THỜI ĐẠI THÁI CỰC 1914 –
1991 (15)
THE AGE OF EXTREMES
Tác giả: Eric J. Hobsbawm; Người dịch: Nguyễn
Ngọc Giao
PTKT: Kể từ tháng 8.2021, chúng tôi lần lượt đăng tiếp các chương
còn lại của tác phẩm Thời đại thái cực 1914-1991. Để có một cái nhìn chung
giới thiệu tác giả và tác phẩm, mời bạn đọc lại bài Nhà sử học của
hai thế kỷ.
MỤC LỤC
Lời tựa và Cảm tạ
Lời tựa bản tiếng
Pháp
Hình
ảnh minh họa
Chú
thích các hình ảnh
Thế kỉ nhìn từ
đường chim bay
Phần thứ nhất - THỜI ĐẠI TAI HỌA
chương 1 Thời đại chiến tranh toàn diện
chương 2 Cách mạng thế giới
chương 3 Dưới đáy vực thẳm kinh tế
chương 4 Sự suy sụp của chủ nghĩa liberal
chương 5 Chống kẻ thù chung
chương 6 Nghệ thuật, 1915-1945
chương 7 Sự cáo chung của các Đế chế
.jpg) |
| Eric J. Hobsbawm (1917-2012) |
Phần thứ hai - THỜI ĐẠI HOÀNG KIM
chương 8 Chiến tranh Lạnh
chương 9 Thời đại Hoàng kim
chương 10 Cách mạng xã hội, 1945-1990
chương 11 Cách mạng văn hóa
chương 12 Thế giới thứ Ba
chương 13 “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn”
Phần thứ ba: SỤP ĐỔ
chương 14 Những thập niên Khủng hoảng
chương
15 Thế giới thứ Ba và cách mạng
chương
16 Sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
chương
17 Tiền phong hấp hối: nghệ thuật sau 1950
chương
18 Phù thủy và đồ đệ tập việc: các ngành
khoa học tự nhiên
chương
19 Tiến tới thiên niên kỉ mới
* * *
Phần thứ ba
SỤP
ĐỔ
Chương 15
THẾ GIỚI
THỨ BA VÀ CÁCH MẠNG
“Tháng giêng năm
1974, trong một cuộc kinh lí thanh tra, trung tướng Beleta Abebe đặt chân tới
trại lính ở Gode.[…] Ngày hôm sau, Cung vua nhận được
bản báo cáo khó tưởng tượng: tướng Abebe đã bị binh lính bắt giữ, ép buộc ông
ta phải nếm một suất ăn của lính tráng. Đồ ăn hôi thối tới mức người ta lo
trung tướng sẽ trúng độc mà chết. Hoàng đế [Ethiopia] đã gửi
một đơn vị không vận của Đội cận vệ hoàng gia đến Gode giải thoát Abebe và chở
trung tướng vào bệnh viện”.
Jyszard
KAPUSCINSKI, The Emperor (1983, tr. 130)
“Chúng tôi bắt đầu
giết đàn súc vật [của trại thực nghiệm Trường đại học] ra sức
giết bao nhiêu thì giết. Nhưng khi chúng tôi đang giết như vậy thì những bà
nông dân khóc lóc: mấy con vật này, chúng làm gì nên tội mà giết đi như vậy?
Các señoras khóc rống lên, thế là chúng tôi phải buông tay. Nhưng chúng tôi
cũng đã giết tới 1/4 đàn súc vật, khoảng 80 con gì đó rồi. Định giết cả đàn,
nhưng làm không nổi, nông dân khóc lóc dữ quá.
Chúng tôi còn đứng
ngây ra đó một lúc thì có một ông cưỡi ngựa từ Ayacucho tới, chạy đi báo. Ngày
hôm sau, đài phát thanh và báo La Voz đều đưa tin. Thế là chúng tôi đi về: có
những đồng chí mang theo đài và chúng tôi nghe bản tin. Nghe mà nức lòng, đúng
thế không nào?”.
Một đội viên trẻ của tổ chức Con
đường Sáng,
Tiempos (1990, tr. 198)
I
.jpg) |
| Hastings Banda (1898-1997) |
.jpg) |
| Houphouët-Boigny (1905-1993) |
Bất luận người ta lí giải ra sao về
những biến đổi của Thế giới thứ Ba, về sự phân hóa và rạn nứt tiệm
tiến của khu vực này, Thế giới thứ Ba khác Thế giới thứ Nhất trên một điểm cơ
bản. Trên thế giới, nó là khu vực của cách mạng – vừa tiến hành cách mạng xong,
hay cách mạng đang chín muồi, hay có khả năng bùng nổ. Khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu trên quy mô hoàn cầu, thì
Thế giới thứ Nhất nói chung là ổn định về chính trị và xã hội. Còn ở Thế giới
thứ Hai, sức cản của đảng Cộng sản và khả năng quân đội Liên Xô can thiệp đã
ngăn chận mọi chuyển động ngấm ngầm. Trái lại, kể từ năm 1950 (hay từ ngày
thành lập), ít có quốc gia đáng kể nào ở Thế giới thứ Ba lại không trải qua
cách mạng – hoặc là đảo chính quân sự nhằm đập tan, ngăn ngừa hay tiến hành
cách mạng, hoặc dưới dạng giao tranh nội chiến. Sang đầu thập niên 1990, những
biệt lệ chủ yếu là Ấn Độ và vài ba thuộc địa đặt dưới sự thống trị của những
nhà độc tài gia trưởng chủ nghĩa như Bác sĩ Hastings Banda ở Malawi (thời thực
dân, gọi là Nyasaland), và cho đến năm 1994, Houphouët-Boigny, người hùng tưởng
như bất khả xâm phạm của Bờ biển Ngà. Bất ổn định về xã hội và chính trị đã tạo
thành mẫu số chung của Thế giới thứ Ba.