học của nhiều bộ môn khoa học xã hội, công bố định kì những công trình khác nhau về dân số.
Đối với thông tin liên quan đến những dân số của quá khứ, do có ít, đôi lúc hoàn toàn không có, những dữ liệu đáng tin nên nhà sử học dân số xây dựng lấy những dữ liệu riêng nhờ những nguồn khác nhau như những sổ sách của nhà thờ, sổ thuế, hồi kí của những quản gia, sổ sách của công chứng viên, và những tư liệu khác. Phương pháp chính là phương pháp “tái hiện lại gia đình” được Henry hoàn chỉnh ngay từ 1956 mà cốt lõi là tập hợp trên một “phiếu gia đình”  toàn bộ những thông tin dân số. Do đó dân số học lịch sử dựa trên những phương pháp khác với những phương pháp được dân số học lí thuyết hay thuần tuý sử dụng. Việc hiểu dân số học lí thuyết tất yếu phải thông qua việc trình bày những công cụ thống kê hợp thành cơ sở kĩ thuật của bộ môn này.
Print Friendly and PDF