7.9.16

Nghiên cứu Đông Nam Á từ quan điểm của Viện quốc tế nghiên cứu châu Á (IIAS), Leiden

NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á TỪ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆN QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU CHÂU Á (IIAS), LEIDEN
Philippe Peycam[1]
Chuyển ngữ: Bùi Thế Cường[2]

Tôi là nhà sử học nghiên cứu về Đông Nam Á, chuyên về Việt Nam, và sau đó Campuchia. Ở nước thứ hai, tôi tham gia phát triển một định chế tăng cường năng lực, Trung tâm Nghiên cứu Khmer, vừa là một tổ chức quốc tế vừa là một tổ chức Campuchia. Hiện giờ tôi là Giám đốc Viện Quốc tế Nghiên cứu châu Á (IIAS, International Institute for Asian Studies), một Viện có tính toàn cầu, nhưng cắm rễ sâu trong bối cảnh học thuật Hà Lan/ châu Âu. Thêm nữa, tôi là học giả ở Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) ở Singapore. Vì thế có nhiều lát cắt và góc độ để tôi thảo luận về nghiên cứu Đông Nam Á.

Về thách thức và cơ hội cho Nghiên cứu Đông Nam Á (SEAS), tôi cảm thấy chúng ta đang ở một ngã tư đường với những chuyển đổi căn bản trong quá trình sản xuất tri thức, theo nghĩa ta hàm ý gì cho nghiên cứu Đông Nam Á cũng như theo nghĩa thực sự ta đang làm điều đó như thế nào xét về mặt định chế. Những biến đổi ấy đang ảnh hưởng đến cách mà SEAS được quan niệm trước kia. Tôi nhìn những biến đổi ấy cả theo nghĩa là một quá trình phi trung tâm hóa và tái trung tâm hóa (decentering, re-centering) trong lĩnh vực này, khiến nó trở nên “toàn cầu” hơn với đa dạng hơn các tác viên tham gia cả trong lẫn ngoài khu vực Đông Nam Á, và theo cách kích hoạt lẫn nhau, khả năng mở ra những ranh giới trí tuệ và phương pháp luận mới vượt khỏi mô hình “nghiên cứu khu vực” (area study) truyền thống chủ yếu dựa vào khung quy chiếu nhà nước-dân tộc từng sử dụng lâu nay. Như ta biết, lĩnh vực này bị thống trị bởi mô hình học thuật Tây phương kiểu “nghiên cứu khu vực” thời Chiến tranh lạnh, và trước đó bởi truyền thống “Đông phương học” thuộc địa. Mô hình định chế của việc sản xuất và truyền tải tri thức cũng theo kiểu phương Tây. Nếu ta nhìn vào bức tranh rộng lớn hơn hôm nay, ta thấy mình đang sống trong một thời đại với những không gian mới và những dòng tiếp cận mới đối với hiện thực con người, hiện thực của các xã hội tạo nên “Đông Nam Á”.
Print Friendly and PDF

6.9.16

Xét lại vấn đề thu nhập cơ bản

XÉT LẠI VẤN ĐỀ THU NHẬP CƠ BẢN
LONDON – Anh Quốc không phải là nước duy nhất tổ chức trưng cầu ý dân trong tháng này. Vào ngày 5 tháng 6, đại đa số các cử tri Thụy Sĩ đã bác bỏ, với 77% so với 23%, đề xuất về việc mọi công dân cần được đảm bảo một khoản thu nhập cơ bản vô điều kiện (UBI, Unconditional Basic Income). Nhưng kết quả chênh nhau ấy không có nghĩa là vấn đề sẽ sớm biến mất.
Print Friendly and PDF

4.9.16

Nghiên cứu Đông Nam Á: Hướng đến một kết mạng khu vực mở

Nghiên cứu Đông Nam Á: Hướng đến một kết mạng khu vực mở

Caroline Sy Hau[1]
Chuyển ngữ: Bùi Thế Cường[2]

Hơn mười lăm năm trước, trong bài giảng tưởng nhớ Frank Golay ở Đại học Cornell, học giả nổi tiếng Ruth McVey nhận xét Đông Nam Á học ở Hoa Kỳ bị suy giảm đúng vào lúc Đông Nam Á đang ngày càng toàn cầu hóa và ngày càng trở thành quan trọng đối với Hoa Kỳ (McVey and Reynolds, 1998, tr. 37-38). Trong thời kỳ cắt giảm ngân sách và chịu áp lực phải thể hiện ý nghĩa của nghiên cứu khu vực (area studies) đối với các ngành hàn lâm khác, và đối với nhà nước cũng như công luận nói chung, McVey kêu gọi suy nghĩ lại về Đông Nam Á học. Mượn lời McVey, “Không phải Đông Nam Á là đối tượng nghiên cứu của chúng ta, mà người Đông Nam Á là chủ thể của nó” (tài liệu đã dẫn, tr. 53). McVey phê phán cách thiết lập các chương trình nghiên cứu Đông Nam Á ở Hoa Kỳ có tính chất cạnh tranh giành tài trợ và uy tín. Bà biện hộ cho việc tăng cường hợp tác và kêu gọi người Đông Nam Á hướng đến mạng lưới hơn là tổ chức, và những mạng lưới này về nguyên tắc cần mang tính toàn cầu hơn là tính khu vực và quốc gia (tài liệu đã dẫn, tr. 54).
Print Friendly and PDF

2.9.16

Dữ liệu lớn và dữ liệu cá nhân: hướng tới việc quản trị có tính đạo đức các thuật toán


Dữ liệu lớn và dữ liệu cá nhân: hướng tới việc quản trị có tính đạo đức các thuật toán
Gần như khó có thể tưởng tượng được cuộc sống đương đại nếu không bàn đến việc chúng ta sử dụng hàng ngày các hệ thống thông tin được triển khai trên các máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng, GPS, và từ nay còn thêm các thiết bị kết nối khác. Chúng ta đắm mình trong một thực tế kỹ thuật số được kiểm soát và cá nhân hóa, hội tụ vô số các dòng chảy thông tin. Việc khai thác các dữ liệu này trở thành một chủ đề nhạy cảm, bởi vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sự riêng tư của chúng ta. Tất nhiên mỗi người đều có những công cụ cho phép điều chỉnh một số các thông số – ví dụ, chấp nhận hay không việc định vị địa lý. Nhưng sự kiểm soát cá nhân này chỉ mang tính cục bộ và hầu như chưa ai có khả năng thực hiện nó một cách nghiêm túc. Vì vậy câu hỏi được đặt ra ở một cấp độ kiểm soát khác, ở cấp độ quản lý Dữ liệu lớn. Bằng cách nào? Bên cạnh những giải pháp thể chế được xây dựng dựa trên các cơ quan kiểm soát, còn nổi lên một hướng là khai phá dữ liệu có đạo đức (ethical data mining). 
Với sự phát triển của các công nghệ về Dữ liệu lớn, các thuật toán khai thác các dòng chảy dữ liệu đóng một vai trò ngày càng mang tính quyết định đối với sự lựa chọn của cá nhân. Có lẽ quá đáng khi nói rằng các thuật toán ấy kiểm soát chúng ta, nhưng chúng định hướng chúng ta trong rất nhiều quyết định, từ việc lựa chọn một khách sạn hay một vé máy bay đến việc lựa chọn một lộ trình, một cuốn sách trên Internet, hay việc gặp gỡ bạn bè mới trên các mạng xã hội.
Print Friendly and PDF

30.8.16

Thách thức của cải cách kinh tế học



Cải cách kinh tế học nhìn từ bên trong
THÁCH THỨC CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ HỌC
Cameron Murray
Không thể cường điệu thách thức mà cải cách kinh tế học phải đối mặt. Kinh tế học hiện đại dòng chính vẫn chiếm ưu thế trong các trường đại học và các chính phủ của chúng ta mặc cho bằng chứng áp đảo chống lại hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của nó, và mặc cho nhiều thập niên nỗ lực của các cuộc cách mạng. Khái niệm về trạng thái cân bằng tĩnh và ‘tác nhân tiêu biểu’ (‘representative agent’) của phương pháp tổng gộp chỉ là hai khái niệm mà đã nhiều lần cho thấy là không có sự nhất quán nội tại, không chỉ từ những người bên ngoài mà còn từ nhiều trong số những nhà lãnh đạo trong dòng chính. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục thống trị bộ môn [kinh tế học] này.
Điều cốt lõi vẫn không hề suy suyển.
Các khái niệm lỗi thời và không thích đáng về mặt kinh tế vẫn chiếm đầy các trang của những quyển giáo trình nhập môn. Từ đó, chúng được nhồi vào tâm trí của mỗi thế hệ sinh viên mới, đến lượt mình, họ tiếp tục chuyển giao các ý tưởng này cho thế hệ sinh viên tiếp theo, và toàn bộ xã hội rộng lớn hơn. Để biến đổi bộ môn [kinh tế học], điều cần thiết là phải phá vỡ những vòng phản hồi trong hệ thống này.
Print Friendly and PDF

29.8.16

Các nhà kinh tế đưa ra các quy tắc đạo đức




CÁC NHÀ KINH TẾ ĐƯA RA CÁC QUY TẮC ĐẠO ĐỨC

BEN CASSELMAN
CHICAGO – Một nhóm các nhà kinh tế hàn lâm hàng đầu đã thông qua các quy tắc xung đột lợi ích để đáp lại những phê phán cho rằng ngành kinh tế học không những thất bại trong việc dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, mà trong thực tế có thể còn giúp tạo ra nó.
Chính sách mới này quyết định không đi tới cùng trước lời kêu gọi của một số người trong ngành kinh tế học về những hướng dẫn chung về mặt đạo đức.
Nhiều nhà kinh tế còn làm tư vấn cho các công ty, các chính phủ và các tập đoàn khác, những công việc ngoài lãnh vực học thuật chính thức của họ. Các nhà phê bình, cả bên trong và bên ngoài ngành kinh tế học, đã biện luận rằng các mối quan hệ đó – thường có lợi và đôi khi không được công bố – có thể đã gây ảnh hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, khiến họ, trước tiên, bỏ lỡ những dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng sắp xảy đến và tiếp đó khuyến nghị những giải pháp về chính sách chỉ phục vụ cho lợi ích của các khách hàng của họ, với cái giá mà nền kinh tế nói chung phải gánh trả.
Print Friendly and PDF

26.8.16

Sức mạnh của những cú hích tốt và xấu

Sức mạnh của những cú hích tốt và xấu
Richard H. Thaler
Những cú hích, tức những thay đổi nhỏ có thể ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi cá nhân, đang trở thành mốt. Những kỹ thuật này dựa trên những hiểu biết sâu sắc của khoa học hành vi, và khi được sử dụng một cách có đạo đức, chúng có thể rất hữu ích. Nhưng chúng ta cần phải đảm bảo rằng không sử dụng chúng để dẫn dắt con người ra những quyết định sai lầm mà họ sẽ hối tiếc về sau.
Print Friendly and PDF

24.8.16

25 công ty này quyền lực hơn rất nhiều nước trên thế giới



25 công ty này quyền lực hơn rất nhiều nước trên thế giới

Không được xem là một nhà nước, để tối đa hóa lợi nhuận, các công ty đa quốc gia đang thi đua với các chính phủ về quyền lực toàn cầu. Ai là người chiến thắng?
PARAG KHANNA
Thoạt nhìn, câu chuyện của công ty Accenture giống như nguyên mẫu giấc mơ của người Mỹ. Là một trong những công ty tư vấn lớn nhất thế giới, có doanh thu hàng chục tỷ đô-la hàng năm, được thành lập vào những năm 1950 như là một bộ phận nhỏ của công ty kế toán Arthur Andersen. Dự án lớn đầu tiên của họ là tư vấn cho công ty General Electric để lắp đặt một máy tính tại một cơ sở ở bang Kentucky nhằm tự động hóa quy trình thanh toán. Họ trải qua nhiều thập niên tăng trưởng tiếp theo sau đó, và đến năm 1989, bộ phận đã trưởng thành đủ lớn để trở thành một tổ chức riêng: công ty tư vấn Andersen Consulting.
Print Friendly and PDF

23.8.16

Nhà kinh doanh, tinh thần kinh doanh, và đạo đức kinh doanh

Nhà kinh doanh, tinh thần kinh doanh, và đạo đức kinh doanh

Trần Hữu Quang
Kinh doanh ở Việt Nam bây giờ đã trở thành một hoạt động bình thường, và từ ngữ “kinh doanh” đã được sử dụng một cách hết sức phổ thông trong đời sống xã hội hàng ngày. Tuy nhiên, xét về mặt lịch sử, nếu hoạt động kinh doanh, hiểu theo nghĩa rộng của từ này, có thể đã diễn ra từ lâu qua các thế kỷ phát triển kinh tế của Việt Nam, thì ngược lại, nhân vật nhà kinh doanh (hay doanh nhân), theo nghĩa mà chúng ta hiểu ngày nay, lại chỉ mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu hình thành nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong thời Pháp thuộc, đặc biệt là ở các đô thị.
Ngay bản thân thuật ngữ “kinh doanh” (hay còn nói là “kinh dinh”) ngày xưa được hiểu là việc tổ chức khai khẩn, mở mang đất đai và lập nghiệp, thường do các bậc vua quan tiến hành, chứ chưa được hiểu theo nghĩa hoạt động làm ăn buôn bán của người thường dân như bây giờ.[1] Cuốn từ điển Annam - La-tinh mà Pigneaux de Béhaine soạn năm 1772-1773 giải thích từ “kinh dinh” là “đặt mọi sự vào chỗ chúng”.[2] Đến năm 1895, cuốn từ điển của Paulus Của vẫn còn định nghĩa từ “kinh dinh” một cách khá chung chung là “sửa sang, sắp đặt”, ví dụ: “kinh dinh việc lớn”.[3] Nhưng sang đầu thế kỷ XX thì từ “kinh doanh” đã bắt đầu gắn liền với những ý niệm mới về sự sinh lợi, việc buôn bán hay hoạt động tài chính, và bên cạnh đó còn xuất hiện những từ mới có liên quan như doanh lợi, doanh nghiệp, thực nghiệp, doanh thương...[4]
Print Friendly and PDF

20.8.16

Huyền thoại về tư lợi đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu như thế nào

Huyền thoại về tư lợi đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu như thế nào

Liệu sự tiến hóa có dạy cho chúng ta điều gì quan trọng về kinh tế học và chính sách công hay không?
Mark van Vugt và Michael Price
Một người bạn của tôi là một nhà quản lý nguồn nhân lực làm việc trong ngành ngân hàng ở Hà Lan vào đầu thế kỷ 21. Đây là thời kỳ những năm vinh quang khi các ngân hàng chuyển từ chỗ bạn có thể bảo vệ các khoản tiền tiết kiệm cá nhân của mình thành các ngân hàng đầu tư với các danh mục đầu tư cổ phiếu, phái sinh, trái phiếu và bất động sản của họ. Các ngân hàng đầu tư làm ra hàng tấn tiền và công việc của bạn tôi là trao các khoản tiền thưởng năm. Tiền thưởng bằng một bội số tiền lương hằng năm không phải là điều ngoại lệ. Tôi hỏi ông ấy các nhân viên ngân hàng phản ứng như thế nào khi được trao tiền thưởng. Họ có bao giờ cảm ơn ông không? Không, ông cho biết, ông chưa bao giờ nhận được một lời cảm ơn. Điều duy nhất mà họ hỏi là "bao nhiêu vậy và như vậy đủ chưa?" Bị vỡ mộng với nghề, giờ đây ông ấy làm việc tại trường đại học của tôi, giảng dạy cho sinh viên về đạo đức kinh doanh và quản trị nguồn nhân lực.
Print Friendly and PDF