12.11.22

Olaf Scholz độc diễn ở Bắc Kinh trong bối cảnh ngờ vực của phương Tây đối với Trung Quốc

OLAF SCHOLZ ĐỘC DIỄN Ở BẮC KINH TRONG BỐI CẢNH NGỜ VỰC CỦA PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Pierre-Antoine Donnet

Thủ tướng Đức Olaf Scholz được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đón tiếp tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ngày 4 tháng 11 năm 2022. (Nguồn: DW)

Thủ tướng Đức Olaf Sholz đã có chuyến thăm chớp nhoáng tới Bắc Kinh vào hôm thứ Sáu (ngày 4 tháng 11), trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của nhóm G7 đến thăm Trung Quốc kể từ ba năm qua. Chuyến thăm của ông đã dấy lên những chỉ trích gay gắt ở châu Âu và ngay cả ở nước Đức, khi rạn nứt giữa Trung Quốc và phương Tây ngày càng gia tăng.

Chuyến thăm chỉ kéo dài 11 giờ, nhưng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã hoan nghênh chuyến công du của Thủ tướng Đức. Chủ tịch Trung Quốc đã kêu gọi Đức tăng cường quan hệ với Trung Quốc, trong khi Olaf Sholtz đã ca ngợi ngành công nghiệp Đức và cho biết chuyến thăm của ông sẽ giúp “phát triển hơn nữa” quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước. Nếu Olaf Sholtz đã nói với báo chí nước ngoài rằng ông đã yêu cầu Chủ tịch Tập Cận Bình sử dụng “ảnh hưởng của mình” để Nga chấm dứt “cuộc chiến tranh xâm lược” chống lại Ukraine, thì người đối thoại ông đã đáp lại: “Trung Quốc và Đức cần phải tôn trọng lẫn nhau” và “cùng nhau chống lại các cuộc can thiệp” vào mối quan hệ của họ, theo lời tường thuật của đài truyền hình nhà nước Trung Quốc CCTV.

Những lời được cho là của Tập Cận Bình đang nhắm đến Hoa Kỳ, mà không nói ra một cách rõ ràng. Thực vậy, chủ tịch Trung Quốc từ lâu đã hy vọng sử dụng mối quan hệ của Trung Quốc với Liên minh châu Âu để làm đối trọng với người Mỹ, khi những căng thẳng với Hoa Kỳ không ngừng gia tăng.

Print Friendly and PDF

10.11.22

Những người đào ngũ giai cấp xuất thân trong văn học: trường hợp của Annie Ernaux

NHỮNG NGƯỜI ĐÀO NGŨ GIAI CẤP XUẤT THÂN TRONG VĂN HỌC: TRƯỜNG HỢP CỦA ANNIE ERNAUX

Tác giả: Isabelle Charpentier

Giáo sư Xã hội học, Đại học Picardie Jules Vernes (UPJV)

Annie Ernaux, người đạt giải Nobel văn học năm 2022, trò chuyện với tác giả Kate Zambreno tại Albertine Books, New York, ngày 10/10/2022.

Là nữ văn sĩ với thành công ngày càng lớn trước công chúng mặc dù thường có những phê bình tranh luận khi mỗi tác phẩm mới của bà được xuất bản, Annie Ernaux vừa mới đạt giải thưởng Nobel văn học năm 2022. Được xuất bản trong collection Blanche chez Gallimard (Bộ sưu tập Blanche - Nhà xuất bản Gallimard) ngay từ tác phẩm đầu tiên, một tác phẩm tự truyện xuất bản năm 1974 (Les Armoires vides - Những cái tủ trống), trước đây bà đã nhiều lần được trao các giải thưởng văn học: ví dụ giải Renaudot và giải Maillé-Latour-Landry vào năm 1984 cho tác phẩm La Place (Chỗ đứng), giải Marguerite Duras và giải François Mauriac cho tác phẩm Les Années (Những năm tháng) vào năm 2008, cũng như giải Tiếng Pháp (2008) - Prix de la langue française - và giải Marguerite Yourcenar (2017) cho toàn bộ các tác phẩm của bà.

Sinh năm 1940, là con của những công nhân vùng Normandie về sau trở thành tiểu thương, chủ của một tiệm tạp hóa và cà phê ở Yvetot, bà đã trở thành một “người lai về mặt xã hội (“une métisse sociale”) nhờ vốn văn hóa mà bà đã đạt được thông qua trường học, “một người chuyển lên tầng lớp trên (“déclassée par le haut”), hay còn là một người “đào ngũ giai cấp”. như bà thường thích tự định nghĩa mình như vậy.

Print Friendly and PDF

8.11.22

Cáo phó: James Lovelock

CÁO PHÓ: JAMES LOVELOCK

Pearce Wright và Tim Radford

Nhà khoa học, nhà môi trường học, nhà phát minh và là người theo thuyết Gaia xem Trái Đất như một hệ thống tự điều chỉnh tiêu biểu.

James Lovelock tại nhà riêng ở Abbotsbury, Dorset, năm 2014. Ảnh: Laura Jones/BNP

Những khám phá của nhà khoa học James Lovelock có ảnh hưởng to lớn đến sự hiểu biết của chúng ta về tác động toàn cầu của loài người, và đối với việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất. Một nhà văn và một diễn giả sôi nổi, ông đã trở thành anh hùng của phong trào xanh, mặc dù ông ấy là một trong những nhà phê bình nó dữ dội nhất.

Một số vấn đề trong nghiên cứu của ông đã trở thành các mối quan tâm về môi trường mãnh liệt nhất vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, trong số đó có vấn đề các chất ô nhiễm công nghiệp ngấm ngầm lan khắp môi trường sống; tầng ôzôn bị phá hủy; và mối đe dọa tiềm tàng từ hệ thống sưởi toàn cầu. Ông ủng hộ năng lượng hạt nhân và bảo vệ các ngành công nghiệp hóa chất – những lời cảnh báo của ông ngày càng đậm ý nghĩa của ngày tận thế.

Print Friendly and PDF

6.11.22

Biến đổi khí hậu: những điều cần biết trước hội nghị COP27

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT TRƯỚC HỘI NGHỊ COP27

DIỄN ĐÀN. Nhà kinh tế Christian de Perthuis dựng lên một hiện trạng trước thềm hội nghị lần thứ 27 của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, sẽ khai mạc tại Sharm el-Sheikh vào ngày 6 tháng 11.

Christian de Perthuis[*]

Về CO2 và nitơ oxit, hai loại khí nhà kính, các trữ lượng đo được vào năm 2021 tăng, theo thứ tự, 149% và 124% so với thời kỳ tiền công nghiệp. © MARTIN BERTRAND/Hans Lucas qua AFP

Hội nghị lần thứ 27 của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu sẽ khai mạc tại Sharm el-Sheikh vào ngày 6 tháng 11. Nhiều báo cáo được công bố trước thềm hội nghị cho phép thiết lập hiện trạng mà các nhà đàm phán sẽ đối mặt khi bắt đầu các cuộc thảo luận.

Chính sự gia tăng trữ lượng khí nhà kính (GHG) đã làm nhiệt độ thời tiết trên hành tinh nóng lên. Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc đạt được, càng nhanh càng tốt, sự trung hòa carbon (hay “trung hòa khí hậu”) để ổn định trữ lượng này. Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), ngày 26 tháng 10, đã công bố những dữ liệu gần đây nhất về trữ lượng của ba loại khí nhà kính chính.

Print Friendly and PDF

4.11.22

Tăng trưởng kinh tế ở châu Á: Trung Quốc không còn là đầu tàu, Đông Nam Á và Ấn Độ tiếp nối vai trò đó

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CHÂU Á: TRUNG QUỐC KHÔNG CÒN LÀ ĐẦU TÀU, ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ TIẾP NỐI VAI TRÒ ĐÓ

Hubert Testard

Một nữ công nhân Trung Quốc tại một xưởng dệt ở Hình Đài thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, gần Bắc Kinh. (Nguồn: Asia Times)

IMF và Ngân hàng Thế giới vừa công bố các dự báo kinh tế cho năm nay và năm sau. Ở châu Á, bức tranh được các định chế quốc tế vẽ ra là chưa từng có tiền lệ trong bốn mươi năm qua. Trung Quốc không còn là đầu tàu của nền kinh tế châu Á, Đông Nam Á và Ấn Độ đang tiếp nối vai trò đó một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự suy giảm kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng năng lượng đều có cái giá của chúng. Một số quốc gia ở ngoại vi lục địa châu Á đã không chống đỡ nổi và đang chìm trong khủng hoảng. Để đánh giá bức tranh mới này phải chăng chỉ mang tính tình thế, thì cần phải biết Tập Cận Bình suy nghĩ điều gì trong đầu, và liệu Trung Quốc có khả năng quay trở lại chủ nghĩa thực dụng hay không.

Lời phán của IMF và Ngân hàng Thế giới trong các ước tính của tháng 10 năm 2022 mang tính dứt khoát đối với Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong năm 2022 sẽ không vượt quá 3,2% hoặc 2,8% theo các dự báo tương ứng của hai định chế trên. Các số liệu của quý III vừa được công bố không đặt lại vấn đề về kịch bản này: các con số xác nhận mức tăng trưởng kinh tế ở mức 3% trong 9 tháng đầu năm. Đây là con số gần bằng với mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu, điều này có nghĩa là Trung Quốc không còn ở trong giai đoạn bắt kịp tăng trưởng trong năm 2022, một tình thế mà đế chế trung tâm chưa hề trải nghiệm kể từ năm 1976, dưới thời chủ tịch Mao Trạch Đông. Hai định chế trên dự báo mức tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cho năm 2023 vẫn ở mức kém, khoảng 4,5%. Cùng lúc đó, Đông Nam Á và Ấn Độ đang thể hiện khả năng chịu đựng các cú sốc khi đối mặt với sự suy giảm kinh tế toàn cầu.

Print Friendly and PDF

2.11.22

Vài suy nghĩ về một di sản

VÀI SUY NGHĨ VỀ MỘT DI SẢN

Gregor Johann Mendel, 'cha đẻ của di truyền học hiện đại', ra đời cách đây 200 năm, vào ngày 20 tháng 7 năm 1822. Để kỷ niệm cột mốc quan trọng này, trong ấn bản tháng 7, chúng tôi suy ngẫm về di sản của ông và trách nhiệm của lĩnh vực này xung quanh tiềm năng sử dụng và lạm dụng di truyền học và nghiên cứu bộ gien.

Tháng 7 năm 2022 tới đây là đã qua hai thế kỷ tính từ ngày sinh của Gregor Mendel. Để kỷ niệm cột mốc quan trọng này, hai bài viết trong mục Bình luận [1],[2] và Quan điểm[3] trong số tháng 7 của tạp chí Nature Reviews Genetics sẽ suy ngẫm về công trình của Mendel và một di sản khoa học đã định hình lĩnh vực của chúng ta.

Chân dung Gregor Johann Mendel.
(Do Tu viện Brno Cũ của Dòng Thánh Augustine cung cấp)

Ngoài việc được biết đến như là cha đẻ của di truyền học hiện đại, Mendel thường được coi như một hình mẫu của nhà đổi mới khoa học mà ít ai biết đến vì những ý tưởng của ông không được chấp nhận hoặc công nhận rộng rãi mãi cho đến đầu thế kỷ 20, khoảng 30 năm sau khi công trình của ông trên cây đậu Hà Lan được công bố. Việc khám phá lại các quy luật di truyền của Mendel vào đầu những năm 1900 trùng hợp với sự trỗi dậy của phong trào ưu sinh, phong trào này chiếm lĩnh di truyền học Mendel làm nền tảng khoa học mới, áp dụng sai các sơ đồ trội/lặn để giải thích những đặc điểm, hành vi và năng lực phức tạp của con người. Thuyết ưu sinh sẽ còn tiếp tục hỗ trợ sự phát triển vô số chương trình nghị sự về xã hội và chính trị, bao gồm luật triệt sản và nhập cư của Hoa Kỳ và các chính sách của Đức Quốc xã. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa ưu sinh đã ủng hộ và thúc đẩy Đạo luật Nhập cư Johnson – Reed năm 1924, hạn chế đáng kể sự nhập cư vào Hoa Kỳ từ những quốc gia châu Âu đối với những người dân bị coi là người da màu[4].

Print Friendly and PDF

31.10.22

Thời đại thái cực 1914 (15): Thế Giới Thứ Ba và Cách Mạng

THỜI ĐẠI THÁI CỰC 1914 – 1991 (15)

THE AGE OF EXTREMES

Tác giả: Eric J. Hobsbawm; Người dịch: Nguyễn Ngọc Giao

PTKT: Kể từ tháng 8.2021, chúng tôi lần lượt đăng tiếp các chương còn lại của tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991. Để có một cái nhìn chung giới thiệu tác giả và tác phẩm, mời bạn đọc lại bài Nhà sử học của hai thế kỷ.

MỤC LỤC

Lời tựa và Cảm tạ

Lời tựa bản tiếng Pháp

Hình ảnh minh họa

Chú thích các hình ảnh

Thế kỉ nhìn từ đường chim bay

Phần thứ nhất - THỜI ĐẠI TAI HỌA

chương 1 Thời đại chiến tranh toàn diện

chương 2 Cách mạng thế giới

chương 3 Dưới đáy vực thẳm kinh tế

chương 4 Sự suy sụp của chủ nghĩa liberal

chương 5 Chống kẻ thù chung

chương 6 Nghệ thuật, 1915-1945

chương 7 Sự cáo chung của các Đế chế

Eric J. Hobsbawm (1917-2012)

Phần thứ hai - THỜI ĐẠI HOÀNG KIM

chương 8 Chiến tranh Lạnh

chương 9 Thời đại Hoàng kim

chương 10 Cách mạng xã hội, 1945-1990

chương 11 Cách mạng văn hóa

chương 12 Thế giới thứ Ba

chương 13 “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”

Phần thứ ba: SỤP ĐỔ

chương 14 Những thập niên Khủng hoảng

chương 15 Thế giới thứ Ba và cách mạng

chương 16 Sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội

chương 17 Tiền phong hấp hối: nghệ thuật sau 1950

chương 18 Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành khoa học tự nhiên

chương 19 Tiến tới thiên niên kỉ mới

* * *

Phần thứ ba

SỤP ĐỔ

Chương 15

THẾ GIỚI THỨ BA VÀ CÁCH MẠNG

 

“Tháng giêng năm 1974, trong một cuộc kinh lí thanh tra, trung tướng Beleta Abebe đặt chân tới trại lính ở Gode.[…] Ngày hôm sau, Cung vua nhận được bản báo cáo khó tưởng tượng: tướng Abebe đã bị binh lính bắt giữ, ép buộc ông ta phải nếm một suất ăn của lính tráng. Đồ ăn hôi thối tới mức người ta lo trung tướng sẽ trúng độc mà chết. Hoàng đế [Ethiopia] đã gửi một đơn vị không vận của Đội cận vệ hoàng gia đến Gode giải thoát Abebe và chở trung tướng vào bệnh viện”.

Jyszard KAPUSCINSKI, The Emperor (1983, tr. 130)

“Chúng tôi bắt đầu giết đàn súc vật [của trại thực nghiệm Trường đại học] ra sức giết bao nhiêu thì giết. Nhưng khi chúng tôi đang giết như vậy thì những bà nông dân khóc lóc: mấy con vật này, chúng làm gì nên tội mà giết đi như vậy? Các señoras khóc rống lên, thế là chúng tôi phải buông tay. Nhưng chúng tôi cũng đã giết tới 1/4 đàn súc vật, khoảng 80 con gì đó rồi. Định giết cả đàn, nhưng làm không nổi, nông dân khóc lóc dữ quá.

Chúng tôi còn đứng ngây ra đó một lúc thì có một ông cưỡi ngựa từ Ayacucho tới, chạy đi báo. Ngày hôm sau, đài phát thanh và báo La Voz đều đưa tin. Thế là chúng tôi đi về: có những đồng chí mang theo đài và chúng tôi nghe bản tin. Nghe mà nức lòng, đúng thế không nào?.

Một đội viên trẻ của tổ chức Con đường Sáng,

Tiempos (1990, tr. 198)

 

I

 

Hastings Banda (1898-1997)
Houphouët-Boigny (1905-1993)

Bất luận người ta lí giải ra sao về những biến đổi của Thế giới thứ Ba, về sự phân hóa và rạn nứt tiệm tiến của khu vực này, Thế giới thứ Ba khác Thế giới thứ Nhất trên một điểm cơ bản. Trên thế giới, nó là khu vực của cách mạng – vừa tiến hành cách mạng xong, hay cách mạng đang chín muồi, hay có khả năng bùng nổ. Khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu trên quy mô hoàn cầu, thì Thế giới thứ Nhất nói chung là ổn định về chính trị và xã hội. Còn ở Thế giới thứ Hai, sức cản của đảng Cộng sản và khả năng quân đội Liên Xô can thiệp đã ngăn chận mọi chuyển động ngấm ngầm. Trái lại, kể từ năm 1950 (hay từ ngày thành lập), ít có quốc gia đáng kể nào ở Thế giới thứ Ba lại không trải qua cách mạng – hoặc là đảo chính quân sự nhằm đập tan, ngăn ngừa hay tiến hành cách mạng, hoặc dưới dạng giao tranh nội chiến. Sang đầu thập niên 1990, những biệt lệ chủ yếu là Ấn Độ và vài ba thuộc địa đặt dưới sự thống trị của những nhà độc tài gia trưởng chủ nghĩa như Bác sĩ Hastings Banda ở Malawi (thời thực dân, gọi là Nyasaland), và cho đến năm 1994, Houphouët-Boigny, người hùng tưởng như bất khả xâm phạm của Bờ biển Ngà. Bất ổn định về xã hội và chính trị đã tạo thành mẫu số chung của Thế giới thứ Ba.

Print Friendly and PDF

29.10.22

“Các chiến thuật của rồng” hay chìa khoá của quản trị Trung Quốc

“CÁC CHIẾN THUẬT CỦA RỒNG” HAY CHÌA KHÓA CỦA QUẢN TRỊ TRUNG QUỐC

Hubert Testard

(Nguồn: International Finance)

Làm thế nào để nhận diện và giải thích những thành công của các công ty Trung Quốc? Đó là mục tiêu cuốn sách Dragon Tactics [Các chiến thuật của rồng], một công trình chuyên đề phân tích các phương thức quản lý của Trung Quốc. Được Dunod xuất bản vào tháng 9 năm ngoái, tác giả cuốn sách là hai chuyên gia giỏi về khởi nghiệp và doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc, Sandrine Zerbib và Aldo Spaanjaars. Cả hai tác giả đã sống khoảng ba mươi năm ở đất nước mà họ đã từng là cán bộ điều hành các công ty phương Tây và Trung Quốc, chủ doanh nghiệp và người đứng đầu các công ty tư vấn. Cuộc phỏng vấn với Sandrine Zerbib.

Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc [ĐCSTQ] lần thứ XX sẽ khai mạc vào Chủ nhật này, ngày 16 tháng 10, tại Bắc Kinh. Trong một tuần tiến hành các cuộc họp và bỏ phiếu, các đại biểu và ban lãnh đạo ĐCSTQ sẽ xác định cán cân chính trị của đất nước và bản chất các mối quan hệ với phần còn lại của thế giới trong nhiều năm tới. Cuốn Dragon Tactics có công làm nổi bật tính năng động và tính độc đáo phi thường trong hành động của các doanh nhân Trung Quốc trong ba mươi năm qua. Họ đã và đang tiếp tục đóng góp một phần lớn vào sự thành công kinh tế của đất nước. Điều cũng quan trọng là tìm hiểu phần Trung Quốc khác này, và không tự giới hạn trong việc giải mã các mối quan hệ quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Print Friendly and PDF

27.10.22

Tác phẩm của Annie Ernaux vào thời điểm được quốc tế công nhận

TÁC PHẨM CỦA ANNIE ERNAUX VÀO THỜI ĐIỂM ĐƯỢC QUỐC TẾ CÔNG NHẬN

Tác giả: Elise Hugueny-Léger

Giảng sư, Khoa Ngôn ngữ hiện đại, Đại học St Andrews (Scotland)

Tác giả Annie Ernaux đã nhận được giải thưởng Nobel văn chương ngày 6 tháng 10 năm 2022 cho toàn bộ các tác phẩm của bà. Ảnh chụp ở Cannes tháng năm 2022. Julie Sebadelha/AFP

Annie Ernaux, tác giả của hồi ức cá nhân và tập thể, với những công trình kết hợp tinh tế giữa văn học tự truyện và quan sát xã hội học, đã nhận được giải Nobel văn chương ngày 6 tháng 10 năm 2022.

Ernaux đã xuất bản tiểu thuyết đầu tiên của bà, Les armoires vides - Những cái tủ trống -, vào năm 1974. Trong tiểu thuyết này, bà đã kể lại câu chuyện được hư cấu hóa về việc phá thai bất hợp pháp của bà vào năm 1964, lúc bà còn là sinh viên và đang dần rời xa môi trường sinh trưởng của mình – một gia đình bình dân ở Normandie, cha mẹ lúc đầu là công nhân sau đó chuyển thành tiểu thương. Và ngay c 25 năm sau khi tác phẩm Le Deuxième Sexe – Giới tính thứ hai – của Beauvoir ra đời, xã hội Pháp vẫn còn bị nhào nặn bởi những phán xét đạo lý và đạo đức giả về các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực sinh sản. Với Les armoires vides, Ernaux đã đưa ra tấm kính soi chiếu cho nhiều phụ nữ xuất thân từ tầng lớp bình dân đã phải nhờ đến những cuộc phá thai lén lút có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Với lối hành văn rất từ tốn (mà chính bà cho là “lối viết phẳng lặng” - (hành văn chân thực, giản dị - ND), Annie Ernaux là hình ảnh của một nhà văn không khoan nhượng và trung thực. Trong những năm 1980-1990, bà khẳng định vị trí của mình nhờ những tác phẩm tự truyện như La place - Chỗ đứng -, kể chuyện cuộc đời của cha bà; quyển sách đã đem lại cho bà giải thưởng Renaudot năm 1984. Ngày nay bà được xem là nhà văn nữ quan trọng và các tác phẩm của bà được giảng dạy rộng rãi trong các trường trung học và đại học.

Trong một thời gian dài Annie Ernaux đã không được công chúng trong đa số các nước nói tiếng Anh biết đến – Từ lâu các tác phẩm của bà đã được dịch tại Mỹ, và được nghiên cứu trong giới đại học nói tiếng Anh từ những năm 1980-1990. Nhưng sự bất công này đang được sửa chữa, nhờ bản dịch mới đây của hai trong số tác phẩm quan trọng của bà: Les années - Những năm tháng -, một “tự truyện tập thể” bao quát 6 thập niên lịch sử cá nhân và xã hội, đang là ứng viên giải thưởng quốc tế Man Booker; và L’événement - Biến cố -, trong đó Ernaux trở lại với chủ đề phá thai bất hợp pháp, nhưng lần này dưới hình thức tự truyện.

Print Friendly and PDF

26.10.22

“Văn học là vũ khí chiến đấu”, cuộc trò chuyện với Annie Ernaux

“VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ CHIẾN ĐẤU”, CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI ANNIE ERNAUX

Annie Ernaux vừa nhận giải Nobel Văn học. Để hiểu tác phẩm của bà, độc nhất và mấu chốt, chúng ta phải trở lại xã hội học và đặc biệt là mối quan hệ giữa tác giả của Les Armoires vides/Những Tủ trốngLa Femme gelée/Người đàn bà đóng băng với sự nghiệp của Pierre Bourdieu. Từ cuộc phỏng vấn dài này lộ ra ý tưởng làm nền tảng cho cách tiếp cận của bà với tư cách là một nhà văn: sử dụng sự viết lách như một vũ khí.

Isabelle Charpentier

Câu hỏi về “chỗ đứng/place” xã hội được chỉ định, về sự dịch chuyển trong không gian xã hội và tác động của chúng là trọng tâm của các tác phẩm của bà, nó thậm chí còn được dùng làm tiêu đề của một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất của bà[1]. Vấn đề này, giống như vấn đề “ô nhục xã hội/honte sociale”, phù hợp với mối quan tâm của một số nhà xã hội học…[2]

Tôi có cảm giác rằng thực sự có một con đường tiến song song giữa xã hội học về sự thống trị, nói một cách nhanh chóng, và các công trình của tôi. Tôi nói “công trình” bởi vì viết là công việc [cười]! Giống như các nhà xã hội học mà bạn đề cập, tôi đã được dẫn dắt để viết về vấn đề của sự dịch chuyển trong không gian xã hội giữa thế giới của những kẻ bị thống trị và những gì có thể được gọi là thế giới của những kẻ thống trị, những kẻ thống trị thông qua văn hóa và tri thức. Đây là vấn đề quan trọng nhất đối với tôi. Tôi đã cảm nhận một cách mãnh liệt sự dịch chuyển này. Nhưng khi tôi bắt đầu viết, tôi đã không viết về nó trước. Nó đến sau đó, thông qua một loạt các hoàn cảnh đã tiết lộ cho tôi về vị trí mà tôi chiếm giữ trong thế giới xã hội và về sự dịch chuyển của tôi, nhưng cũng về sự xấu hổ xã hội mà tôi cảm thấy. Ý tưởng về sự ô nhục đến với tôi muộn hơn sau đó. Nó tiềm ẩn trong mọi thứ tôi viết cho đến những năm 1990. Nhưng nó chỉ trở thành chủ đề của một cuốn sách vào năm 1998[3]. Cuộc gặp gỡ với xã hội học phê phán rõ ràng không xa lạ với cách tiếp cận của tôi. Lúc đầu, tôi đã có sự tiếp xúc đầu tiên với ngành này một cách khá mơ hồ khi tham gia các khóa học xã hội học năm 1963-1964 tại Đại học Rouen, nhưng thành thực mà nói, xã hội học – chủ yếu là của Mỹ, Parsons, v.v. – được giảng dạy lúc đó đã không khiến tôi ý thức (mỉm cười) về chính sự dịch chuyển-giáng cấp xã hội của bản thân. Ngay cả khi cách tiếp cận này luôn khó khăn, khi nhìn lại, tôi có thể nói rằng có một tiến trình chậm chạp, từ việc đọc cuốn sách Les Choses/Đồ vật năm 1965 của Pérec, cũng là một thời điểm rất quan trọng vì nó cho tôi một ý tưởng khác về văn học, cho đến khi cuộc gặp gỡ rõ ràng và chính xác vào năm 1972 với hai tác phẩm của Pierre Bourdieu và Jean-Claude Passeron, Les Héritiers/Những kẻ kế thừa[4]La Reproduction/Sự tái sản xuất[5]. Lúc bấy giờ tôi là một cô giáo văn học trẻ, tôi đã viết một cuốn tiểu thuyết không liên quan gì đến xã hội học và vấn đề về vị trí của tôi trong không gian xã hội. Ngoài ra còn có cái chết của cha tôi vào ngày 25 tháng 6 năm 1967, hai tháng sau khi tôi có được Chứng chỉ giảng dạy ở cấp trung học (C.A.P.E.S.), và ngay sau đó, cảm giác phải viết về sự mất mát này. Sự kiện này đã cho phép tôi đột nhiên phát hiện ra rằng tôi đã dịch chuyển sang một thế giới khác, rằng tôi đã rời khỏi thế giới thứ nhất với sự biến mất của cha tôi. Tất nhiên vào thời điểm đó, tất cả những điều này còn cần phải được suy nghĩ, được viết, đó là vấn đề, đó là một cảm giác rất mạnh liệt đối với tôi. Tôi đã bắt đầu viết trong mùa hè sau cái chết của cha tôi về sự dịch chuyển giữa hai thế giới này, về sự tách biệt này, về khoảng cách đặc biệt đã dần rộng ra giữa chúng tôi trong những năm qua, tuy tình cảm gắn bó lẫn nhau không bị đứt đoạn. Tôi bắt đầu từ điểm đến, một giáo viên được chứng nhận, với công việc đầu tiên của tôi vào mùa thu năm 1967 khiến tôi phải đối mặt với các lớp trung học đào tạo nghề B.E.P. về trợ lý-kế toán-thư ký và lớp 6 được cho là tồi, nhận thức về mối liên hệ giữa nguồn gốc xã hội và con đường học vấn xuống cấp, việc thuộc về tầng lớp tiểu tư sản trí thức của tháng 5 năm 68 và sự sôi động của nó, trong đó tôi tham gia không nhiều vì tôi sống ở tỉnh lẻ và đang mang thai… Đó là lúc tôi đọc Les Héritiers, La ReproductionL'Ecole capitaliste en France/Trường học tư sản ở Pháp của Christian Baudelot và Roger Establet[6].

Print Friendly and PDF