14.9.23

Hai thế kỷ của Trò Chơi địa chính trị Lớn đối với các cường quốc

HAI THẾ KỶ CỦA TRÒ CHƠI ĐỊA CHÍNH TRỊ LỚN ĐỐI VỚI CÁC CƯỜNG QUỐC

Taline Ter Minassian[*]

Một trung đoàn bộ binh Anh bị quân Afghanistan tấn công dưới chân núi.

“The Last Stand/Sự chống cự cuối cùng” của William Barnes Wollen (1898), mô tả Trung đoàn bộ binh số 44 của Anh bị người Afghanistan tấn công trong trận Gandamak, Afghanistan, năm 1842. Getty - DeAgostini, CC BY

--------------------------------------------------------------

Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “Trò Chơi Lớn” được Rudyard Kipling phổ biến rộng rãi chỉ sự cạnh tranh thuộc địa và ngoại giao đã khiến nước Anh thời đại Victoria đối đầu với nước Nga thời các Nga Hoàng ở vùng Caucase và ở vùng Trung Á – với Afghanistan, “nghĩa địa của các đế chế” ở trung tâm của bàn cờ. Khái niệm này ngày nay vẫn thường được sử dụng để mô tả các hoạt động phức tạp mà các cường quốc – hiện nay là nước Nga theo kiểu Putin, Trung Quốc hay thậm chí là Hoa Kỳ – đang tiến hành cũng trong khu vực này.

Taline Ter Minassian (1963-)

Trong tác phẩm mới của mình, “Sur l’Échiquier du Grand Jeu/Trên bàn cờ của Trò Chơi Lớn”, do Éditions Nouveau Monde xuất bản vào ngày 6 tháng 9 mà chúng tôi xin đăng dưới đây một đoạn trích, Taline Ter Minassian, giáo sư lịch sử Nga và vùng Caucase tại Viện quốc gia Ngôn ngữ và Văn minh Phương Đông (INALCO), vạch lại hai trăm năm của trò chơi địa chính trị này với những quy luật và giới hạn không ngừng biến động.

---------------------------------------------------------------------

“Khi mọi người đều chết, Trò Chơi Lớn kết thúc. Không phải trước đó. Hãy nghe tôi nói đến cuối…” Độc giả của Kim, tiểu thuyết của Kipling, sẽ hiểu rằng câu chuyện về Trò Chơi Lớn, bị điều khiển bởi một định mệnh địa chính trị không thể lay chuyển, sẽ không có hồi kết. Cũng giống như Chiến tranh Lạnh, Trò Chơi Lớn được nuôi dưỡng bởi những không gian đối đầu thực sự, nhưng cũng bởi những tham chiếu mang tính biểu tượng mang theo huyền thoại và huyền thuyết.

Print Friendly and PDF

13.9.23

Từ Oppenheimer đến Milton Friedman: Trận chiến giữa các tư tưởng kinh tế trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã định hình thế giới chúng ta như thế nào

TỪ OPPENHEIMER ĐẾN MILTON FRIEDMAN: TRẬN CHIẾN GIỮA CÁC TƯ TƯỞNG KINH TẾ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH ĐÃ ĐỊNH HÌNH THẾ GIỚI CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO

Phải chăng Oppenheimer là một bộ phim dành cho thời đại chúng ta, nhắc nhở chúng ta về tình trạng căng thẳng, nguy hiểm và xung đột của Chiến tranh Lạnh cũ, trong khi một Chiến tranh Lạnh mới có nguy cơ bùng phát?

Bộ phim chắc chắn phù hợp với các cuộc xung đột quyền lực lớn ngày nay (giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc), mối lo ngại mới về vũ khí hạt nhân (sự đe dọa của Nga đối với Ukraine), và tình trạng căng thẳng ý thức hệ hiện nay giữa các hệ thống dân chủ và chuyên quyền.

Nhưng Chiến tranh Lạnh không chỉ dừng lại ở mối đe dọa từ bom. Đằng sau các nhà khoa học và các tướng lĩnh còn có nhiều tác nhân khác, trong số đó có các nhà kinh tế, những người cũng va chạm nhau gay gắt về các quan điểm điều hành nền kinh tế thời hậu chiến.

J. Robert Oppenheimer (1904-1967)

Nếu không có các hệ thống phân bổ của họ, các cơ chế tài trợ, sự tiến bộ công nghệ, sự sắp xếp tổ chức kinh tế và các chính sách tài khóa, thì không có cường quốc lớn nào lẫn các nước nhỏ nào có thể trang trải các chi phí quốc phòng hoặc vận hành nền kinh tế của mình.

Một trong những đồng nghiệp của J. Robert Oppenheimer, nhà toán học thiên tài người Hungary John von Neumann, không chỉ nghiên cứu về quả bom [nguyên tử thả xuống] Nagasaki ở Los Alamos, mà còn hướng tâm trí ông đến kinh tế học. Ông đã phát triển lý thuyết trò chơi dành cho các nhà kinh tế vốn đã được tổ chức RAND Corporation sử dụng để thử nghiệm các cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu trước các cuộc tấn công trả đũa giai đoạn hai.

Print Friendly and PDF

11.9.23

Trung Quốc đã trở thành nước tư bản thế nào

TRUNG QUỐC ĐÃ TRỞ THÀNH NƯỚC TƯ BẢN NHƯ THẾ NÀO

Tác giả Ronald Coase (Nobel kinh tế 1991) & Ning Wang

Tham luận giới thiệu quyển sách của hai ông:

HOW CHINA BECAME CAPITALIST

Tại Cato Institute, Jan-Feb 2013

Nguyễn Văn Nhã dịch

Nguyễn Xuân Xanh trình bày


Ít người nghi ngờ về việc quá trình và kết quả của cải cách kinh tế ở Trung Quốc sẽ khác hẳn nếu không có bản lĩnh chính trị khôn khéo và tinh thần thực dụng hữu hiệu của Đặng Tiểu Bình. Nhưng nguyên nhân sâu xa sự trỗi dậy thần kỳ của kinh tế Trung Quốc là nhân dân Trung Quốc, những người tràn đầy lạc quan, nhiệt quyết, sức sáng tạo và sự cương quyết.

Đặng Tiểu Bình (1904-1997)

Trong lịch sử, Trung Quốc luôn luôn là quê hương của thương mại và tư doanh. Khổng Tử, khi được hỏi làm sao cai trị một quốc gia, đã trả lời: “Thứ nhất, tăng dân số, thứ hai, làm cho dân giàu; thứ ba, giáo dục họ”. Lão Tử, người sáng lập ra đạo Lão, cũng nói: “Khi nào tôi (nhà Vua) không tham gia vào việc gì hết, nhân dân tự họ sẽ trở nên thịnh vượng”. Tư Mã Thiên, nhà sử học lớn cũng nói: “Đạo cai trị quốc gia bắt đầu bằng cách làm cho dân giàu có”. Và câu khẩu hiệu của Đặng Tiểu Bình: “Làm giàu là vinh quang”, đã được sử dụng làm tiếng kèn quân lệnh cho cuộc cải tổ trong thập kỷ 1980. Tất cả những điều này cho thấy Trung Quốc đã quá xa rời những lời dạy của cổ nhân trong thương mại và chính trường. Trong nỗ lực xây dựng nền kinh tế thị trường với đặc tính Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ 20, Trung Quốc, sau một thế kỷ rưỡi tự-nghi ngờ và tự-chối bỏ, đã quay trở lại hoàn toàn với nguồn cội văn hóa của họ bằng con đường tư bản chủ nghĩa. Ngày 11-1-2011, một bức tượng Khổng Tử cao 9,5 mét bằng đồng đã được dựng lên ở Thiên An Môn.

Cuộc cải tổ hậu Mao trong vài thập kỷ vừa qua đã thay đổi sâu xa xã hội và nền kinh tế Trung Quốc. Lúc Mao qua đời vào năm 1976, Trung Quốc là một nước nghèo nhất thế giới, với GDP đầu người dưới 200 USD một năm. Vào năm 2010, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với GDP đầu người khoảng 4000 USD. Trong cùng khoảng thời gian đó, phần chia của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới tăng từ 2% lên 9%. Trong thời Mao trị, kinh doanh tư nhân hoàn toàn bị nghiêm cấm. Bây giờ, tư doanh nảy nở khắp đất nước và trở thành xương sống vững chắc cho nền kinh tế Trung Quốc. Với dân số sử dụng điện thoại di động và internet đông nhất thế giới, và thị trường ô tô lớn nhất thế giới, xã hội Trung Quốc trở nên cởi mở, đầy sinh lực, lưu động, có đầy đủ thông tin, đầy sức năng động và hoài bão. Ngay cả đại học Trung Quốc gần đây cũng có dấu hiệu cải tiến, thừa nhận tự do giảng dạy như là điều tiên quyết cho chất lượng ưu việt. Còn nhiều không gian cho sự tăng trưởng ở Trung Quốc.

Print Friendly and PDF

10.9.23

Điều cánh hữu đã hiểu sai về Adam Smith

ĐIỀU CÁNH HỮU ĐÃ HIỂU SAI VỀ ADAM SMITH

John Kay, 1790. Wikiwand

Chúng ta nên rút ra điều gì từ Adam Smith? Có lẽ bạn nghĩ rằng ta đã làm rõ vấn đề này xong, vì ông ấy chỉ viết hai cuốn sách và đã 300 năm kể từ ngày ông ra đời. Nhưng không hề. Ai cũng muốn kéo nhà triết học và kinh tế học người Scotland về phe mình. Ngoài Chúa Giê-su, khó mà nghĩ ra còn ai có thể thu hút những cách giải thích hoàn toàn khác biệt như vậy.

Một phần là vì chúng ta thực sự biết rất ít về người đàn ông này. Smith giám sát việc đốt tất cả các bài viết chưa công bố của mình khi ông nằm trên giường bệnh – một thông lệ vào thời điểm đó, nhưng để giải quyết các cuộc tranh luận bất tận thì không hữu ích mấy.

Những gì chúng ta biết là Adam Smith ra đời ở thị trấn Kirkcaldy trên bờ biển phía Đông Scotland. Cha ông là một thẩm phán đã qua đời ngay trước khi ông được sinh ra. Smith dường như là một đứa trẻ rất uyên bác, hiếm khi người ta thấy ông không cầm sách trên tay.

Một trải nghiệm thuở thiếu thời liên quan đến khu chợ ở thị trấn dường như đã ảnh hưởng đến ông. Một số chủ đất được miễn thuế cầu đường và phí gian hàng ở chợ do Kirkcaldy là một thị trấn hoàng gia. Điều này tạo cho họ lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, và chàng trai trẻ Smith thì không đồng tình với chuyện này.

Print Friendly and PDF

9.9.23

“Về phía mình, Ấn Độ không còn trông đợi điều gì tốt đẹp từ Trung Quốc nữa”, cuộc trò chuyện với Isabelle Saint-Mézard

“VỀ PHÍA MÌNH, ẤN ĐỘ KHÔNG CÒN TRÔNG ĐỢI ĐIỀU GÌ TỐT ĐẸP TỪ TRUNG QUỐC NỮA”, CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI ISABELLE SAINT-MÉZARD[1]

ISABELLE SAINT-MÉZARD – Trong nội bộ BRICS[2], lập trường của Ấn Độ không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì đó là tiếng vang của chính sách ngoại giao đa phương vốn thúc đẩy Ấn Độ xích lại gần các quốc gia có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Thêm vào đó là mối quan hệ xấu đi rất nhiều của nước này với Trung Quốc, điều này thường được thể hiện tại các Hội nghị thượng đỉnh của BRICS. Nhưng trong một thế giới mang dấu ấn của sự đa dạng hóa các quyền lực, chủ nghĩa đa phương của Ấn Độ có thể là một lợi thế. Isabelle Saint-Mézard, giảng viên về địa chính trị châu Á tại Viện Địa chính trị Pháp, trả lời các câu hỏi của chúng tôi.

Baptiste Roger-Lacan

-------------------------------------------------------------------------------------

Sự trỗi dậy gần đây của nhóm BRICS trên sân khấu toàn cầu đa phương thường được cho là do cặp đôi Trung-Nga: Ấn Độ đã đóng vai trò gì trong sự trỗi dậy này?

Isabelle Saint-Mézard

ISABELLE SAINT-MÉZARD: Nếu Nga và Trung Quốc đã đầu tư vào sự trỗi dậy gần đây của nhóm BRICS, đó là vì họ coi đó là một phương tiện bổ sung để tranh cãi về trật tự quốc tế, cạnh tranh với G7 hoặc thậm chí huy động các quốc gia khác trên thế giới cảm thấy bị bỏ lại phía sau hoặc là nạn nhân của “các nước Phương Tây”. Ấn Độ không bị thúc đẩy bởi tham vọng “xét lại” tương tự về trật tự quốc tế; chẳng hạn như về G7, Ấn Độ cảm thấy thỏa mãn khi được mời tham dự Hội nghị thượng đỉnh của nhóm một cách gần như thường xuyên và có cơ hội để nêu lên tiếng nói của mình cũng như tiếng nói của các quốc gia Mới Nổi. Ngược lại, Ấn Độ không muốn để Trung Quốc tự do hành động để tái cấu trúc BRICS như Trung Quốc mong muốn, và thông qua nhóm này, áp đặt mình là nước đứng đầu “Phương Nam toàn cầu”. Theo nghĩa này, nhóm BRICS là không gian phản ánh các cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng đang diễn ra giữa Ấn Độ và Trung Quốc nhằm xác định và lãnh đạo Phương Nam toàn cầu, một khái niệm khá mơ hồ nhưng có tiềm năng huy động mạnh mẽ.

Print Friendly and PDF

7.9.23

Đạo đức của truyền thông khoa học

ĐẠO ĐỨC CỦA TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC

Tác giả: Philippe Vellozzo

Triết gia, giám đốc truyền thông Đại học Bordeaux

Đây không phải là vấn đề sự sụp đổ chung của niềm tin vào các khoa học hay sự xuất hiện của một chế độ “hậu sự thật”. Nhưng những hành động truyền thông “độc hại” có thể thành công, trên một chủ đề cụ thể, trong việc gây nhiễu loạn các ranh giới giữa khoa học và dư luận, giữa các chủ đề thảo luận và những chủ đề đồng thuận, giữa những vấn đề thực tế và những vấn đề về giá trị. Đối diện với những mối nguy này, một “khoa học về truyền thông khoa học” có thể góp phần làm cho tất cả các loại công chúng có thể tiếp cận tri thức tốt hơn.

Truyền thông khoa học đã luôn luôn là một chủ đề chính trị cũng như chính khoa học, như công trình của các sử gia về các bảo tàng khoa học đầu tiên và các cuộc triển lãm lớn trong thế kỷ XIX đã nêu ra. Nhưng quyết chí mới đây muốn tăng cường và làm cho các hành động truyền thông đối với đại công chúng rộng rãi được hiệu quả hơn trong các lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt nhạy cảm, cho dù nó được biện minh về nguyên tắc, như sự đáp trả những đe dọa đè nặng trong không gian công cộng bởi những “người buôn sự nghi ngờ” và những “người theo chủ nghĩa phủ nhận”, vẫn có thể làm lung lay nền tảng các mối quan hệ giữa khoa học và dân chủ, và vậy là gây hại cho vị trí trung tâm dành cho dân chủ trong các tổ chức phục vụ cho việc sản xuất và truyền bá tri thức.

Print Friendly and PDF

6.9.23

Nhìn lại phát triển kinh tế Việt Nam và năng suất lao động có tính đến việc điều chỉnh thống kê từ 2010 đến nay

NHÌN LẠI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CÓ TÍNH ĐẾN VIỆC ĐIỀU CHỈNH THỐNG KÊ TỪ 2010 ĐẾN NAY

Vũ Quang Việt

09/05/2023

Tóm tắt

Bài viết này nhằm đánh giá lại kinh tế Việt Nam dựa trên số liệu mới về GDP từ 2010-2022 do Tổng cục Thống kê Việt Nam tính lại và đã công bố chính thức trên mạng. Bài viết tiếng Việt này dựa vào bài viết tiếng Anh đã xuất bản, nhưng đã điều chỉnh lại dựa vào số liệu về GDP chỉnh lại cao hơn khoảng 30% trước đây. Các tỷ lệ có thay đổi, thấp hơn trước, nhưng tốc độ phát triển dù có thay đổi không làm thay đổi các kết luận của bài viết trước đây. Bài cũng ghi lại toàn bộ số liệu mới và cũ dùng trong phân tích, với mục đích giúp giới nghiên cứu nắm rõ hơn tình hình số liệu kinh tế Việt Nam.

Có thể tóm tắt một số điểm sau: (a) GDP trong khoảng thời gian trên cao hơn trước từ 24-28%, điều này sẽ làm các chỉ số nói chung tính theo tỷ lệ GDP thay đổi như giảm các tỷ lệ nợ, thiếu hụt ngân sách, năng suất lao động, v.v. điều này có ảnh hưởng lớn khi so sánh với nước khác; (b) Tỷ lệ của khu vực doanh nghiệp tư nhân lớn hơn trước đây rất nhiều trong khi đó doanh nghiệp nhà nước cũng như hộ gia đình phi chính thức giảm; (c) Tuy thế tốc độ tăng trưởng của các chỉ số cơ bản trong GDP không thay đổi đáng kể. Những tác động của việc chỉnh sửa trên cũng chỉ cho phép phân tích hạn chế một số vấn đề kinh tế liên quan đến thể chế vì Tổng cục Thống kê chưa tách biệt rõ ràng từng năm khu vực nhà nước thành doanh nghiệp nhà nước và dịch vụ nhà nước, cũng như chưa tách biệt khu vực tư nhân thành khu vực doanh nghiệp tư nhân và khu vực hộ gia đình, đồng thời cũng chưa tách biệt doanh nghiệp thành hai loại: doanh nghiệp tài chính và phi tài chính.

Dù với những hạn chế trên vẫn có thể thấy là nền kinh tế Việt Nam hiện nay dựa chính vào đầu tư nước ngoài, tập trung vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ và châu Âu cho các nước thứ ba, dù là may mặc hay máy móc, linh kiện điện tử với lao động tay nghề thấp và năng suất thấp. Trong 10 năm qua, tốc độ tăng GDP bình quân dù cao, nhưng giảm so với trước đây và tính từ thời đổi mới năm 1989 thì chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm trên 7% một thập kỷ rồi giảm, so với 4 thập kỷ ở Hàn Quốc và 5 thập kỷ ở Trung Quốc. Vào năm 2022, được là nợ nước ngoài tương đối thấp, vào năm 2022, chỉ khoảng 34%, và dự trữ ngoại tệ tương đối mỏng cũng đạt mức an toàn là 4 tháng nhập khẩu (2021).

Nhưng nợ của doanh nghiệp phi tài chính nói chung (tức là không kể ngân hàng và doanh nghiệp tài chính - khu vực trung gian tạo nợ) hiện nay là quá lớn, đang trở thành quả tạ ngăn cản phát triển. Tỷ lệ nợ lên tới 237% GDP vào cuối năm 2020, vượt xa tỷ lệ 150% của TQ và 100% của Mỹ, sẽ dễ dàng đưa đến khủng hoảng kinh tế do doanh nghiệp mất khả năng trả nợ khi lãi suất thật lên cao (có lẽ đây là lý do nhiều doanh nghiệp đã mất khả năng trả nợ khi lãi suất thật là 6% vào cuối năm 2021. Thông tin mới nhất vào tháng 6 năm 2023, lãi suất cho vay bình quân là 8.9% so với lạm phát 2% là quá cao, tức là lãi suất thật lên cao tới gần 7%. Nếu tiếp tục kinh tế Việt Nam khó có khả năng tăng cao, thậm chí khu vực xây dựng sẽ suy thoái nặng và mất khả năng trả nợ.

Nợ lớn như thế cho thấy kinh tế Việt Nam nếu muốn trở lại mức phát triển bình thường sau suy thoái do Covid (2020-2022) cần phải có giải pháp đúng đắn. Sau khi GDP năm 2022 đạt tốc độ tăng 8.1% sau Covid, hai quí đầu 2023 cho thấy GDP đã giảm xuống mức rất thấp là 3.7%.

Nguồn: TCTK Việt Nam: http://nsdp.gso.gov.vn/index.htm

Nếu không cải cách, Việt Nam khó trở thành con rồng con cọp như nhiều người mơ ước.

Print Friendly and PDF

5.9.23

Hầu như không ai dùng Bitcoin làm tiền tệ, dữ liệu mới chứng minh. Bitcoin thực ra giống một canh bạc hơn

HẦU NHƯ KHÔNG AI DÙNG BITCOIN LÀM TIỀN TỆ, DỮ LIỆU MỚI CHỨNG MINH. BITCOIN THỰC RA GIỐNG MỘT CANH BẠC HƠN

Shutterstock

Những người ủng hộ Bitcoin thích cho rằng Bitcoin và các loại tiền điện tử khác đang trở thành xu hướng. Có một lý do chính đáng để muốn mọi người tin vào điều này.

Cách duy nhất mà một nhà đầu tư tay mơ sẽ kiếm được lợi nhuận từ tiền điện tử là bán chúng với giá cao hơn giá họ đã mua. Vì vậy, điều quan trọng là thổi phồng những triển vọng để tạo “nỗi sợ bị bỏ lỡ cơ hội” [FOMO - fear of missing out].

Có những tuyên bố mơ hồ rằng phần lớn dân số – thường trong khoảng từ 10% đến 20% – đang nắm giữ tiền điện tử. Đôi khi những số liệu này dựa trên việc đếm số lượng ví tiền điện tử hoặc khảo sát những người giàu có.

Nhưng dữ liệu thực tế về việc sử dụng Bitcoin cho thấy hiếm khi đồng tiền này được mua để dùng vào mục đích tưởng như là lý do nó tồn tại: chi tiêu.

Ít được dùng để thanh toán

Mục đích chính của Bitcoin, như người sáng lập “Satoshi Nakamoto” đã nêu trong câu mở đầu của sách trắng năm 2008 để phác thảo khái niệm này, đó là:

Một phiên bản ngang hàng hoàn toàn của tiền điện tử sẽ cho phép các khoản thanh toán trực tuyến được gửi trực tiếp từ bên này sang bên khác mà không cần thông qua một tổ chức tài chính.

Dữ liệu mới nhất đánh đổ ý tưởng này đến từ ngân hàng trung ương Úc.

Ba năm một lần, Ngân hàng Dự trữ Úc khảo sát một mẫu đại diện gồm 1.000 người trưởng thành về cách họ thanh toán mọi thứ. Như trong đồ thị dưới đây, tiền điện tử hầu như không tạo được ảnh hưởng như là một công cụ thanh toán, khi chỉ được sử dụng bởi không quá 2% người trưởng thành.

Print Friendly and PDF

3.9.23

Bản chất kép một cách kì lạ: Oppenheimer sau Hiroshima

BẢN CHẤT KÉP MỘT CÁCH KÌ LẠ: BI KỊCH OPPENHEIMER[1] SAU HIROSHIMA[2]

Oppenheimer: bài viết chọn lọc thứ 3

Le Grand Continent

Tháng 11 năm 1945. Chỉ mới qua vài tháng kể từ khi Little Boy (tên mật mã của quả bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima - ND) and Fat Man (tên mật mã của quả bom được thả xuống Nagasaki - ND) chạm đến đất Nhật - thay đổi bộ mặt thế giới. Tại Đại học Pennsylvania, trước cử tọa gồm các nhà khoa học và bác học, Oppenheimer cố gắng diễn đạt thành lời những gì đang bắt đầu xảy ra, phác họa một cách lộn xộn: một nhận thức luận, một chiến lược và một chính sách cho năng lượng nguyên tử. Tài liệu lưu trữ mới này của loạt bài mùa hè của chúng tôi nên được đọc như một bài phát biểu vừa nghiêm trọng vừa ngập ngừng cho phép chúng ta quay trở lại cội nguồn của bi kịch Oppenheimer. Phần đóng bình luận của chúng tôi trong bài của Oppenheimer dưới đây được in nghiêng.

---------------------------------------------------------------------------------

Le Grand Continent - Điều gì có thể tàn phá mọi thứ cũng có thể giải quyết mọi thứ - nếu các nhà khoa học và các quốc gia hợp tác được với nhau. Đây đại khái là thông điệp mà người phát minh ra bom nguyên tử tìm cách truyền đạt vào ngày 16 tháng 11 năm 1945 ở Philadelphia, tại Đại học Pennsylvania, trước Hội Triết học Hoa Kỳ/American Philosophical Society. Dưới dạng chưa hoàn thiện và phôi thai, tài liệu này là một bản tóm tắt các câu hỏi sẽ theo đuổi và ám ảnh ông trong suốt những năm ông đứng đầu Ủy ban Tư vấn Tổng hợp của Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ.

Một thuật ngữ mà Oppenheimer không sử dụng – chúng ta còn đang ở thời tiền sử của suy ngẫm về những hệ lụy của nguyên tử – tuy nhiên lại xuyên suốt bài phát biểu của ông: kép. Bản chất tất yếu hai mặt của sức mạnh nguyên tử: một mặt, cung cấp năng lượng vô hạn bằng cách dồn nó dựa trên các lò phản ứng; mặt khác, nguy cơ tàn phá thế giới. Giọng điệu vừa nghiêm trọng vừa ngập ngừng của hội nghị này, diễn ra vài tháng sau vụ oanh tặc Hiroshima và Nagasaki, cho thấy “cha đẻ của bom nguyên tử” hoàn toàn ý thức rằng phát minh của mình đã thay đổi cuộc sống con người trên trái đất ngay từ lúc đấy. Tuy nhiên, trong bài phát biểu này, cũng như trong những bài khác, ông chọn cách thu nhỏ trọng tâm lại và nhìn vấn đề qua lăng kính về những hệ lụy của sự thay đổi hệ ý này đối với cách làm khoa học và khám phá khoa học. Trên nhiều phương diện, sự suy ngẫm này có thể được đọc như một nỗ lực gắn kết những khám phá ở Los Alamos – Oppenheimer chỉ rõ là về mặt kỹ thuật, chứ không phải khoa học – với lịch sử các khoa học ở Phương Tây. Đây là cách giúp chúng ta hiểu sự so sánh giữa kiến ​​thức về năng lượng nguyên tử và kiến ​​thức về hệ mặt trời.

Tuy nhiên, trong suốt bài thuyết trình của mình trước các thành viên của Hội Triết học Hoa Kỳ, một sự ngây thơ nhất định về sức mạnh của vũ khí lộ ra (“chiến tranh sẽ chấm dứt/wars will cease”), như thể Oppenheimer muốn thuyết phục bản thân rằng có một số điều tốt trong phát minh của ông. Do đó, văn bản bắt chéo, quyện vào nhau, một suy ngẫm có thể được mô tả một cách sỗ sàng như mang tính nhận thức luận về quả bom với lời kêu gọi “trách nhiệm tập thể” để chấm dứt chiến tranh. Tính nước đôi này, sự không thể có quyết định dứt khoát này, là một hằng số trong các bài viết về quả bom mà chúng tôi dịch và xuất bản trong loạt bài mùa hè của chúng tôi.

Hồ sơ bài lưu trữ này đặc biệt đáng chú ý vì niên đại của nó. Chỉ mới vài tháng sau Hiroshima và Nagasaki, và Oppenheimer tìm cách rút ra những bài học đầu tiên của việc nghiên cứu chiến tranh như một hiện tượng xã hội học. Theo ông, các vụ đánh bom tháng 8 đã xác định một “mô hình sử dụng” vũ khí nguyên tử: “một loại vũ khí gây hấn, bất ngờ và khủng bố”. Nhà phát minh quả bom cảnh báo: theo mô hình này, nếu bom (nguyên tử) được sử dụng lại, thì sẽ có hàng nghìn hoặc hàng chục nghìn quả được sử dụng. Do đó nhất thiết phải làm cho chiến tranh không thể xảy ra.

Nhưng cuối cùng cũng có thể đọc tham luận dưới đây của Oppenheimer như một lời đáp trả - hay sự dự đoán trước một lời chỉ trích - cho những người phản đối các nhà khoa học đã đóng góp vào Dự án Manhattan vì đã, theo một cách nào đó, làm giảm giá trị của tiến bộ khoa học: “Tôi không tin rằng ta có thể vượt qua cuộc khủng hoảng hiện tại trong một thế giới khi các công trình khoa học được sử dụng, nếu chúng được sử dụng một cách cố ý, cho những mục đích mà con người coi là xấu xa”. Không tự phủ nhận hay thay đổi ý kiến, J. Robert Oppenheimer ở ​​đây cố gắng nối kết việc phát minh quả bom với sự hiểu biết tốt hơn về thế giới mà nó đã mở ra.

-----------------------------------------------------------------

J. ROBERT OPPENHEIMER - Kính thưa các thành viên của Viện Hàn Lâm, các thành viên của Hội Triết Học,

Những lý do chính đáng mà các bạn chắc có lẽ đã có để muốn học hỏi từ tôi hôm nay - những gì mà hoàn cảnh có lẽ đã khiến tôi đủ tư cách để thảo luận với các bạn dựa trên kinh nghiệm của tôi - là cách thức chế tạo vũ khí nguyên tử. Bởi vì, đúng như chúng tôi đã thường xuyên và nghiêm túc phát biểu, các nghiên cứu khoa học mà chúng tôi đã phải thực hiện tại Los Alamos trong khuôn khổ các kỹ thuật được phát triển ở đó hầu như không dẫn đến những khám phá cơ bản. Ở đó, không có những hiểu biết mới quan trọng nào về bản chất của thế giới vật chất.

Print Friendly and PDF

1.9.23

Kiểm duyệt: Trung Quốc tiếp tục thụt lùi

KIỂM DUYỆT: TRUNG QUỐC TIẾP TỤC THỤT LÙI

THỜI LUẬN. Khi hạn chế truy cập internet đối với người dưới 18 tuổi, một lần nữa Trung Quốc cho thấy họ e sợ kiến thức và sự lưu hành tự do các ý tưởng.

Tác giả: Arthur Chevallier[*]

Không có gì sáng tạo hơn chính sách ngu dân, nó không ngừng tự sáng tạo lại và với những hình thức bất ngờ nhất. Nhiều thế kỷ trôi qua; sức mạnh của nó vẫn còn đó. Tuần trước, Trung Quốc đã thông báo có những hạn chế quan trọng về truy cập các mạng xã hội và Internet đối với những lớp người trẻ nhất của dân cư, thêm một lần nữa chứng minh rằng các chế độ độc tài không bao giờ quên những điều quan trọng nhất của họ. Bởi vì chúng là hiện thân của sự trái ngược với trí tuê, là sự tàn bạo thô thiển nhất, chúng e sợ tri thức và tất nhiên là chống lại sự lưu hành tự do các ý tưởng. Điều có vẻ tỏ ra là một biện pháp bổ ích, hay tiên phong, chống lại thế giới ảo, thực ra là một sự mở rộng thô thiển của lĩnh vực kiểm duyệt.

Internet mang tiếng xấu; các mạng xã hội còn tệ hơn. Ngay cả những người tự xác định là tiến bộ cũng cáo buộc các công cụ này về tất cả mọi thứ. Internet và mạng xã hội làm cho tuổi trẻ trở nên ngu muội, tàn phá văn hóa, gây nguy hiểm cho nền dân chủ, v.v.. Đó là quên rằng nhân loại đã không chờ có IBM và Microsoft mới trở nên ngu xuẩn hay giết hại lẫn nhau. Cũng quên rằng cơ sở dữ liệu đầu tiên trên thế giới, điều gần nhất với ý tưởng và tham vọng của thư viện Alexandria, chính là Internet. Người ta sẽ trả lời rằng Internet hàm chứa những điều ngu xuẩn, tầm thường, đúng vậy, rằng các tri thức không được sắp xếp trật tự, rằng thông tin không được xác nhận, điều này cũng đúng, nhưng cuối cùng thì các sách cũng không thoát khỏi những nguy cơ này. Tồn tại những sách dở, ngu xuẩn, nguy hiểm, và cả phản loạn.

Print Friendly and PDF